ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT TRẦN GIA NINH
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC,
LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC ĐẢM BẢO AN TOÀN,
VỆ SINH THỰC PHẨM
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: GS.TS Hoàng Thị Kim Quế
HÀ NỘI - 2011
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục MỞ ĐẦU
1
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
5
1.1.
Vai trò của đạo đức
23
1.4.2.
Vai trò của pháp luật
26
1.4.2.1.
Pháp luật là cơ sở để thiết lập, củng cố và tăng cường quyền
lực nhà nước
26
1.4.2.2.
Pháp luật là phương tiện để nhà nước quản lý kinh tế xã hội
27
1.4.2.3.
Pháp luật góp phần tạo dựng những quan hệ mới
28
1.4.2.4.
Pháp luật tạo ra môi trường ổn định cho việc thiết lập các
mối quan hệ bang giao giữa các quốc gia
28
Chương 2: MỐI QUAN HỆ GIỮA ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
TRONG NHÀ NƯỚC PHÁP QUYỀN
29
2.1.
Khái quát về Nhà nước pháp quyền
29
2.1.1.
Khái niệm Nhà nước pháp quyền
29
2.1.2.
3.2.1.
Giải pháp tăng cường quản lý xã hội bằng pháp luật
62
3.2.1.1.
Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác pháp chế
63
3.2.1.2.
Đẩy mạnh công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp
luật xã hội chủ nghĩa
64
3.2.1.3.
Tăng cường công tác tổ chức thực hiện pháp luật
64
3.2.1.4.
Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, xử lý nghiêm minh
những hành vi vi phạm pháp luật
65
3.2.2.
Giải pháp ghi nhận đạo đức nhiều hơn vào các văn bản pháp luật
66
3.3.
Giải pháp bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm
71
KẾT LUẬN
81
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
82
2
đề đạo đức trở thành vấn đề cần được quan tâm, chú trọng nhiều hơn. Vấn đề
đặt ra là làm thế nào để đạo đức và Pháp luật thực sự gắn kết với nhau và phát
huy được hiệu quả quản lý xã hội một cách tốt nhất. Với trăn trở đó, tác giả đã lựa
chọn vấn đề: "Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, liên hệ vào lĩnh vực
bảo đảm an toàn, vệ sinh thực phẩm" làm đề tài luận văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật không phải là vấn đề
mới mẻ, tuy nhiên số lượng các công trình nghiên cứu về vấn đề này lại chưa
nhiều, có thể kể đến một số công trình như: "Quyền lực và đạo đức" của
PGS.TS Bùi Đình Phong đăng trên Báo Lao động ngày 19/07/2009; "Quan
điểm mácxít về mối quan hệ Đạo đức - Chính trị - Pháp quyền" của Đỗ Hữu
Nhân, đăng trên Tạp chí Triết học, số ra ngày 07/07/2005; "Các kiểu đạo đức
trong lịch sử, tính kế thừa của sự phát triển đạo đức" của Đoàn Hữu Lượng,
đăng trên Tạp chí Triết học, số ra ngày 14/08/2008; "Quan hệ pháp luật và
đạo đức trong tư tưởng Hồ Chí Minh" của ThS. Trần Nghị - Viện Khoa học
tổ chức nhà nước, Bộ Nội vụ; … Tuy nhiên, các bài viết này chỉ đơn thuần đề
cập tới những nét cơ bản của vấn đề đạo đức và vấn đề pháp luật mà chưa có
công trình nào tập trung nghiên cứu sâu sắc về mối quan hệ giữa đạo đức và
pháp luật.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu đề tài là làm rõ thêm một số vấn đề lý luận cơ
bản về đạo đức và pháp luật, mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật, vai trò
của đạo đức và pháp luật trong đời sống xã hội, thực trạng vấn đề đạo đức và
pháp luật, từ đó thấy được những bất cập của hai vấn đề trên và đưa ra giải
pháp khắc phục những bất cập ấy.
Với mục đích nghiên cứu như vậy, nhiệm vụ nghiên cứu được đặt ra
như sau:
3
- Nêu lên được thực trạng vấn đề đạo đức và pháp luật của nước ta
trong điều kiện nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, đưa ra được dẫn
chứng sinh động nhằm minh họa.
- Đề xuất được một số giải pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả điều
chỉnh xã hội của đạo đức và pháp luật.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề cơ bản về đạo đức và pháp luật.
Chương 2: Mối quan hệ giữa đạo đức và pháp luật trong nhà nước
pháp quyền.
Chương 3: Giải pháp tăng cường quản lý xã hội và đảm bảo vệ sinh an
toàn thực phẩm bằng pháp luật, kết hợp với đạo đức trong bối cảnh xây dựng
nhà nước pháp quyền và hội nhập.
5
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ ĐẠO ĐỨC VÀ PHÁP LUẬT
1.1. Nguồn gốc của đạo đức và pháp luật
Khi tìm hiểu về bất kỳ vấn đề, yếu tố nào trong xã hội, điều trước tiên
cần quan tâm đó là nguồn gốc hình thành, cơ sở của nó. Nhờ đó, ta có được
cái nhìn sơ bộ, tổng quan nhất về sự vật, hiện tượng đồng thời thấy được tiến
trình phát triển của chúng.
1.1.1. Nguồn gốc của đạo đức
* Quan điểm về nguồn gốc đạo đức của các nhà triết học trước Mác:
Trước Mác, Ăngghen, những nhà triết học (kể cả duy tâm và duy vật)
đều rơi vào quan niệm duy tâm khi xem xét vấn đề xã hội và đạo đức. Họ
không thấy được tính quy định của nhân tố kinh tế đối với sự vận động của xã
hội nói chung và đạo đức nói riêng. Do vậy, đạo đức với tính cách là một lĩnh
* Quan điểm mácxít về nguồn gốc của đạo đức:
Khác với tất cả các quan niệm trên, Mác - Ăngghen đã quan niệm đạo đức
nảy sinh do nhu cầu của đời sống xã hội, là kết quả của sự phát triển lịch sử.
Theo Mác, Ăngghen, con người khi sống phải có "quan hệ song
trùng". Một mặt, con người quan hệ với tự nhiên, tác động vào tự nhiên để
thỏa mãn cuộc sống của mình. Tự nhiên không thỏa mãn con người, điều đó
buộc con người phải xông vào tự nhiên để thỏa mãn mình. Mặt khác, khi tác
động vào tự nhiên, con người không thể đơn độc, con người phải quan hệ với
con người để tác động vào tự nhiên. Sự tác động lẫn nhau giữa người và
người là hệ quả của hoạt động vật chất và hoạt động tinh thần mà cơ bản là
hoạt động thực tiễn và hoạt động nhận thức.
7
Khi bàn về vai trò của lao động đối với sự hình thành, tồn tại và phát
triển của xã hội loài người, Mác, Ăngghen cho rằng "lao động là điều kiện cơ
bản đầu tiên của toàn bộ đời sống loài người" [22, tr. 641]. Rằng "người ta
phải ăn, ở, mặc, đi lại trước khi làm chính trị, khoa học, nghệ thuật…" [21, tr. 15].
Xuất phát từ con người thực tiễn, chứ không phải con người thuần túy ý thức
hay con người sinh học, hai ông đi đến quan niệm về phương thức sản xuất
quyết định đối với toàn bộ các hoạt động của con người, xã hội loài người.
Trong "Lời tựa" của tác phẩm "Góp phần phê phán chính trị - kinh tế học",
Mác viết: "Phương thức sản xuất đời sống vật chất quyết định quá trình sinh
hoạt xã hội, chính trị và tinh thần nói chung. Không phải ý thức của con người
quyết định sự tồn tại của họ; trái lại chính sự tồn tại xã hội của họ quyết định
ý thức của họ" [21, tr. 15]. Luận điểm này chính là chìa khóa để khám phá tất
cả các hiện tượng xã hội trong đó có đạo đức.
Như vậy, đạo đức không là sự biểu hiện của một sức mạnh nào đó ở
bên ngoài xã hội, bên ngoài các quan hệ con người; cũng không phải là sự
biểu hiện của những năng lực "tiên thiên", nhất thành bất biến của con người.
Với tư cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức là sản phẩm của những điều
thái ý thức xã hội, là lĩnh vực sản xuất tinh thần của xã hội. Đây là một bước
tiến, làm đạo đức phát triển so với xã hội nguyên thủy. Tuy nhiên, bước phát
triển này cũng làm nảy sinh những cái ác, tham lam, ích kỷ, lừa dối… mà loài
người phải đấu tranh hàng ngàn năm nay để chống lại nó.
Về mặt hình thức, đạo đức của xã hội văn minh đã phát triển vượt bậc.
Do nhận thức của loài người vượt bỏ tư duy cụ thể, chuyển sang xây dựng lý
luận… Nội dung đạo đức được thể hiện dưới hình thức kinh nghiệm, khái
niệm, lý tưởng, chuẩn mực và đánh giá đạo đức, do đó đạo đức ngày càng
phát triển về cấu trúc. Và đến lượt mình, sự hoàn thiện cấu trúc làm cho phản
ánh và điều chỉnh đạo đức trở nên sâu sắc, tự giác. Nội dung của đạo đức
được thể hiện dưới những hình thức cụ thể.
9
Tuy nhiên, trong xã hội có giai cấp, nội dung và hình thức của đạo đức
phát triển nhưng chưa thật nhân đạo, chưa hoàn thiện. Sự hoàn thiện của nội
dung đạo đức (thật sự nhân đạo) chỉ có thể đạt được khi con người chiến
thắng được tình trạng đối kháng giai cấp và tạo ra những điều kiện để có thể
"quên được tình trạng đối kháng giai cấp". Điều kiện đó chỉ có thể bắt đầu có
được bằng đạo đức cộng sản trong xã hội cộng sản mà giai đoạn đầu là xã hội
xã hội chủ nghĩa. Sự hoàn thiện đạo đức được bắt đầu từ đạo đức của giai cấp
công nhân "có nhiều nhân tố hứa hẹn" để dẫn tới một kiểu đạo đức "thật sự có
tính nhân đạo". Như vậy, xã hội cộng sản nguyên thủy với trình độ bắt đầu
làm nảy sinh đạo đức do hoạt động thực tiễn và nhận thức đã phát triển đạo
đức. Xã hội cộng sản chủ nghĩa trong tương lai mà hiện thực hôm nay đang
bắt đầu xây dựng sẽ hoàn thiện đạo đức cả về nội dung lẫn hình thức.
Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, đạo đức sinh ra
trước hết là từ nhu cầu phối hợp hành động trong lao động sản xuất vật chất,
trong đấu tranh xã hội, trong phân phối sản phẩm để con người tồn tại và phát
triển. Cùng với sự phát triển của sản xuất, các quan hệ xã hội, hệ thống các
quan hệ đạo đức, ý thức đạo đức, hành vi đạo đức cũng theo đó mà ngày càng
những quy tắc đó cho phù hợp với lợi ích của nhà nước (tập quán Pháp, án lệ)
Thông qua con đường hoạt động xã hội, nhà nước ban hành các văn
bản pháp luật để điều chỉnh các quan hệ xã hội mới nảy sinh trong thực tế mà
trước đó không có.
Bằng các con đường này, pháp luật được hình thành và thực hiện chức
năng điều chỉnh các quan hệ xã hội theo sự quản lý của nhà nước. Dù được
hình thành bằng con đường nào thì pháp luật cũng thể hiện ý chí của giai cấp
lãnh đạo xã hội, thể hiện bản chất của nhà nước đó và phù hợp với cấu trúc
của nhà nước đó. Cùng với sự phát triển của kinh tế, xã hội, pháp luật ngày
càng được chú trọng và hoàn thiện. Sự hoàn thiện của hệ thống pháp luật thể
11
hiện sự phát triển của một đất nước, nó cũng là tiêu chí đánh giá một xã hội
văn minh.
1.2. Khái niệm đạo đức và pháp luật
1.2.1. Khái niệm đạo đức
Đạo đức là một khái niệm mang tính trừu tượng cao, với mỗi cách
nghĩ, tư tưởng khác nhau sẽ có quan điểm khác nhau về khái niệm đạo đức.
Chỉ riêng trong lĩnh vực triết học đã có nhiều quan điểm khác nhau về khái
niệm đạo đức.
Với Khổng Tử, đạo đức là gốc của con người, nói đến con người trước
hết là nói đến đạo đức. Đúng như thiên "Học Nhi" - sách Luận ngữ đã viết:
"Làm người có nết hiếu, đễ thì ít ai dám xúc phạm bề trên. Không thích xúc phạm
bề trên mà thích làm loạn thì chưa từng có. Người quân tử chăm chú vào việc
gốc, gốc mà vững thì đạo đức sinh ra. Hiếu, đễ là cái gốc của đức nhân " [5, tr. 23].
Trước thời Khổng Tử đã xuất hiện khái niệm quân tử. "Nhưng thời đó nó trỏ
cái địa vị trong xã hội, chứ không trỏ cái phẩm tính con người. Người có phận
cao (tối đại đa số ở trong giai cấp quý tộc) cai trị dân, có đức hay không đều
gọi là quân tử" [6, tr. 12]. Đến thời mình, Khổng Tử đã đề ra những tiêu chuẩn
về tài đức, về tư cách phẩm chất để thành người quân tử đáng được nắm quyền
không làm theo, có lỗi mà không sửa đổi đó là những mối lo của ta".
Như vậy, đức là lời nói đi đôi với việc làm đúng như Khổng Tử đã nói:
"Người xưa thận trọng lời nói, sợ sẽ xấu hổ nếu nói mà không làm được" và
"Người quân tử chậm chạp (thận trọng) về lời nói, mà mau mắn về việc làm".
Đọc "Luận ngữ", chúng ta thấy Khổng Tử nói rất nhiều đến "đức",
nhất là "đức" của người cầm quyền. Song đáng chú ý là Khổng Tử quan niệm
về "đức" không phải như một cái gì biệt lập mà là trong sự thống nhất chặt
chẽ không tách rời với tri thức, tài năng. Quan niệm này thực sự nhất quán từ
Khổng Tử đến các môn đệ của ông. Với Khổng Tử thì "chất phác thẳng thắn
13
văn nhã thì là người quê mùa; văn nhã thẳng thắn chất phác thì là người chép
sử (giữ việc văn thư); văn và chất đều nhau mới là người quân tử" [15, tr. 37]. Là
người hết sức coi trọng đạo đức như vậy đương nhiên, trong hoạt động của
mình Khổng Tử bao giờ cũng hành xử theo đúng những chuẩn mực đạo đức
mà ông tôn thờ, coi trọng và ra sức tuyên truyền nó trong xã hội, cho dù đời
ông như chúng ta biết hết sức long đong, lận đận. Khổng Tử cho rằng: "Người
có đức thì không cô độc, tất có người đồng đạo kết bạn với mình như ở đâu
thì có láng giềng ở đó" [42, tr. 28].
Với ông "sáng được nghe đạo lý, tối chết cũng được (không hận)".
Bởi vậy, lẽ sống của Khổng Tử là "để tâm chí vào đạo, giữ gìn đức hạnh,
nương theo điều nhân, vui với lục nghệ". Chính vì thế mà khi gặp nguy ở
nước Tống bị quan tư mã là Hoàn Khôi tìm cách hãm hại, Khổng Tử thản
nhiên nói: "Trời cho ta có phẩm đức, Hoàn Khôi làm gì được ta", hoặc khi
ông đau nặng, Tử Lộ xin phép cầu đảo, Khổng Tử nói: "Khâu này cầu đảo từ
lâu rồi" (ý nói ăn ở phải đạo thì chẳng cần phải cầu đảo). Thế mới biết ông tin
và coi trọng đạo đức đến mức nào.
Điều dễ nhận thấy là tuy Khổng Tử nói nhiều về "đức", tin vào "đức"
và đề cao về "đức" như vậy, nhưng ông cũng nhận thấy rằng, xã hội thời ông
đang thiếu "đức" một cách nghiêm trọng. Chính là thực tế xã hội và cuộc sống
dân như cỏ. Gió thổi thì cỏ tất rạp xuống" [16, tr. 89]. Khổng Tử từng bảo với
học trò: "Xử kiện thì ta cũng như người khác thôi; phải làm sao (dạy dân phải
biết nghĩa vụ nhường nhịn) cho dân không kiện nhau (thì mới hơn chứ)".
Đọc "Luận ngữ" chúng ta thấy rõ, trước sau Khổng Tử chỉ tin vào đức
chứ không tin vào "hình" bởi "dùng chính lệnh để dẫn dắt dân, dùng hình phạt
để bắt dân vào khuôn phép, dân tránh khỏi tội nhưng không biết hổ thẹn.
Dùng đạo đức để dắt dẫn dân, dùng lễ giáo để đặt dân vào khuôn phép, dân
biết hổ thẹn mà lại theo đường chính". Tin vào "Đức trị" như vậy và cả đời
ôm mộng cứu đời bằng "Đức trị" như Khổng Tử mà không có bậc vua chúa
15
nào dung nạp. Khổng Tử thật sự tin rằng: nếu có ai dùng ông làm quốc chính"
thì một năm kỷ cương đã khá, ba năm sẽ thành công". Tóm lại, với Khổng Tử,
"Đức trị" có sức mạnh vạn năng. Đó là đường lối "dù không ra lệnh dân cũng
theo", như vua Thuấn chỉ kính cẩn đoan trang ngồi trên ngai, chẳng làm gì mà
thiên hạ bình trị.
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, khái niệm đạo đức cũng được đề
cập đến tại Điều 128 Bộ luật Dân sự năm 2005: "Đạo đức xã hội là những
chuẩn mực ứng xử chung giữa người với người trong đời sống xã hội, được
cộng đồng thừa nhận và tôn trọng" [38].
Như vậy, có thể thấy đạo đức được hình thành qua quá trình phát triển
lâu dài của xã hội và phụ thuộc vào sự phát triển của xã hội. Cùng với thời
gian, quan điểm về đạo đức cũng có những biến đổi nhất định sao cho phù
hợp với hoàn cảnh xã hội. Đạo đức không mang tính cưỡng chế, áp đặt và
không phải do Nhà nước đặt ra giống như pháp luật, đạo đức do chính những
cá thể trong xã hội tạo nên và nó được lưu truyền từ thế hệ này qua thế hệ
khác, nó có sức sống mạnh mẽ và được củng cố bởi dư luận xã hội. Trong văn
hóa người Việt nói riêng và văn hóa phương Đông nói chung, dư luận xã hội
và những phong tục, tập quán đôi khi có ảnh hưởng và sức mạnh hơn cả pháp
luật. "Phép vua thua lệ làng" - đây là tư tưởng đã ăn sâu, bám rễ vào tâm trí
Quan niệm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nguồn gốc của đạo đức đã
khẳng định đạo đức không phải từ sự "tiên nghiệm" càng không phải là lực
lượng từ bên ngoài ấn vào xã hội, đạo đức là sản phẩm của xã hội.
Đạo đức là lĩnh vực của quan hệ thật sự con người. Trong khi phát
triển với tính cách là thực thể xã hội, con người lựa chọn và chịu trách nhiệm
với sự lựa chọn, với hậu quả của những sự lựa chọn đối với hành vi ứng xử
người - người. Tự do lựa chọn và sự lựa chọn có trách nhiệm nảy sinh trong
17
quan hệ người - người, trong quan hệ cá nhân và xã hội. Mỗi người chấp nhận
kiểm tra những yêu cầu của xã hội để nhận được sự đánh giá, sự ủng hộ của
xã hội. Còn xã hội thì với những chuẩn mực của nó, yêu cầu các cá nhân điều
chỉnh các hành vi phù hợp với lợi ích của xã hội. Giống như bất kỳ sự vật,
hiện tượng, hình thái nào khác, đạo đức mang bản chất rất riêng giúp phân
biệt nó với các hình thái khác.
* Với tính cách là sự phản ánh tồn tại xã hội, đạo đức mang bản chất
xã hội. Bản chất xã hội của đạo đức được hiểu theo nghĩa:
Nội dung của đạo đức là do hoạt động thực tiễn và tồn tại xã hội
quyết định.
Nhận thức xã hội đem lại các hình thức cụ thể của phản ánh đạo đức, làm
cho đạo đức, tồn tại như một lĩnh vực độc lập về sản xuất tinh thần của xã hội.
Sự hình thành, phát triển, hoàn thành bản chất xã hội của đạo đức được
qui định bởi trình độ phát triển và hoàn thiện của thực tiễn và nhận thức xã
hội của con người. Nói cách khác, nội dung khách quan của các quan niệm,
quan điểm, các nguyên tắc, các chuẩn mực đạo đức chính là biểu hiện của
trạng thái, một trình độ phát triển nhất định của những điều kiện sinh hoạt vật
chất của xã hội, của cơ sở kinh tế.
Việc khẳng định tính qui định của cơ sở kinh tế đối với đạo đức cho
phép nhìn nhận sự biến đổi của đạo đức theo sự biến đổi của cơ sở kinh tế.
Phân tích mối quan hệ giữa cơ sở kinh tế với kiến trúc thượng tầng mà trong
đạo đức chiếm hữu nô lệ, đạo đức phong kiến, đạo đức tư sản và sau đó, đạo đức
Cộng sản chủ nghĩa là những thời đại tiến triển dần dần của đạo đức nhân loại.
* Tính dân tộc:
Cùng với tính thời đại, tính dân tộc là một trong những biểu hiện bản
chất xã hội của đạo đức. Có thể nhìn nhận tính dân tộc như là sự biểu hiện đặc
19
thù tính thời đại của đạo đức trong các dân tộc khác nhau. Không phải các học
thuyết đạo đức trước Mác không thấy sự khác biệt trong đời sống đạo đức của
các dân tộc. Có điều, việc giải thích sự khác biệt ấy hoặc là dựa trên cơ sở tôn
giáo hoặc là dựa trên các quan niệm duy tâm triết học nên không đúng đắn…
Coi đạo đức như là một hình thái ý thức xã hội, các nhà kinh điển
của chủ nghĩa Mác đã đặt cơ sở khoa học cho việc luận chứng tính dân tộc
của đạo đức. Là một hình thái ý thức xã hội, ý thức đạo đức vừa chịu chi
phối bởi tồn tại xã hội, vừa chịu ảnh hưởng của các hình thái ý thức xã hội
khác (chính trị, triết học, nghệ thuật, tôn giáo …). Tổng thể những nhân tố
ấy trong mỗi dân tộc là sự khác biệt nhau, tạo thành bản sắc dân tộc. Bản sắc
ấy được phản ảnh vào đạo đức nên tính độc đáo của các quan niệm, các
chuẩn mực, cách ứng xử đạo đức, nghĩa là tạo nên tính độc đáo trong đời
sống đạo đức của mỗi dân tộc. Nhìn nhận tính độc đáo và sự khác biệt ấy về
mặt dân tộc trong cặp khái niệm cơ bản của đạo đức, cặp khái niệm thiện-ác,
Ph. Ăngghen chỉ ra sự biến đổi của chúng qua các thời đại và dân tộc. Ông
viết: "Từ dân tộc này sang dân tộc khác, từ thời đại này sang thời đại khác,
những quan niệm về thiện và ác đã biến đổi nhiều đến mức chúng thường
trái ngược hẳn nhau".
* Tính giai cấp:
Trong xã hội có giai cấp và đối kháng giai cấp, mỗi giai cấp có vai trò,
địa vị khác nhau trong hệ thống kinh tế, xã hội và do đó mà họ có các lợi ích
khác và đối nghịch nhau. Đạo đức với tư cách là hình thái ý thức xã hội đã
phản ảnh và khẳng định lợi ích của mỗi giai cấp. Ý thức đạo đức giúp mỗi
cấp thống trị không có điều kiện để sản xuất, tuyên truyền và sử dụng đạo đức
của mình trên phạm vi toàn xã hội.
* Tính nhân loại:
Trong xã hội có giai cấp, đạo đức mạng tính giai cấp nhưng không
phải vì vậy mà phủ nhận tính nhân loại chung của đạo đức.
21
Không thể thổi phồng tính nhân loại chung của đạo đức để đi đến
những quan niệm sai lệch về đạo đức trừu tượng, về đạo đức phổ biến phi lịch
sử, chẳng có tác dụng gì trong thực tiễn. Nhưng cũng không được phủ nhận
tính nhân loại của đạo đức. Tính nhân loại của đạo đức tồn tại ở hình thức
thấp là biểu hiện của những quy tắc đơn giản, thông thường nhưng lại cần
thiết để bảo đảm trật tự bình thường cho cuộc sống hàng ngày của con người.
Biểu hiện cao hơn trong tính nhân loại của đạo đức lại ở những giá trị đạo đức
tiến bộ nhất trong từng giai đoạn phát triển của lịch sử những giá trị đạo đức
này thường thường là những giá trị đạt được ở giai cấp tiến bộ nhất trong từng
giai đoạn phát triển của lịch sử nhân loại. Đi đến tột đỉnh các giá trị đạo đức
của giai cấp tiến bộ của từng thời kỳ lịch sử, nhân loại sẽ bắt gặp đạo đức của
mình tương ứng với các thời kỳ lịch sử đó.
1.3.2. Bản chất của pháp luật
Học thuyết Mác - Lênin về nhà nước và pháp luật lần đầu tiên trong
lịch sử, đã giải thích một cách đúng đắn, khoa học về bản chất của pháp luật
và những mối quan hệ của nó và các hiện tượng khác trong xã hội có giai cấp.
Theo học thuyết Mác - Lênin, pháp luật chỉ phát sinh, tồn tại và phát triển
trong xã hội có giai cấp. Bản chất của pháp luật thể hiện ở tính giai cấp của
nó, không có pháp luật tự nhiên hay pháp luật không mang tính giai cấp. Tuy
nhiên, nói như vậy không có nghĩa là pháp luật chỉ có duy nhất tính giai cấp,
pháp luật do Nhà nước, đại diện chính thức của toàn xã hội ban hành nên nó
còn mang tính xã hội.
* Tính giai cấp của pháp luật: