LUẬN VĂN: Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Vi phạm phỏp luật phũng, chống bạo
lực gia đỡnh đối với phụ nữ ở Việt
Nam hiện nay Phần mở đầu



dụng trong suốt cuộc đời mà những kẻ lạm dụng thường là chồng và bạn tình. Bạo lực gia
đình đang trở thành vấn đề phổ biến có quy mô của một đại dịch và là một biểu hiện của
các mối quan hệ bất bình đẳng giữa nam và nữ trên toàn thế giới, là nguyên nhân dẫn đến
tử vong và làm mất khả năng của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bạo lực gia đình đã và
đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng, là sự vi phạm thô bạo các quyền con người.
Chính tính nguy hiểm và tác hại của bạo lực gia đình mà vấn đề bạo lực gia đình
tại Việt Nam đã được Luật hoá, được đặt dưới sự kiểm soát của pháp luật. Bạo lực gia đình
là vi phạm pháp luật. ở Việt Nam, vấn đề phòng chống bạo lực gia đình được Đảng và Nhà
nước ta đặc biệt quan tâm. Điều này được thể hiện trong các chính sách của Đảng và các
quy định của pháp luật. Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định : "Công dân nữ và nam có
quyền ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và gia đình, nghiêm cấm
mọi hành vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ".
Thể chế hoá quy định của Hiến pháp năm 1992, việc bảo vệ phụ nữ khỏi các hình
thức bạo lực gia đình được quy định cụ thể, chi tiết trong nhiều văn bản pháp luật khác như
Luật Hôn nhân gia đình; Bộ Luật Hình sự; Luật Bình đẳng giới; Luật Phòng chống bạo lực
gia đình Mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều cố gắng trong việc phòng chống bạo
lực gia đình, để các quy định pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình được thực thi
trong đời sống xã hội nhưng trên thực tế, tình trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo
lực gia đình vẫn diễn ra thường xuyên ở nhiều nơi. Thống kê của Bộ Văn hoá - Thể thao và
Du lịch, Tổng cục thống kê và Quỹ nhi đồng LHQ công bố ngày 26/6/2008 với điều tra của
93 ngàn hộ gia đình trên khắp mọi miền đất nước thì có tới 21,2% cặp vợ chồng đã trải qua
một hình thức bạo lực gia đình như đánh, mắng, nhục mạ, ép quan hệ tình dục và như vậy
cứ 5 cặp vợ chồng thì đã có một cặp đã có hình thức bạo lực gia đình.
Vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đã để lại nhiều hậu quả xấu cho
xã hội, trước hết là vi phạm đến quyền con người, danh dự, nhân phẩm và tính mạng của
mỗi cá nhân, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Theo báo cáo của Bộ Công an, trên toàn quốc cứ
2 đến 3 ngày có một người bị giết liên quan đến bạo lực gia đình. Trong năm 2005, có 14%
số vụ giết người liên quan đến bạo lực gia đình. Ba tháng đầu năm 2006, tỷ lệ này đã lên
tới 30,5%. Theo thống kê của ngành Toà án, trong 5 năm từ 2000 đến 2005 cả nước có

ở nước ta, phòng chống bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới và được quy định
cụ thể ở Hiến pháp và pháp luật. Điều 63, Hiến pháp 92 quy định: "nghiêm cấm mọi hành
vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ". Điều 107, Luật Hôn nhân và gia đình
năm 2000 quy định: "Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến danh dự, nhân phẩm, uy tín của nhau" và gần đây nhất, Luật Bình đẳng giới và Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình đã được ban hành.
Trên thực tế, đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về bạo lực gia đình. Nhiều
công trình khoa học trong và ngoài nước nghiên cứu về vấn đề này đã được công bố như :
"Luật phòng chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới" (tài liệu dịch của Uỷ
ban các vấn đề xã hội của Quốc hội); "Bạo lực trên cơ sở giới tính ở Việt Nam" của Ngân
hàng thế giới năm 1999; "Bạo lực trên cơ sở giới" của TS. Vũ Mạnh Lợi, Vũ Tuấn Huy,
Nguyễn Hữu Minh năm 1999; "Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam" của Hội Liên
hiệp phụ nữ Việt Nam năm 2001; "Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nước ta
hiện nay- Thực trạng, vấn đề và giải pháp" của Viện nghiên cứu quyền con người - Học
viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ Chí Minh năm 2008; "Nhận thức và thái độ của
cộng đồng đối với bạo lực gia đình - đề xuất và giải pháp" do TS. Nguyễn Thế Hùng, Phó
chủ nhiệm Uỷ ban DS - GĐ - TE Hà Nội và PGS. TS. Nguyễn Trí Dũng, Phó Viện trưởng
Viện Xã hội học và Tâm lý lãnh đạo, quản lý, Học viện chính trị - hành chính Quốc gia Hồ
Chí Minh; Báo cáo "Ngăn chặn bạo hành trong gia đình: Phổ biến tài liệu tư vấn chống bạo
hành gia đình cho các cộng sự ở nông thôn" của tác giả Lê Thị Phương Mai
Các công trình nêu trên chủ yếu là các tài liệu dịch từ tiếng nước ngoài nhằm giới
thiệu về Luật phòng chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới; nghiên cứu giới
thiệu một số khía cạnh như thực trạng bạo lực gia đình, một số vấn đề đặt ra về phòng
chống bạo lực gia đình trên thế giới cũng như ở Việt Nam.
Tuy nhiên nghiên cứu một cách có hệ thống vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình
dưới góc độ pháp lý - vi phạm pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở
nước ta đến nay hầu như chưa có. Trong khi đó, tình trạng vi phạm pháp luật về phòng,
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ diễn ra ngày càng nhiều với tính chất và mức độ

đẩy lùi hiện tượng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong
xã hội.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu:
Với mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu như đã trình bày ở trên, luận văn xác định
đối tượng nghiên cứu là các hành vi trái pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình trong việc
phòng ngừa, phát hiện, ngăn chặn, xử lý các vụ bạo lực gia đình mà nạn nhân của vụ bạo
lực gia đình chỉ là phụ nữ trên cơ sở lý luận chung về Nhà nước- pháp luật và pháp luật
thực định. 4.2. Phạm vi nghiên cứu của luận văn
Luận văn nghiên cứu vi phạm pháp luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ trong phạm vi cả nước từ năm 2000 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận văn
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và
chủ nghĩa duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng và Nhà nước,
pháp luật về bình đẳng giới, pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả sử dụng phương pháp biện chứng, lịch sử, so
sánh, phân tích, tổng hợp và điều tra xã hội học.
6. Đóng góp mới về khoa học của luận văn
- Xây dựng lý luận về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ
nữ.
- Hệ thống hoá, phân tích thực trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ.
- Đề xuất những giải pháp nhằm đấu tranh, hạn chế, tiến tới đẩy lùi vi phạm pháp
luật trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

mục đích, động cơ tuân thủ pháp luật thì vi phạm pháp luật là những hành vi của các chủ
thể trái với pháp luật, làm ngược lại những gì pháp luật đặt ra, yêu cầu. Vi phạm pháp luật
xâm hại đến lợi ích vật chất và tinh thần của Nhà nước, của xã hội và của nhân dân.
Vi phạm pháp luật là cơ sở duy nhất phát sinh trách nhiệm pháp lý. Không có vi
phạm pháp luật thì không có trách nhiệm pháp lý.
Từ những phân tích trên đây, ta có khái niệm: Vi phạm pháp luật là hành vi trái
pháp luật do người có năng lực trách nhiệm pháp lý thực hiện, bởi lỗi cố ý hoặc vô ý, xâm
hại tới các quan hệ xã hội được pháp luật bảo vệ.
1.1.2. Đặc điểm vi phạm pháp luật.
Đặc điểm của vi phạm pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định về bản
chất của vi phạm pháp luật, từ đó góp phần đề ra những biện pháp hữu hiệu để đấu tranh
phòng và chống vi phạm pháp luật trong xã hội ta hiện nay.
Thứ nhất: vi phạm pháp luật luôn là hành vi (hành động hoặc không hành động)
có tính xác định của con người. Như ta đã biết các quy định của pháp luật được đặt ra là để điều chỉnh các hành vi
của con người. C.Mác đã viết: Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối
với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó. Cho nên vi phạm pháp luật trước
hết phải là hành vi của con người hoặc là hoạt động của các cơ quan nhà nước, các tổ chức
xã hội (các chủ thể pháp luật). Vi phạm pháp luật phải biểu hiện bằng hành vi cụ thể của
con người (hành động có ý thức và ý chí của con người). Vì vậy mà một người dù có ý
nghĩ xấu như thế nào đi chăng nữa nếu không biểu hiện bằng hành động cụ thể thì không
phải là vi phạm pháp luật.
Như vậy, vi phạm pháp luật trước hết phải được thể hiện bằng hành vi cụ thể của
con người mà không phải là những tư tưởng, ý nghĩ, ý niệm. Bởi lẽ, trên thực tế, chúng ta
không thể dùng các quy phạm pháp luật để điều chỉnh, kiểm tra, đánh giá những ý nghĩ của
con người.
Hành vi vi phạm pháp luật được biểu hiện dưới hai hình thức:
+ Hành vi hành động: chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm.

và quyết định của chủ thể trong khi chủ thể có đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định một
xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội tức là chủ thể hoàn toàn có đủ điều kiện để lựa
chọn và quyết định một xử sự khác phù hợp với yêu cầu của pháp luật nhưng chủ thể đã
không chọn.
Xét về mặt tâm lý có hai hình thức lỗi là lỗi cố ý và lỗi vô ý. Trong đó, lỗi cố ý được
thể hiện dưới hai dạng phổ biến: lỗi cố ý trực tiếp và lỗi cố ý gián tiếp.
Lỗi cố ý trực tiếp: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật đã nhìn thấy
trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi và thấy được hậu quả của hành vi nhưng
mong muốn thực hiện và mong muốn đạt được hậu quả của hành vi.
Lỗi cố ý gián tiếp: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật nhìn thấy
trước tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi, thấy trước hậu quả của hành vi, tuy không
mong muốn cho hậu quả xảy ra nhưng bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.
Lỗi vô ý chia thành hai dạng: lỗi vô ý do quá tự tin và lỗi vô ý do cẩu thả.
Lỗi vô ý do quá tự tin là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật thấy
được sự tác hại cho xã hội của hành vi và hậu quả của nó, nhưng tin rằng hậu quả không
xảy ra hoặc có thể khắc phục được. Lỗi vô ý do cẩu thả: là trường hợp người thực hiện hành vi trái pháp luật không nhìn
thấy sự tác hại cho xã hội của hành vi và hậu quả của nó, mặc dù người đó có thể nhìn thấy
được hoặc cần phải nhìn thấy được.
Như vậy, chủ thể vi phạm pháp luật phải thực sự có lỗi vì có những người không có
đủ điều kiện để lựa chọn và quyết định hành vi (do điều kiện khách quan) tức không có lỗi
thì không phải là vi phạm pháp luật.
Thứ tư, vi phạm pháp luật phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm pháp lý thực
hiện.
Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý là khả năng tự mình chịu trách nhiệm về hành vi
vi phạm pháp luật của mình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Vì vậy, chủ thể của vi
phạm pháp luật chỉ có thể là những người đã đạt tới một độ tuổi nhất định theo quy định
của pháp luật, có khả năng lý trí và có tự do ý chí (có khả năng nhận thức và điều khiển

Vi phạm pháp luật dân sự là những hành vi trái pháp luật, có lỗi, xâm hại tới những
quan hệ tài sản và những quan hệ nhân thân có liên quan tới tài sản và nhân thân trong lĩnh
vực hợp đồng hoặc ngoài hợp đồng.
Chủ thể vi phạm dân sự có thể là cá nhân và cũng có thể là tổ chức.
Vi phạm kỷ luật nhà nước là những hành vi có lỗi xâm hại tới chế độ kỷ luật lao
động, kỷ luật công vụ, kỷ luật học tập, kỷ luật quân đội v.v. gây thiệt hại cho hoạt động
bình thường của các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế, đơn vị sự nghiệp, trường học và
những tổ chức công khác.
Chủ thể vi phạm kỷ luật có thể là cá nhân và cũng có thể là tập thể, họ chỉ là cán bộ,
công nhân, công chức, viên chức, học sinh có quan hệ ràng buộc (phụ thuộc) với cơ
quan, xí nghiệp, trường học nào đó.
1.2. Khái niệm, nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
1.2.1. Khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
1.2.1.1. Khái niệm bạo lực
Bạo lực là một hiện tượng xã hội. Đã có rất nhiều định nghĩa về "Bạo lực".Theo Đại
từ điển Tiếng việt năm 1998: "Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp, chống lại lực lượng
đối lập hay lật đổ chính quyền"; hoặc theo từ điển Tiếng việt 2003 thì "Bạo lực là sức
mạnh dùng để trấn áp hoặc lật đổ"[15], [53]. Trong xã hội có nhiều hình thức bạo lực. Tuy nhiên, không phải hình thức bạo lực
nào cũng hướng vào việc lật đổ các đảng nhóm, phe phái chính trị và chính quyền.Thực tế
xã hội cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau, các chủ thể có thể dùng bạo lực để giải quyết
một sự bất hoà trong quan hệ xã hội; một sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người; giành lấy
quyền và lợi ích cho mình Bạo lực đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài người.
Trong những trường hợp nhất định, bạo lực có thể có vai trò tích cực trong xã hội song nó
sẽ trở thành tiêu cực, ảnh hưởng đến sự phát triển của xã hội nếu bạo lực được sử dụng sai
mục đích, đặc biệt là trong những trường hợp cấm được sử dụng bạo lực. Như vậy, bạo lực
chính là một phương thức hành xử trong các mối quan hệ xã hội và tồn tại từ rất lâu trong
lịch sử xã hội loài người.

đang hay đã có quan hệ gia đình hoặc họ hàng sống chung như vợ chồng hoặc sống chung
trong một nhà" [10].
Theo khoản 2, Điều 1, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 được Quốc
Hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam khoá XII, kỳ họp thứ 2 thông qua ngày 21
tháng 11 năm 2007 quy định: "Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây
tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên
khác trong gia đình".
Như vậy, dù được định nghĩa với nhiều cách khác nhau nhưng khi xem xét bạo lực
gia đình, ta có thể thấy các đặc điểm:
+ Thứ nhất, bạo lực gia đình là hành vi bạo lực xảy ra giữa các thành viên trong gia
đình tức là chủ thể có hành vi bạo lực gia đình (người gây ra bạo lực gia đình) phải là
thành viên trong gia đình và nạn nhân của bạo lực gia đình là một trong những thành viên
còn lại của gia đình đó.
+ Thứ hai, bạo lực gia đình được thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi vô ý.
+ Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về
thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Bạo lực gia đình đang là vấn đề được dư luận xã hội quan tâm sâu sắc. Bạo lực gia
đình không phải là vấn đề mang tính địa phương, vùng miền mà là một vấn đề toàn cầu, ở
đâu cũng có, từ các nước nghèo, nước đang phát triển cho đến nước giàu có, phát triển
mạnh về kinh tế và xã hội. Mọi gia đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải
tệ nạn này. Đối tượng của các hành vi bạo hành gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả nam giới nhưng thường là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thương và trong hầu hết
các trường hợp là phụ nữ, người già và trẻ em.
Bạo lực gia đình đều ảnh hưởng lâu dài đến sức khoẻ, tâm lý, tình cảm của mỗi cá
nhân. Đặc biệt đối với trẻ em, bạo lực còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự hình thành nhân
cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một cuộc sống bình thường và nhất là tương lai
của các em sau này.
1.2.1.3. Bạo lực chống lại phụ nữ và bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình

không hạn chế chỉ ở những dạng này. Bạo lực trên cơ sở giới bao gồm cả bạo lực do
Nhà nước gây ra hoặc bỏ qua "[40].
Như vậy, bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình gồm tất cả những hành động bạo
lực như đe doạ, khống chế, điều khiển, tước đoạt của nam giới với phụ nữ trong gia đình
gây ra hậu quả hoặc có thể gây ra hậu quả, làm tổn hại hoặc gây đau khổ cho phụ nữ về
thân thể, tâm lý, tình dục hay kinh tế, kể cả những lời đe doạ hay độc đoán, tước quyền tự
do
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ngoài những đặc điểm của bạo lực gia đình nói
chung còn mang một đặc điểm rất quan trọng để chúng ta nhận biết và phân biệt với bạo
lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là nữ
giới (nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là tất cả đối tượng: nữ giới, nam giới, trẻ em,
người già, người tàn tật ). Chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ
thường là nam giới và thường là người chồng trong hôn nhân, chồng cũ hay bạn tình.
Với những đặc điểm đó, chúng ta cũng phân biệt được bạo lực chống lại phụ nữ nói
chung và bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình. Phạm vi, đối tượng bạo lực chống lại
phụ nữ rộng hơn rất nhiều so với bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình và điều này xuất
phát từ yếu tố rất quan trọng là yếu tố gia đình.
Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình được biểu hiện dưới nhiều hình thức. ở góc
độ khái quát, chúng ta có thể nhận biết bạo lực gia đình đối với phụ nữ dưới các hình thức
chính như sau:
Bạo lực thân thể: thể hiện ở việc đánh đập, hành hạ, gây thương tích cho người phụ
nữ Một số nghiên cứu cho rằng hình thức này còn bao gồm việc hạn chế các nhu cầu
thiết yếu (ăn, uống, ngủ ) của nạn nhân. Bạo lực tình dục: Thể hiện ở việc cưỡng hiếp hay ép buộc nạn nhân làm tình hay
xem phim, ảnh khiêu dâm dù họ không muốn, không có nhu cầu, hoặc khi đang bị đau ốm,
thậm chí, một số phụ nữ còn bị ép quan hệ tình dục sau khi đã bị đánh đập, cố tình gây đau
đớn hoặc tổn hại cho họ trong qúa trình quan hệ sinh lý, người phụ nữ không có quyền từ
chối.

nhiều khó khăn như: bất bình đẳng giới, phân biệt đối xử liên quan đến giới và đặc biệt là
vấn đề bạo hành về giới. Rất nhiều người phụ nữ còn phải chịu bạo lực trong thời gian dài
thậm chí trong suốt cuộc đời của mình với những hành vi đánh đập, hành hạ dã man, tàn
bạo, tạo nên vết thương khó lành trong trái tim người phụ nữ. Bạo lực gia đình đối với phụ
nữ là vi phạm quyền con người; vi phạm quyền bình đẳng, không bị phân biệt đối xử của
con người; vi phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của người
phụ nữ Chính vì vậy, người phụ nữ cần được bảo vệ khỏi bạo hành để họ được sống, làm
việc, cống hiến và phát triển trong xã hội. Việc phòng và chống bạo lực gia đình đối với
người phụ nữ là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân, là trách nhiệm của mỗi gia đình và
toàn xã hội.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các biện pháp nhằm
ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia đình, giúp cho người phụ nữ tránh
được bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền con người và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó khăn và lâu dài.
Để bảo vệ người phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của người phụ nữ trong xã hội, việc phòng,
chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ cần thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật.
Việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ chỉ đạt được hiệu quả khi nó
được đặt dưới sự bảo vệ của pháp luật và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống
tốt đẹp của dân tộc. Người phụ nữ cần phải được bảo vệ mọi mặt trong hành lang pháp lý
hoàn thiện bởi vì pháp luật chính là đại lượng công bằng và phương tiện hữu hiệu nhất
trong việc che chắn, bảo vệ người phụ nữ trước nạn bạo hành gia đình. Chính vì vậy, vấn
đề phòng, chống bạo lực gia đình nói chung trong đó có phòng, chống bạo lực gia đình đối
với phụ nữ đã được Luật hoá, là một trong những vấn đề quan trọng được đặt dưới sự điều
chỉnh của pháp luật. Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống pháp luật về
phòng, chống bạo lực gia đình đặc biệt, lần đâqù tiên, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình
đã ra đời. Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con người trong đó có người phụ nữ trước
bạo hành gia đình. Nghị quyết của Quốc hội về chiến lược phát triển kinh tế xã hội 5 năm (2006-2010)
đình đối với phụ nữ là trái với đạo đức, đi ngược lại truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân
tộc, trái với ý chí chung của xã hội, là vi phạm pháp luật, vi phạm những chuẩn mực chung
của xã hội và phải chịu sự trừng phạt của xã hội, của pháp luật.
Toàn bộ các quy định liên quan đến bạo lực gia đình trong các văn bản pháp luật kể
trên hợp thành một hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó người
phụ nữ là một trong những đối tượng được bảo vệ khỏi sự tấn công của bạo hành gia đình.
Như vậy, chúng ta không có một hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ riêng mà Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng như các văn bản pháp luật khác
trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình quy định và áp dụng, bảo vệ đối với tất cả các
chủ thể trong gia đình : nam giới, phụ nữ, trẻ em, người già khi họ là nạn nhân của bạo
lực gia đình. Vì vậy, phụ nữ là một trong các đối tượng được bảo vệ trong hành lang pháp
lý phòng, chống bạo lực gia đình chung.
Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ ghi nhận quyền con người nói
chung trong đó có người phụ nữ mà còn quy định rõ các hành vi nào là bạo lực gia đình,
hành vi nào bị cấm trong lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân,
cơ quan, tổ chức trong việc phòng, chống bạo lực gia đình; quy định những thiết chế bảo
đảm việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với người phụ nữ đạt được hiệu quả.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
như sau:
Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy định pháp luật do
nhà nước ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội về phòng,
chống bạo lực gia đình và các lĩnh vực khác có liên quan.
1.2.2. Nội dung của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình
Nhìn vào hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, ta thấy, không có
nhiều quy phạm pháp luật quy định riêng, trực tiếp về việc phòng, chống bạo lực gia đình
đối với phụ nữ mà những quy định chung đó áp dụng với tất cả các đối tượng.
Trong hệ thống pháp luật về phòng chống bạo lực gia đình, Hiến pháp là văn bản
pháp luật có giá trị pháp lý cao nhất. Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định: "nghiêm cấm mọi

trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, giả tạo, lừa dối để kết hôn, ly hôn; cấm cưỡng ép ly hôn,
ly hôn giả tạo Cấm người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ
chồng với người khác hoặc người chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống
như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ. Cấm ngược đãi, hành hạ ông, bà, cha, mẹ,
vợ, chồng, con, cháu, anh em và các thành viên khác trong gia đình". Ngoài ra, tại khoản 3, điều 4, Luật Hôn nhân và gia đình còn quy định chế tài đối với những hành vi vi phạm
pháp luật về hôn nhân và gia đình. Khoản 2, điều 21, Luật Hôn nhân và gia đình đã trực
tiếp quy định về phòng, chống bạo lực gia đình trong đó có bạo lực gia đình đối với phụ
nữ: "Cấm vợ, chồng có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm đến nhân phẩm, uy tín của
nhau" hay điều 35 quy định: "Nghiêm cấm con có hành vi ngược đãi, hành hạ, xúc phạm
cha mẹ".
Như vậy, Luật Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2000 cũng như các văn bản
pháp luật kể trên đã có nhiều quy phạm pháp luật nhằm phòng, chống bạo lực gia đình.
Tuy nhiên, xét một cách tổng quát, những quy định đó vẫn còn sơ sài, tản mạn ở nhiều văn
bản khác nhau, thiếu tính cụ thể và chưa có những quy định pháp lý đặc thù.
Để khắc phục những hạn chế của hệ thống pháp luật về phòng, chống bạo lực gia
đình nói chung trong đó có bạo lực gia đình đối với phụ nữ đồng thời nhằm đạt được hiệu
quả cao hơn nữa trong việc phòng, chống bạo lực gia đình, hạn chế tiến tới đẩy lùi bạo lực
gia đình, tạo nên một cuộc cách mạng thực sự trong phòng, chống bạo lực gia đình, Luật
Phòng, chống bạo lực gia đình đã được Quốc hội khoá XII nước Cộng hòa XHCN Việt
Nam thông qua ngày 21 tháng 11 năm 2007 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2008.
Đây là văn bản pháp lý đầu tiên quy định một cách trực tiếp, cụ thể về hoạt động phòng,
chống bạo lực gia đình. Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2007 đã điều chỉnh một
cách có hệ thống các hành vi bạo lực gia đình để trên cơ sở đó đưa ra các biện pháp phòng,
chống bạo lực gia đình. Luật phòng, chống bạo lực gia đình gồm 6 chương và 46 điều với
những nội dung cơ bản sau:
Chương I: "Những quy định chung" gồm 8 điều (từ điều 1 đến điều 8) quy định về
phạm vi điều chỉnh; định nghĩa về bạo lực gia đình, xác định cụ thể các hành vi bạo lực gia

- Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu quả nghiêm
trọng;
- Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình giữa ông, bà và
cháu; giữa cha mẹ và con; giữa vợ và chồng; giữa anh, chị, em với nhau;
- Cưỡng ép quan hệ tình dục;
- Cưỡng ép tảo hôn; cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến
bộ; - Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư hỏng tài sản
riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên trong gia
đình;
- Cưỡng ép thành viên trong gia đình lao động quá sức, đóng góp tài chính quá khả
năng của họ; kiểm soát thu nhập của thành viên gia đình nhằm tạo ra tình trạng phụ thuộc
về tài chính;
- Có hành vi trái pháp luật buộc thành viên gia đình ra khỏi chỗ ở.
Các hành vi bạo lực trên cũng được áp dụng đối với thành viên gia đình của vợ,
chồng đã ly hôn hoặc nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ
chồng.
Khi chủ thể là thành viên trong gia đình mà có những hành vi trên đối với một trong
những thành viên trong gia đình thì bị coi là hành vi bạo lực gia đình đồng thời là hành vi
vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng để các
cơ quan thực thi pháp luật, các cá nhân cũng như toàn xã hội nhận thức và xác định và hiểu
rõ hơn về các hành vi bạo lực gia đình, khắc phục được tình trạng chưa có và chưa hiểu rõ
quy định về hành vi bạo lực gia đình, tránh được quan niệm của một số người, bạo lực gia
đình là chồng đánh vợ hoặc vợ đánh chồng, có nghĩa là phải có "đánh đập", còn "chửi
mắng, lăng mạ, cô lập, xua đuổi, hay cưỡng ép " thì không phải là hành vi bạo lực gia
đình hay một số người thì cho rằng hành vi đánh vợ hay chồng là chuyện bình thường xảy
ra trong cuộc sống, vì vậy, không phải là hành vi bạo lực gia đình và như vậy, không phải
là vi phạm pháp luật.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status