Tiểu luận: Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để nghiên cứu về thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm ở nước ta hiện nay potx - Pdf 12

ĐẠI HỌC QUỐC GIA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
TRƯỜNG ĐẠI HỌCKINH TẾ-LUẬT

TIỂU LUẬN

ĐỀ TÀI: Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức để
nghiên cứu về thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm ở nước
ta hiện nay.

Giảng viên hướng dẫn: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG
Sinh viên thực hiện : TRẦN NGUYÊN THIỆU
Lớp : K11401
KHÓA : 11

Thành phố Hồ Chí Minh ngày 25 tháng 03 năm 2013

MỤC LỤC
Lời mở đầu 3
Nội dung 4
I. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất và ý thức và mối quan hệ giữa vật chất và ý thức
4
1) VẬT CHẤT 4
2) Ý THỨC 8
3) MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC 14
4) Ý NGHĨA CỦA PHƯƠNG PHÁP LUẬN 15
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việcđảm bảo vệ sinh an toàn thực
phẩm ở nước ta hiện nay 16
1) NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM 16

là muốn kiểm soát VSATTP, nhất thiết phải siết chặt quản lý trên mọi “mặt trận",
đồng thời có sự liên kết, hỗ trợ giữa các “mặt trận", các lực lượng với nhau.Các
giải pháp giải quyết vấn đề này đang được đặt ra rất cấp bách.
Trên tình hình này, tôi xin chọn đề tài “vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và
ý thức để nghiên cứu về thực trạng an toàn vệ sinh thực phẩm ở nước ta
hiện nay”.

Nội dung
I. Quan điểm duy vật biện chứng về vật chất và ý thức và mối quan hệ giữa
vật chất và ý thức
1)VẬT CHẤT
Theo lênin: “vật chất là phạm trù triết học dùng để chỉ thực tại khách quan
được đem lại cho con người trong cảm giác, được cảm giác của chúng ta chép lại,
chụp lại, phản ánh và tồn tại không lệ thuộc vào cảm giác”.
Theo định nghĩa này:
Thứ nhất, cần phải phân biệt “vật chất” với tư cách là phạm trù triết học
với những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất. vật chất với tư cách là phạm trù
triết học là kết quả của sự khái quát hóa, trừu tượng hóa những thuộc tính, những
mối liên hệ vốn có của các sự vật, hiện tượng nên nó phản ánh cái chung, vô hạn,
vô tận, không sinh ra, không mất đi; còn tấc cả những sự vật, những hiện tượng là
những dạng biểu hiện cụ thể của vật chất nên nó có quá trình phát sinh, phát
triển, chuyển hóa. Vì vậy, không thể đồng nhất vật chất với một hay một số dạng
tồn tại cụ thể của vật chất.
Thứ hai, thuộc tính quan trọng nhất của vật chất là thực tại khách quan, tức
là thuộc tính tồn tại ngoài ý thức, độc lập, không phụ thuộc vào ý thức của con
người, cho dù con người có nhận thức được hay không nhận thức được nó.
Thứ ba, vật chất (dưới hình thức tồn tại cụ thể của nó) là cái có thể gây nên
cảm giác ở con người khi nó trực tiếp hay gián tiếp tác động đến giác quan của
con người; ý thức của con người là sự phản ánh đối với vật chất, còn vật chất là
cái được ý thức phản ánh.

khoa học ở thời đại mình, Ph. Ăngghen đã phân chia sự vận động thành năm hình
thức vận động cơ bản từ thấp đến cao: vận động cơ giới, vận động vật lí, vận động
hóa, vận động sinh vật, vận động xã hội. trong đó hình thức vận động cao xuất hiện
trên cơ sở các hình thức vận động thấp và bao hàm trong đó những hình thức vận
động thấp hơn. Trong sự tồn tại của mình, mỗi sự vật có thể có nhiều hình thức
vận động khác nhau song bản thân nó bao giờ cũng được đặc trưng bởi một hình
thức vận động nhất định.
Bằng việc phân loại các hình thức vận động cơ bản, Ph. Ăngghen đã đặt cơ
sở cho việc phân loại, phân ngành, hợp loại, hợp thành khoa học.Tư tưởng về sự
thống nhất nhưng khác nhau về chất của các hình thức vận động cơ bản còn là cơ
sở để chống lại khuynh hướng đánh đồng các hình thức vận động hoặc quy hình
thức vận động này vào hình thức vận động khác trong quá trình nhân thức.
Khi khẳng định vận động là phương thức tồn tại của vật chất, là thuộc tính
cố hữu của vật chất; chủ nghĩa duy vật biện chứng cũng đã khẳng định vận động
là tuyệt đối, là vĩnh viễn.điều này không có nghĩa chủ nghĩa duy vật biện chứng
phủ nhận sự đứng im, cân bằng. Đứng im, cân bằng chỉ là hiện tượng tương đối,
tạm thời và thực chất đứng im, cân bằng chỉ là một trạng thái đặc biệt của vận
động; đó là vận động trong thế cân bằng, ổn định; vận động chưa làm thay đổi cơ
bản về chất, về vị trí, hình dáng, kết cấu của sự vật.
 Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất
Mọi dạng cụ thể của vật chất đều tồn tại ở một vị trí nhất định, có một
quảng tính (chiều dài, chiều cao, chiều rộng) nhất định và tồn tại trong các mối
quan hệ nhất định (trước hay sau, trên hay dưới, bên phải hay bên trái) với
những dạng vật khác. Những hình thức tồn tại như vậy được gọi là không gian.
Mặc khác, sự tồn tại của sự vật còn được thể hiện ở quá trình biến đổi: nhanh hay
chậm, kế tiếp và chuyển hóa: những hình thức tồn tại như vậy được gọi là thời
gian. Không gian, thời gian là những hình thức tồn tại của vật chất.
Như vậy, vật chất, không gian, thời gian không tách rời nhau; không có vật
chất tồn tại ngoài không gian và thời gian; cũng không có không gian và thời gian
tồn tại ngoài vật chất vận động.

người tiếp tục nhận thức về tính đa dạng ấy để thực hiện quá trình cải tạo hợp
quy luật.
2) Ý THỨC
Trong lịch sử triết học, vấn đề nguồn gốc, bản chất, kết cấu và vai trò của ý
thức luôn là một trong những vấn đề trung tâm của cuộc đấu tranh giữa chủ
nghĩa duy vật và chủ nghĩa duy tâm. Trên cơ sở những thành tựu của triết học
duy vật, của khoa học, của thực tiễn xã hội, triết học Mác-Lênin góp phần làm
sáng tỏ những vấn đề trên.
Về khái niệm, ý thức là toàn bộ những hoạt động tinh thần của con người,
bao gồm những tri thức, kinh nghiệm, những trạng thái tình cảm, ước muốn, hi
vọng, ý chí niềm tin,… của con người trong cuộc sống. Ý thức là sản phẩm của quá
trình phát triển của tự nhiên và lịch sử-xã hội, là kết quả của quá trình phản ánh
thế giới hiện thực khách quan vào trong đầu óc của con người.
a) Nguồn gốc của ý thức
Ý thức có hai ngồn gốc là nguồn gốc tự nhiên và nguồn gốc xã hội:
 Nguồn gốc tự nhiên
Ý thức thể hiện qua sự hình thành của bộ óc con người và hoạt động của bộ
óc đó cùng mối quan hệ của con người với thế giới khách quan; trong đó, thế giới
khách quan tác động đến bộ óc con người tạo ra quá trình phản ánh năng động,
sáng tạo.
Ý thức là thuộc tính của một dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc con
người, là chức năng của bộ óc, là kết quả hoạt động sinh lí thần kinh của bộ óc. Bộ
óc càng hoàn thiện, hoạt động sinh lí của bộ óc càng có hiệu quả, ý thức của con
người càng phong phú và sâu sắc. Bộ óc bị tổn thương thì sinh lí thần kinh của
con người sẽ không bình thường, năng lực của nhận thức, của tư duy và đời sống
tinh thần của con người cũng sẽ bị rối loạn.
Quan hệ giữa con người với thế giới khách quan là quan hệ tất yếu ngay từ
khi con người xuất hiện. Trong mối quan hệ này, thế giới khách quan thông qua
các hoạt động của các giác quan đã tác động đến bộ óc con người, hình thành nên
quá trình phản ánh.

nghĩa của thông tin. Sự phản ánh năng động sáng tạo này được goi là ý thức.
Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào những điều kiện tự nhiên để giải thích sự ra đời
của ý thức thì chỉ là điều kiện cần, vì nếu chỉ với những tác động tự nhiên giới hạn
trong một con người, thì ý thức chỉ có thể tồn tại trong một thế hệ. Như vậy
không thể giải thích được làm thế nào ý thức lại có quá trình vận động và phát
triển, đồng thời lại hết sức đa dạng, phức tạp không kém gì so với thế giới vật
chất.
Theo quan điểm của chủ nghĩa Lênin, ngoài nguồn gốc tự nhiên, sự ra đời của
ý thức còn chịu nhiều tác động của nhân tố xã hội.
 Nguồn gốc xã hội
Lao động và ngôn ngữ, hai yếu tố này vừa là nguồn gốc, vừa là tiền đề
quyết định sự ra đời ý thức.
Lao động là quá trình con người sử dụng các công cụ tác động vào giới tự
nhiên nhằm thay đổi giới tự nhiên cho phù hợp với nhu cầu của con người. Trong
quá trình lao động, con người tác động vào thế giới khách quan làm cho thế giới
khách quan bộc lộ thuộc tính, những kết cấu, những quy luật vận động còn ẩn
dấu,… nhằm thỏa mãn nhu cầu của mình. Qua quá trình lao động cùng với lao
động các giác quan của con người ngày càng phát triển, từ những “tia ý thức đầu
tiên” con người đã có được kho tàng tri thức nói riêng và ý thức nói chung.
Ngôn ngữ là hệ thống tín hiệu vật chất chứa đựng thông tin mang nội dung
ý thức. Sự ra đời của ngôn ngữ gắn liền với lao động. Lao động ngay từ đầu đã
mang tính tập thể. Mối quan hệ giữa các thành viên trong lao động nảy sinh ở họ
nhu cầu phải có phương tiện để biểu đạt. Nhu cầu này làm ngôn ngữ nảy sinh và
phát triển ngay trong quá trình lao động. Nhờ ngôn ngữ con người không chỉ giao
tiếp, trao đổi mà còn khái quát, tổng kết, đúc kết thực tiễn, truyền đạt kinh
nghiệm từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Như vậy, nguồn gốc trực tiếp quan trọng nhất quyết định sự ra đời và phát
triển của ý thức là lao động, “… sau lao động và đồng thời với lao động là ngôn
ngữ; đó là hai chất kích thích chủ yếu đã làm cho bộ óc vượn dần dần chuyển
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

các yếu tố hợp thành và theo chiều sâu của nội tâm.
Theo các yếu tố hợp thành
Tri thức là toàn bộ những hiểu biết của con người, là kết quả của quá trình
nhận thức, là sự tái tạo lại hình ảnh của đối tượng nhận thức dưới dạng các loại
ngôn ngữ.
Mọi biểu hiện của ý thức đều chứa đựng nội dung của tri thức. Tri thức là
phương thức tồn tại của ý thức là điều kiện để ý thức phát triển. Mọi hoạt động
của con người đều có tri thức, được tri thức định hướng.
Căn cứ vào lĩnh vực nhận thức, tri thức có thể chia thành nhiều loại tri thức
về tự nhiên, tri thức về xã hội, tri thức nhân văn… căn cứ vào trình độ phát triển
của nhận thức, tri thức có thể chia thành tri thức đời thường và tri thức khoa học,
tri thức kinh nghiệm và tri thức lý luận, tri thức cảm tính và tri thức lý tính…
Tình cảm là những rung động biểu hiện thái độ của con người trong các
quan hệ. Tình cảm là một hình thái đặc biệt của sự phản ánh hiện thực, được hình
thành từ sự khái quát những cảm xúc cụ thể của con người khi chịu sự tác động
của ngoại cảnh.Tình cảm biểu hiện và phát triển trong mọi lĩnh vực đời sống của
con người; là một yếu tố phát huy sức mạnh, một động lực thúc đẩy hoạt động
nhận thức và thực tiễn.
Tùy vào từng đối tượng nhận thức và sự rung động của con người về đối
tượng đó trong các quan hệ mà hình thành nên các loại tình cảm khác nhau như:
tình cảm đạo đức, tình cảm thẩm mỹ, tình cảm tôn giáo,…
Ý chí là khả năng huy động sức mạnh bản thân để vượt qua những cản trở
trong quá trình thực hiện mục đích của con người.Ý chí được coi là mặt năng
động của ý thức, một biểu hiện của ý thức trong thực tiễn mà ở đó con người tự
giác được mục đích của hành động nên tự đấu tranh với ngoại cảnh để thực hiện
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 13

đến cùng mục đích đã lựa chọn. Có thể coi ý chí là quyền lực của con người đối

mà những chuẩn mực xã hội do con người đặt ra được thực hiện một cách tự
nhiên. Ngoài ra, một số lĩnh vực văn hóa, nghệ thực, nhiều tác phẩm nghệ thuật có
những nội dung và hình thức độc đáo tưởng như “bay bổng” khỏi thế giới hiện
thực được ra đời do tác động của vô thức.
3)MỐI QUAN HỆ BIỆN CHỨNG GIỮA VẬT CHẤT VÀ Ý THỨC
a) Vai trò của vật chất đối với ý thức
Vật chất là cái có trước, ý thức là cái có sau; vật chất quyết định sự xuất
hiện, nội dung, sự biến đổi của ý thức:
Ý thức chỉ có thể có ở dạng vật chất có tổ chức cao là bộ óc người, bản thân
bộ óc người cũng là sản phẩm của quá trình tiến hóa của thế giới vật chất.
Ý thức là cái phản ánh thế giới vật chất, là hình ảnh là thế giới vật chất.Nội
dung của ý thức được quyết định bởi vật chất. Sự vận động và phát triển của ý
thức, hình thức biểu hiện của ý thức bị các quy luật sinh học, các quy luật xã hội
và sự tác động của môi trường sống quyết định.
Vật chất không chỉ quyết định nội dung mà còn quyết định cả hình thức biểu
hiện cũng như mọi sự biến đổi của ý thức.
b) Vai trò của ý thức đối với vật chất
Ý thức có thể tác động trở lại vật chất thông qua hoạt động thực tiễn của con
người.
Bản thân ý thức tự nó không trực tiếp thay đổi được hiện thực. Muốn thay
đổi hiện thực con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Muốn thay đổi
hiện thực con người phải tiến hành những hoạt động vật chất. Song, mọi hoạt
động của con người đều do ý thức chỉ đạo, do đó vai trò của ý thức không phải
trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 15

thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định mục tiêu, đề ra
phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, phương

có sự thống nhất hữu cơ giữa tính khoa học và tính nhân văn trong định hướng
hành động.
Thực hiện nguyên tắc tôn trọng khách quan, phát huy tính năng động chủ
quan trong nhận thức và thực tiễn đòi hỏi phải phòng chống và khắc phục bệnh
chủ quan duy ý chí; đó là những hành động lấy ý chí áp đặt thực tế, lấy ảo tưởng
thay cho hiện thực, lấy ý muốn chủ quan làm chính sách, lấy tình cảm làm điểm
xuất phát cho chiến lược, sách lược… đây cũng là quá trình chống chủ nghĩa kinh
nghiệm, xem thường tri thức khoa học, xem thương lí luận, bảo thủ, trì truệ, thụ
động… trong hoạt động nhận thức và thực tiễn.
II. Vận dụng mối quan hệ giữa vật chất và ý thức trong việcđảm bảo vệ
sinh an toàn thực phẩm ở nước ta hiện nay

1) NHỮNG KHÁI NIỆM VỀ AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM

* Thực phẩm:
Là những thức ăn, đồ uống của con người dưới dạng tươi sống hoặc đã qua
sơ chế, chế biến; bao gồm cả đồ uống, nhai, ngậm và các chất đã được sử dụng
trong sản xuất, chế biến thực phẩm.
* Vệ sinh thực phẩm:
Là mọi điều kiện và biện pháp cần thiết để đảm bảo sự an toàn và phù hợp
của thực phẩm ở mọi khâu thuộc chu trình thực phẩm.
* An toàn thực phẩm:
Là sự đảm bảo thực phẩm không gây hại cho người tiêu dùng khi nó được
chuẩn bị và/hoặc ăn theo mục đích sử dụng.
* Định nghĩa vệ sinh an toàn thực phẩm:
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 17

Vệ sinh an toàn thực phẩm là tất cả mọi điều kiện, biện pháp cần thiết từ

quốc tế. Để cạnh tranh trên thị trường quốc tế, thực phẩm không những cần được
sản xuất, chế biến, bảo quản phòng tránh ô nhiễm các loại vi sinh vật mà còn
không được chứa các chất hóa học tổng hợp hay tự nhiên vượt quá mức quy định
cho phép của tiêu chuẩn quốc tế hoặc quốc gia, gây ảnh hưởng đến sức khỏe
người tiêu dùng.
Những thiệt hại khi không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm gây nên
nhiều hậu quả khác nhau, từ bệnh cấp tính, mãn tính đến tử vong. Thiệt hại chính
do các bệnh gây ra từ thực phẩm đối với cá nhân là chi phí khám bệnh, phục hồi
sức khỏe, chi phí do phải chăm sóc người bệnh, sự mất thu nhập do phải nghỉ làm
… Đối với nhà sản xuất, đó là những chi phí do phải thu hồi, lưu giữ sản phẩm, hủy
hoặc loại bỏ sản phẩm, những thiệt hại do mất lợi nhuận do thông tin quảng cáo …
và thiệt hại lớn nhất là mất lòng tin của người tiêu dùng. Ngoài ra còn có các thiệt
hại khác như phải điều tra, khảo sát, phân tích, kiểm tra độc hại, giải quyết hậu
quả …
Do vậy, vấn đề đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm để phòng các bệnh gây
ra từ thực phẩm có ý nghĩa thực tế rất quan trọng trong sự phát triển kinh tế và xã
hội, bảo vệ môi trường sống của các nước đã và đang phát triển, cũng như nước ta.
Mục tiêu đầu tiên của vệ sinh an toàn thực phẩm là đảm bảo cho người ăn tránh bị
ngộ độc do ăn phải thức ăn bị ô nhiễm hoặc có chất độc; thực phẩm phải đảm bảo
lành và sạch.

3) NHỮNG THÁCH THỨC VÀ THỰC TRẠNG AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
a) Thách thức
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 19

Khó khăn, thách thức lớn nhất hiện nay trong công tác bảo đảm ATVSTP
của Việt Nam, đó là: Hệ thống tổ chức quản lý chưa thống nhất, chưa đủ mạnh;

phương trong cả nước đã triển khai xây dựng được 645 mô hình thức ăn đường
phố, 150 mô hình chợ điểm, 270 mô hình bếp ăn tập thể, 41 mô hình bảo đảm vệ
sinh an toàn thực phẩm tại khu du lịch
Đạt được những kết quả trên là nhờ công tác ban hành văn bản quy phạm
pháp luật được chú trọng, tạo hành lang pháp lý để phục vụ công tác quản lý;Hệ
thống tổ chức Chi cục An toàn vệ sinh thực phẩm được đã thành lập đang từng
bước được tăng cường và củng cố;Công tác thanh tra, kiểm tra đã ngăn chặn và
xử lý nhiều vi phạm về vệ sinh an toàn thực phẩm góp phần đưa doanh nghiệp đi
dần vào khuôn khổ của pháp luật;Công tác tuyên truyền giáo dục được đẩy mạnh,
tạo thói quên để cộng đồng quan tâm đến vấn đề chất lượng vệ sinh an toàn thực
phẩm; Kiến thức thực hành về vệ sinh an toàn thực phẩm của các nhóm đối
tượng, cán bộ quản lý, người sản xuất, kinh doanh thực phẩm, người tiêu dùng
thực phẩm được nâng cao, đồng thời hạn chế thực phẩm kém chất lượng lưu
thông trên thị trường.
Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được vẫn còn những tồn tại mà để
khắc phục nó không còn cách nào khác là phải nhìn vào thực trạng như: Ngộ độc
thực phẩm ở các bếp ăn tập thể, các khu công nghiệp, công trường, bệnh viện,
trường học đang có chiều hướng gia tăng. Riêng năm 2009, có 152 vụ ngộ độc
thực phẩm với 5.212 người mắc, 35 trường hợp tử vong, tỷ lệ người mắc ngộ độc
thực phẩm trung bình là 6,08/100.000 dân, tỷ lệ người tử vong là 0,04/100.000
dân. Thực phẩm nhập lậu qua biên giới diễn biến phức tạp, khó kiểm soát. Thực
phẩm giả, thực phẩm kém chất lượng, thực phẩm nhập lậu qua biên giới chưa
được kiểm soát chặt chẽ, còn lưu thông trên thị trường.
Trong năm qua, tình trạng sản xuất rượu không đảm bảo có xu hướng gia
tăng, kiểm tra an toàn thực phẩm các loại hoa quả chưa được triển khai. Việc ô
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 21

nhiễm vi sinh vật và các hoá chất độc hại trên nông sản, nguyên liệu, phụ gia thực

lượng, bình ổn giá…”. Ngoài ra còn treo bằng kỹ thuật viên để đánh lừa khách
sinh viên. Nhưng đằng sau cái mác và nhiều bảng hiệu “đẹp” ấy là thế giới của sự
nhơ nhớp; các loại chén đĩa tại quán đều được rửa qua loa cho kịp khách ăn. Rồi
thực phẩm của quán chẳng biết có sạch hay không mà khi ăn mùi “thum thủm”.
Để lừa sinh viên tất cả các món ăn đều được nhuộm màu thật mát mắt, ăn xong có
tác dụng “đau bụng” liền.
Thượng khách sinh viên đến quán này đông như vậy cũng bởi chiêu quảng
cáo rất hay, đồng thời khi sinh viên đến ăn còn được món rau sống miễn phí.
Nhưng nhìn tận mắt rổ rau xà lách, diếp cá, rau má, tía tô… đã úa, nát, khiến
chúng ta không phát sợ không dám ăn khi nghĩ tới cảnh về nhà phải mua thuốc
“xổ” sẵn. “Hậu trường” của quán, rau được vứt trong sọt, đổ ngổn ngang trên nền
đất cạnh ngay bếp củi, rồi nhặt, rửa vội vàng qua hai lần nước
Tương tự ở nhiều quán gần trường ĐH Khoa học Tự nhiên, đồ ăn được chế
biến tại chỗ trước mặt sinh viên. Đầu bếp chiên sườn, cá, trứng… trên chảo dầu
đen kịt. Cạnh bên, chồng bát đĩa chất đống, rải rác các loại thịt, cá, rau, cơm thừa
đổ tràn lan và bốc mùi kinh khủng.

4)NGUYÊN NHÂN CỦA VIỆC MẤT AN TOÀN VỆ SINH THỰC PHẨM
a) Trong khâu sản xuất
Thực phẩm có nguồn gốc từ gia súc, gia cầm bị bệnh hoặc thủy sản sống ở
nguồn nước bị nhiễm bẩn.Các loại rau, quả được bón quá nhiều phân hóa học, sử
dụng thuốc trừ sâu không cho phép hoặc cho phép nhưng không đúng về liều
lượng hay thời gian cách ly. Cây trồng ở vùng đất bị ô nhiễm hoặc tưới phân tươi
hay nước thải bẩn. Sử dụng các chất kích thích tăng trưởng, thuốc kháng sinh.
b) Quá trình chế biến, bảo quản
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 23

 Quá trình giết mổ, chế biến gia súc, gia cầm, quá trình thu hái lương thực, rau,

VSATTP để xét cấp); việc quy định một đám tiệc có quy mô trên 200 người thì do
cấp huyện trở lên cấp giấy, nhưng những lễ hội cấp xã, ấp thường trên 200 người
mà cán bộ cấp huyện không thể nào quản lý được, còn cấp xã, ấp thì không có
thẩm quyền quản lý; những đám tiệc của các tổ chức xã hội, tôn giáo (nhà thờ,
đình, chùa) không xin phép mà cán bộ chuyên ngành cũng không thể có đủ số
lượng để thanh tra, kiểm tra hết; những thử nghiệm cho kết quả ngay (test
nhanh) thì không đủ cơ sở pháp lý để xử phạt và xử lý ngay, nhằm tránh ngộ độc
thực phẩm xảy ra, còn chờ kết quả chính thức (thường dài ngày) thì thực phẩm
đã được tiêu thụ hết; mức xử lý vi phạm còn chưa phù hợp với quy mô của cơ sở
và còn rất nhiều bất cập khác cần được điều chỉnh, bổ sung hợp lý.
Về tổ chức bộ máy, chưa có một hệ thống tổ chức làm công tác VSATTP thống
nhất từ Trung ương đến địa phương, chưa có mạng lưới thanh tra chuyên ngành
về VSATTP. Tại Mỹ có Cơ quan Kiểm soát Thực phẩm và Dược phẩm (CDC), Trung
Quốc cũng có cơ quan tương tự. Còn tại Việt Nam, hiện có tới 5 Bộ quản lý về
VSATTP gồm: Bộ Y tế, Bộ Công thương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn,
Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường và UBND các cấp, dẫn
đến một thực trạng không có cơ quan nào chịu trách nhiệm chính khi có vấn đề
về VSATTP. Đối với tuyến tỉnh, các tỉnh đã thành lập Chi cục An toàn vệ sinh thực
phẩm trực thuộc Sở Y tế, nhưng do văn bản hướng dẫn của trung ương không quy
định thống nhất về biên chế của chi cục, nên mỗi tỉnh có mô hình tổ chức và số
lượng biên chế khác nhau, mặc dù khối lượng công tác giữa các tỉnh không khác
nhau bao nhiêu. Cán bộ sang Chi cục ATVSTP làm nhiệm vụ không được hưởng
phụ cấp ưu đãi ngành. Còn tuyến huyện, xã vẫn chưa có quy định về tổ chức bộ
máy và cán bộ chuyên trách trong khi nội dung và khối lượng công tác trên lĩnh
vực VSATTP là rất lớn, lại thực hiện chủ yếu tại cơ sở. Đây là một nghịch lý ai
cũng thấy rõ, nhưng vẫn chưa có biện pháp nào để giải quyết phù hợp, triệt để. Về
cơ sở làm việc và trang thiết bị kiểm nghiệm phục vụ mảng công tác này được
GVHD: Th.S NGUYỄN THỊ KIM CHUNG

SV: TRẦN NGUYÊN THIỆU 25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status