Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay - Pdf 25



ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THÚY HẰNG
MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC
- LIÊN HỆ VÀO LĨNH VỰC KINH DOANH
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


8
1.2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực
kinh doanh
10
1.2.1. Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
10
1.2.2. Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và
đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh
12
1.2.2.1. Đạo đức giúp lấp đầy những “khoảng trống” của pháp luật
12
1.2.2.2. Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp
14
1.2.2.3. Pháp luật và đạo đức về cơ bản có sự thống nhất
16
1.2.2.4. Tuân thủ pháp luật là một trong những con đường hình
thành thói quen đạo đức
19
1.2.2.5. Tự nguyện tuân thủ pháp luật là một trong những
nguyên tắc cơ bản của đạo đức
20 Chương 2. SỰ THỂ HIỆN CỦA MỐI QUAN HỆ GIỮA PHÁP
LUẬT VÀ ĐẠO ĐỨC TRONG THỰC TIỄN PHÁP
LUẬT VÀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY
23
2.1. Sự cần thiết của việc xem xét mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức trong thực tiễn pháp luật và hoạt động kinh doanh ở Việt

không lành mạnh, độc quyền
42
2.2.3. Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
45 2.2.3.1. í nghĩa phân tích
45
2.2.3.2. Thc trng tuõn th phỏp lut v o c kinh doanh
trong vic bo v quyn li ngi tiờu dựng Vit
Nam hin nay
45
2.2.3.3. Nguyờn nhõn ca hin tng ngi tiờu dựng Vit Nam
cha thc s c tụn trng
48
2.2.4. Bo v ngi lao ng
49
2.2.4.1. í nghĩa phân tích
49
2.2.4.2. Hin trng thc hin phỏp lut lao ng ca cỏc c s
kinh doanh
50
2.2.4.3. Nguyờn nhõn ca hin tng vi phm trỏch nhim ca
ch s dng lao ng
55
2.2.5. Bo v mụi trng
59
2.2.5.1. í ngha phõn tớch
59
2.2.5.2. Thực trạng ứng xử đối vỡi môi trờng

của doanh nghiệp
72
3.2.4. Khơi dậy tinh thần toàn dân kinh doanh vì mục tiêu dân giàu
- nước mạnh
76
3.2.5. Tăng cường phổ biến, giáo dục pháp luật và đạo đức, đặc
biệt là đào tạo các nhà kinh doanh tương lai vừa có đủ đạo
đức vừa có khả năng mang lại hiệu quả kinh tế
77
3.2.6. Phát huy vai trò của các hiệp hội trong việc khuyến khích
kinh doanh có đạo đức, hợp pháp và nâng cao tính cộng
đồng của doanh nhân Việt Nam
78
KẾT LUẬN
81
TÀI LIỆU THAM KHẢO
83
1
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

K‎ý hiệu các chữ viết tắt
Chữ viết đầy đủ
- XHCN
xã hội chủ nghĩa
- TNHH
trách nhiệm hữu hạn
- BHXH

ra khuôn mẫu bắt buộc và không bị răn đe bởi các chế tài thì con người ắt có
xử sự không đúng đắn? Nhưng tại sao pháp luật ngày càng chặt chẽ mà tội
phạm lại ngày càng gia tăng, xã hội ngày một phức tạp? Như vậy có phải khi
pháp luật lên ngôi cũng có nghĩa là đạo đức đã xuống cấp hay không?
Hãy nhìn vào một trong những lĩnh vực nóng bỏng hiện nay là kinh
doanh. Tại sao đã qua 20 năm đổi mới theo cơ chế thị trường chúng ta vẫn
chưa có một cộng đồng doanh nhân đích thực, chưa hoàn toàn có một cái nhìn
thực sự thiện cảm về giới kinh doanh? Tại sao những con người làm nên tâm
điểm của định hướng mà chúng ta đang theo đuổi lại vẫn còn bị gọi một cách
miệt thị là “con buôn” - một danh từ mà khi sử dụng như tính từ thì nó dùng
để chỉ những ai có bản tính tham lam, trí trá, lật lọng, sẵn sàng vì đồng tiền
hay lợi ích cá nhân của mình mà chà đạp lên lợi ích của người khác?
Tuy nhiên, dù đặt ngược vấn đề như thế nào thì khi nhìn nhận lại một
cách nghiêm túc, không ai có thể phủ nhận vai trò của mối quan hệ tương tác
giữa pháp luật và đạo đức. Xã hội không thể tồn tại một ngày mà thiếu đi sự
điều chỉnh của hai loại quy phạm này vì đó là nhu cầu mang tính tất yếu. Liên
hệ vào lĩnh vực kinh doanh, chúng ta đều phải thừa nhận một cách khách
quan rằng: vượt ra khỏi phạm vi ảnh hưởng tới những chủ thể tham gia trực
tiếp trong quan hệ kinh doanh, hành vi vi phạm pháp luật và hành xử trái đạo
đức trong kinh doanh còn có khả năng gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến nền
kinh tế, chính trị, xã hội, môi trường Và chừng nào pháp luật cùng với đạo
đức chưa là tôn chỉ trong hành động của các nhà kinh doanh thì nền kinh tế
thị trường mà chúng ta đang xây dựng chưa thể phát triển lành mạnh. 3
Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài: “Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
- liên hệ vào lĩnh vực kinh doanh ở Việt Nam hiện nay”, về mặt lý luận cũng
như qua đánh giá thực tiễn để tìm ra bản chất vai trò của mối quan hệ giữa
pháp luật và đạo đức, tìm ra nguyên nhân vì đâu mà đôi khi vai trò đó lại bị

hiệu quả kinh doanh.
- Phác thảo những nét cơ bản về thực thực tiễn pháp luật và đạo đức
trong kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, chỉ ra những nguyên nhân của các
hiện tượng được phản ánh và đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao ý thức
pháp luật, tạo dựng thói quen hành xử theo đạo đức cho các chủ thể kinh
doanh.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận án nghiên cứu những vấn đề lý luận về mối quan hệ giữa pháp
luật và đạo đức nói chung và trong kinh doanh nói riêng; khảo sát và đánh giá
thực trạng hệ thống pháp luật, nhận thức và ý thức chấp hành pháp luật, thực
hành đạo đức nói chung và ở lĩnh vực kinh doanh nói riêng trong xã hội Việt
Nam hiện nay.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng Mác-xít; quan điểm của
Đảng và Nhà nước về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa…
Các phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, so sánh… được sử
dụng để phân tích các số liệu, các ví dụ thực tế trong thực tiễn pháp luật và
đạo đức kinh doanh ở Việt Nam hiện nay, từ đó đưa ra các nhận định và đề
xuất các giải pháp để phát huy tính tích cực của mối quan hệ giữa pháp luật 5
và đạo đức trên thực tế, nâng cao ý thức và thói quen hành xử theo pháp luật
và đạo đức trong hoạt động kinh doanh ở nước ta.
6. ‎Ý nghĩa của luận văn
Luận văn được thực hiện trong bối cảnh nước ta đang xây dựng nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập ngày càng sâu
rộng hơn vào đời sống kinh tế thế giới. Bối cảnh đó đòi hỏi các nhà làm luật,

thời liên hệ vấn đề đó vào lĩnh vực kinh doanh, chúng tôi muốn khái quát
những nội dung cơ bản nhất về các khái niệm này, coi đó là cái gốc đề nhìn
nhận một cách tổng thể, rộng hơn, khái quát hơn về tầm điều chỉnh của pháp
luật và đạo đức trong các quan hệ xã hội nói chung và trong kinh doanh nói
riêng.
1.1. Các khái niệm cơ bản
1.1.1. Pháp luật và pháp luật kinh doanh
1.1.1.1. Khái niệm pháp luật
Có nhiều cách định nghĩa khác nhau về khái niệm pháp luật, nhưng một
cách chung nhất, trên cơ sở khái quát những thuộc tính và chức năng cơ bản
nhất, pháp luật được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự mang tính bắt buộc
chung do nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận thể hiện ý chí của giai cấp thống trị
trên cơ sở ghi nhận các nhu cầu về lợi ích của toàn xã hội, được đảm bảo thực
hiện bằng nhà nước nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội với mục đích trật tự
và ổn định xã hội vì sự phát triển bền vững của xã hội [38, tr. 288].
1.1.1.2. Khái niệm pháp luật kinh doanh
Là một bộ phận quan trọng của hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật
kinh doanh được hiểu là hệ thống các quy tắc xử sự có tính bắt buộc chung do
nhà nước ban hành, hoặc thừa nhận và đảm bảo thực hiện để điều chỉnh hành
vi của các chủ thể trong quan hệ kinh doanh. 7
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật kinh doanh - quan hệ kinh doanh -
là quan hệ giữa các chủ thể trong quá trình thực hiện hoạt động kinh doanh.
Hoạt động đó, theo định nghĩa tại khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm
2005, “là việc thực hiện một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình
đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị
trường nhằm mục đích sinh lợi”.
Như vậy, kinh doanh là một khái niệm rất rộng. Với mục đích tìm kiếm

có thể hiểu là cái lẽ về việc thiện, là những chuẩn mực, những quy tắc, những
quan niệm hình thành trong xã hội về lẽ sống, về “tốt” - “xấu”, về “thiện” -
“ác”, về lương tâm, về danh dự Đạo đức có phạm vi điều chỉnh rất rộng, ở
nhiều mức độ khác nhau và hầu như bao khắp các lĩnh vực của đời sống xã
hội.
1.1.2.2. Khái niệm đạo đức kinh doanh:
“Đạo đức kinh doanh” (business ethics) cũng được xây dựng trên
những nền tảng cơ bản của đạo đức nói chung. Nó là “tập hợp các nguyên tắc,
các chuẩn mực điều chỉnh và kiểm soát hành vi kinh doanh của một cá nhân,
một nhóm người hay một nhóm ngành nghề nhất định” [36, tr. 9].
Những nguyên tắc nền tảng của đạo đức kinh doanh bao gồm:
- Nguyên tắc rèn luyện tính quan tâm đúng mức;
- Nguyên tắc bí mật;
- Nguyên tắc trung thành với những trách nhiệm đặc biệt;
- Nguyên tắc tránh sự xuất hiện xung đột về quyền lợi;
- Nguyên tắc tự nguyện tuân thủ pháp luật;
- Nguyên tắc hành động có thiện chí trong các cuộc đàm phán;
- Nguyên tắc tôn trọng hạnh phúc của mọi người;
- Nguyên tắc tôn trọng quyền tự do và các quyền hạn hợp pháp khác
[36, tr. 45-46]. 9
Đạo đức trong kinh doanh được nhìn nhận ở tất cả các mối quan hệ
phát sinh trong quá trình kinh doanh của một doanh nghiệp: quan hệ giữa
doanh nghiệp với đối thủ cạnh tranh, giữa doanh nghiệp với khách hàng, giữa
doanh nghiệp với nhà nước trong việc thực hiện nghĩa vụ, quan hệ giữa các cổ
đông, các thành viên công ty với nhau, quan hệ giữa người sử dụng lao động
và người lao động, cách hành xử của doanh nghiệp đối với môi trường…
Bên cạnh đó, đạo đức kinh doanh cũng có thể hiểu một cách rộng hơn,

nhưng vẫn đảm bảo bên bán có lãi. Xét dưới góc độ đạo đức hàng ngày, hành
động của bên bán là không hoàn toàn phù hợp với đạo đức vì anh ta đã cố tình
“nói thách”, muốn bên mua chịu thiệt nhiều hơn để tối đa hoá lợi nhuận cho
mình. Song trong kinh doanh, chuyện mặc cả, thương lượng để đạt tới một cái
giá thuận mua vừa bán là một cách hành xử hết sức bình thường (trừ khi nói
thách thái quá, lừa dối về giá trị hay ép giá…). Có nghĩa dưới góc độ đạo đức
kinh doanh thì việc nâng khống giá lên một chút cũng chưa thể bị đánh giá là
phi đạo đức. Bản thân bên bán cũng như bên mua hoàn toàn biết rõ và chấp
nhận điều ấy.
Ví dụ trên cho thấy rằng, quan niệm đạo đức trong kinh doanh có
những tiêu chuẩn riêng mà đôi khi chúng ta không thể lấy những khuôn khổ
tuyệt đối để áp đặt cho nó. Để đánh giá một hành vi, một quyết định là phù
hợp hay không phù hợp với đạo đức kinh doanh, chúng ta cần xem xét trên cơ
sở những chuẩn mực đạo đức chung kết hợp với đặc thù của nghề nghiệp này.
Nói như Montesquieu: “Tinh thần thương mại tạo cho con người một ý thức
về công bằng đúng mức. Một mặt nó phản đối cướp bóc, mặt khác nó phản
đối đạo đức đơn thuần khiến người ta không muốn tranh chấp gay gắt về
mình mà sao nhãng lợi ích người khác” [27, tr. 168].
1.2. Mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức - liên hệ trong lĩnh vực
kinh doanh 11
1.2.1. Tính chất của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo đức
Pháp luật và đạo đức xét dưới giác độ xã hội đều tồn tại dưới dạng ý
thức xã hội, thuộc kiến trúc thượng tầng và do cơ sở hạ tầng quyết định. Giữa
pháp luật và đạo đức có mối quan hệ biện chứng. Chúng là hai khái niệm độc
lập với nhiều điểm khác biệt, nhưng với tư cách là hai loại quy phạm xã hội
quan trọng nhất trong việc điều chỉnh hành vi của mỗi con người, pháp luật và
đạo đức về cơ bản chúng vẫn hướng tới những chuẩn mực chung.

sức làm cho người ta tuân theo” [Mạnh Tử, Ly lâu - Thượng 1, dẫn theo 29,
tr. 35]. Trải qua hàng ngàn năm lịch sử, pháp luật và đạo đức vẫn luôn tồn tại
và khẳng định sức mạnh, tầm quan trọng của mình trong đời sống xã hội loài
người, không cái nào triệt tiêu cái nào. Thậm chí, bước qua dần những rào cản
về giai cấp, cùng với sự hoàn thiện theo hướng công bằng, bình đẳng của
pháp luật và sự biến chuyển của các quan niệm đạo đức hiện đại, càng ngày
pháp luật và đạo đức càng tiến đến gần nhau hơn trong tiêu chí đánh giá hành
vi và bổ sung, hỗ trợ đắc lực cho nhau hơn khi điều chỉnh hành vi của con
người - bằng chính những sự khác biệt của mình. Không thể đánh giá đạo
đức và pháp luật cái nào quan trọng hơn và có sức mạnh hơn cái nào, đơn
giản vì chúng mang trong mình những sức mạnh khác nhau và hai sức mạnh
đó chỉ phát huy hết giá trị của mình trong mối quan hệ biện chứng với nhau.
Nói cách khác, “cái chân lý tạo ra động lực phát triển đồng thời là triết lý phát
triển không phải ở một bên đạo đức hay pháp luật mà chính là ở mối quan hệ
biện chứng giữa đạo đức và pháp luật” [29, tr. 38].
1.2.2. Những biểu hiện cụ thể của mối quan hệ giữa pháp luật và đạo
đức - liên hệ trong lĩnh vực kinh doanh
Một cách cụ thể, mối quan hệ biện chứng giữa pháp luật và đạo đức
được biểu hiện trên những khía cạnh sau: 13
1.2.2.1 Đạo đức giúp lấp đầy những “khoảng trống” của pháp luật
Như đã khẳng định ở trên, pháp luật chỉ điều chỉnh hành vi của con
người trong những loại quan hệ xã hội quan trọng nhất để duy trì trật tự và sự
phát triển bình thường của xã hội, nhưng đạo đức đi vào từ suy nghĩ đến hành
vi trong mọi ngóc ngách của cuộc sống con người ở mọi lĩnh vực. Có nhiều
lĩnh vực mà pháp luật không điều chỉnh được nhưng vẫn có quy phạm đạo
đức điều chỉnh, đặc biệt trong những vấn đề liên quan đến tình cảm như quan
hệ thầy trò, tình bạn, tình yêu… hay những quy tắc trong giao tiếp, ứng xử…

chỉnh như thế nào và ở mức độ ra sao…
Thêm vào đó, pháp luật đôi khi chỉ phản ánh những tiêu chuẩn thấp
nhất của đạo đức trong kinh doanh [36, tr. 11]. Vì vậy, một số hành vi thực tế
xét trên phương diện đạo đức thì rất khó được chấp nhận, nhưng xét trên
phương diện pháp lý lại không có gì vi phạm. Ví dụ: quyền sở hữu công
nghiệp chỉ được bảo hộ giới hạn trong phạm vi lãnh thổ quốc gia hoặc theo
điều ước quốc tế mà một nước ký kết hoặc tham gia. Đó là lý do khiến cho
một số công ty Việt Nam bị xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ (như tên thương
mại và kiểu dáng công nghiệp) tại quốc gia khác. Với tư cách là chủ nhân thật
sự của những sản phẩm trí tuệ đó, các công ty Việt Nam có thể bảo rằng họ
(những kẻ dám “ăn cắp” thương hiệu) chơi xấu - ai cũng thừa nhận như vậy,
chúng ta có thể kiện - không ai ngăn cản quyền đó, nhưng chúng ta lại không
thể thắng - đơn giản vì sản phẩm của chúng ta chưa được bảo hộ ở các quốc
gia này theo quy định của pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu công nghiệp.
Tóm lại, bản thân phát luật không thể dự liệu hết được những tình
huống có thể phát sinh trên thực tế, hoặc vì lý do này lý do khác mà không thể
đáp ứng được khát vọng về sự công bằng cho tất cả mọi người, bởi thế mới
nảy sinh hiện tượng "lách luật". Hành vi "lách luật" có thể gây hậu quả xấu,
xâm phạm lợi ích của người khác nhưng về nguyên tắc nhà nước không thể 15
xử lý vì không có quy phạm pháp luật điều chỉnh. Khi đó, điều ngăn chặn chủ
thể kinh doanh có những hành vi gây hại không gì khác chính là đạo đức của
họ. Dư luận xã hội, sự tẩy chay của người tiêu dùng hay sự bất hợp tác của
những người vốn “cùng hội cùng thuyền” cộng với những dằn vặt về mặt nội
tâm… chính là cái giá mà nhà kinh doanh phải gánh chịu khi bỏ qua những
giá trị đạo đức.
1.2.2.2. Pháp luật ghi nhận và bảo vệ các giá trị đạo đức tốt đẹp
Có một thực tế tất yếu là những nguyên tắc đạo đức được “luật hoá”

thi hành. Tuy nhiên, sức mạnh “cưỡng chế” của đạo đức lại nằm ở một
phương diện khác, đó là dư luận xã hội và sự tác động của lương tâm - tức là
cả tác động bên ngoài và sự thúc giục bên trong. Vì lý do trên mà không hiếm
khi con người có xu hướng chống lại các quy phạm pháp luật, nhưng lại dễ
dàng chịu khuất phục trước một nguyên tắc đạo đức hết sức bình thường vì
đơn giản họ đã lớn lên với tiềm thức và được giáo dục về nguyên tắc đạo đức
đó trước khi biết đến các quy phạm mà nhà nước bắt buộc họ phải thực hiện.
Thứ ba, sự xói mòn của ý thức đạo đức trong xã hội hiện đại.
Đây là một câu chuyện rất cũ và được nói nhiều từ khi nền kinh tế nước
ta chuyển từ cơ chế tập trung bao cấp sang vận hành theo cơ chế thị trường.
Một số người coi đó là “chi phí cơ hội”, tức là thứ “lợi nhuận” bị mất một
cách đương nhiên khi chúng ta lựa chọn con đường phát triển kinh tế và như
vậy hành vi của con người bị điều chỉnh bởi yếu tố lợi ích nhiều hơn là động
cơ đạo đức. Dễ dàng nhận thấy nếu không được bảo vệ bằng một cơ chế có
sức cưỡng chế hữu hình hơn thì những giá trị đạo đức tốt đẹp dần dần sẽ bị
xâm phạm không thương tiếc và để lại những hậu quả đáng tiếc về nhiều mặt
cho xã hội.
Thứ tư, nhận thức của nhà làm luật về nhu cầu ghi nhận các giá trị đạo
đức tốt đẹp trong các quy phạm pháp luật. 17
Tuyệt đại đa số các nguyên tắc đạo đức được gìn giữ đến thời điểm
hiện tại đều có tính chất tốt đẹp và vì thế nó không dễ dàng trở nên cũ kỹ hay
lạc hậu theo thời gian. Nếu những chuẩn mực đạo đức được lồng vào các quy
phạm pháp luật thì quy phạm đó sẽ có sức sống lâu bền, được thực hiện một
cách tự nguyện, tự giác. Ở đâu pháp luật được thực hiện một cách tự nguyện,
tự giác thì ở đó chi phí cho việc thực hiện pháp luật sẽ giảm đi đáng kể. Việc
ghi nhận các giá trị đạo đức trong các quy phạm pháp luật xuất phát chính từ
sự nhận thức của nhà làm luật về những giá trị tốt đẹp và sức mạnh to lớn của

Bộ luật hình sự. Nếu đứng trên phương diện đạo đức, cách xử sự này hoàn
toàn có thể được thông cảm, nhưng đứng trên phương diện ý thức công dân
(cụ thể ở đây là sự tôn trọng pháp luật) thì lại không thể tha thứ. Sự mâu
thuẫn này giữa pháp luật và đạo đức truyền thống được l‎ý giải bởi nguyên tắc
pháp luật luôn phải được xây dựng trên cơ sở bảo vệ lợi ích chung và áp dụng
công bằng với tất cả mọi người. Cái “tình” là cái không thể bỏ qua, nhưng
không phải là cái chi phối tuyệt đối khi xây dựng luật.
Khi xem xét trong lĩnh vực kinh doanh, chúng ta có thể nhận thấy tính
thống nhất giữa pháp luật và đạo đức đã được khẳng định một cách cao độ và
biểu hiện thành một vấn đề mang tính nguyên tắc, đó là tự nguyện tuân thủ
pháp luật là một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của đạo đức kinh doanh.
Tuy nhiên, khi khẳng định như vậy cũng cần lưu ý rằng kể cả trong
trường hợp pháp luật hoàn toàn phù hợp với đạo đức thì việc làm theo đúng
pháp luật chưa phải lúc nào cũng là có đạo đức, tức là không thể đồng nhất
một hành vi hợp pháp với một hành vi đạo đức. Bởi lẽ, hành vi hợp pháp tồn
tại dưới nhiều dạng. Dựa vào thái độ tâm l‎ý bên trong của con người đối với
hành vi của mình, có thể chia làm ba dạng hành vi hợp pháp cơ bản sau đây:
hành vi hợp pháp dựa trên lòng tin sâu sắc của mình vào tính cần thiết và tính
hợp lý của việc điều chỉnh bằng pháp luật; hành vi hợp pháp dựa trên sự phục 19
tùng các mệnh lệnh pháp luật mà bản thân không ý thức đầy đủ, toàn diện và
sâu sắc về các mệnh lệnh ấy; hành vi hợp pháp dựa trên sự tác động cưỡng
bức hoặc sự sợ hãi” [23, tr. 147-148]. Ở dạng thứ nhất, hành vi hợp pháp cũng
đồng nghĩa với hành vi đạo đức (trong điều kiện pháp luật phù hợp với đạo
đức). Ở dạng thứ hai và thứ ba thì hành vi đạo đức không đồng thời là hành vi
đạo đức, vì nó không xuất phát từ sự nhiệt tình hành động gắn với nhận thức
đầy đủ của chủ thể về nghĩa vụ pháp lý của mình.
Có thể thấy động cơ đơn giản nhất của chủ thể kinh doanh khi thực hiện

Thói quen là hành vi ứng xử của một người được lặp đi lặp lại nhiều lần
trong một loại hoàn cảnh nhất định và trở thành phương thức ứng xử mang
tính thường xuyên, ổn định của người đó khi gặp hoàn cảnh tương tự.
Một thói quen có thể được hình thành bằng nhiều cách khác nhau, về cơ
bản chia làm hai xu hướng: thói quen hình thành một cách tự nguyện, tự giác
và thói quen hình thành do bị cưỡng chế, bắt buộc lâu dần trở thành hành vi tự
nguyện.
Tuy nhiên, “thói quen không phải đơn thuần là phép cộng của các phản
xạ có tính liên kết với nhau của chủ thể” trong hành vi mà còn bao gồm cả tư
duy - cảm xúc [26; tr. 75]. Sự điều chỉnh của pháp luật đến hành vi của các
chủ thể kinh doanh để hình thành thói quen hành động hợp pháp chính là sự
tác động đến nhận thức của chủ thể về các chuẩn mực của pháp luật phù hợp
với các giá trị đạo đức xã hội.
Tính bắt buộc chung và đảm bảo bằng quyền lực nhà nước là một ưu
thế của pháp luật so với đạo đức. Ngay cả những nghĩa vụ đạo đức cơ bản
nhất, có tính nguyên tắc, không thể thiếu trong việc tạo nên một môi trường
kinh doanh, một môi trường xã hội lành mạnh, chẳng hạn như nộp thuế vào
ngân sách nhà nước, đảm bảo cân đối giữa thời giờ làm việc và thời giờ nghỉ
ngơi cho người lao động, tôn trọng đối thủ cạnh tranh, tôn trọng với khách

Trích đoạn nghĩa của việc tuõn thủ cỏc nguyờn tắc đạo đức và phỏp luật trong kinh doanh Thực tiễn phỏp luật và đạo đức trong hoạt động kinh doan hở Việt Nam hiện nay Khuyến khớch việc cam kết và thực hiện trỏch nhiệm xó hội của doanh nghiệp Tăng cường phổ biến, giỏo dục phỏp luật và đạo đức, đặc biệt là đào tạo cỏc nhà kinh doanh tương lai vừa cú đủ đạo đức vừa cú khả Phỏt huy vai trũ của cỏc hiệp hội trong việc khuyến khớch kinh doanh cú đạo đức, hợp phỏp và nõng cao tớnh cộng đồng của doanh nhõn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status