I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
NễNG TH KIU DIM
HOàN THIệN PHáP LUậT Về ĐảM BảO QUYềN
CủACáC DÂN TộC THIểU Số ở VIệT NAM HIệN NAY
Chuyờn ngnh: Phỏp lut v Quyn con ngi
Mó s: Chuyờn ngnh o to thớ im
LUN VN THC S LUT
HC
Cỏn b hng dn khoa hc: TS NGUYN DUY SN
H NI - 2014
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu của
riêng tôi. Các kết quả nêu trong Luận văn chưa được công bố trong
bất kỳ công trình nào khác. Các số liệu trích dẫn trong Luận văn
đảm bảo tính chính xác, tin cậy và trung thực. Tôi đã hoàn thành
tất cả các môn học và đã thanh toán tất cả các nghĩa vụ tài chính
theo quy định của Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội.
Vậy tôi viết Lời cam đoan này đề nghị Khoa Luật xem xét để
tôi có thể bảo vệ Luận văn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ ... 22
Chƣơng 2: THỰC TRẠNG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP
LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC
THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ......................... 32
2.1.
MỘT SỐ THÀNH TỰU CƠ BẢN TRONG XÂY DỰNG VÀ
THỰC THI PHÁP LUẬT VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC
DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ............ 32
2.1.1. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền dân sự, chính trị ................. 32
2.1.2. Thành tựu trong đảm bảo một số quyền kinh tế, xã hội và văn hóa...... 41
2.2.
HẠN CHẾ TRONG XÂY DỰNG VÀ THỰC THI PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM THỜI KỲ ĐỔI MỚI ...................................................... 60
2.2.1. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền chính trị, dân sự ....................................................................... 60
2.2.2. Hạn chế trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về một số
quyền kinh tế, xã hội và văn hóa........................................................ 66
2.3.
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY ....... 87
3 .2 .1 . M ộ t s ố p h ƣơ n g h ƣ ớ n g c ơ b ả n t r o n g v i ệ c h o à n t h i ệ n p h á p l u ậ t
về đảm bảo quyền chính trị, dân sự của các dân tộc thiểu số ở
Việt Nam hiện nay............................................................................. 87
3.2.2. Một số phƣơng hƣớng cơ bản hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền kinh tế, văn hóa, xã hội của các dân tộc thiểu số ở Việt
Nam hiện nay...................................................................................... 92
3.3.
MỘT SỐ GIẢI PHÁP CƠ BẢN HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐẢM BẢO QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở
VIỆT NAM....................................................................................... 100
3.3.1. Đổi mới công tác xây dựng và thi hành các văn bản pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số trong tình hình mới.......... 100
3.3.2. Nâng cao trách nhiệm của các cơ quan, cán bộ, công chức nhà
nƣớc từ trung ƣơng đến địa phƣơng trong việc xây dựng và thực
thi các văn bản pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số . 103
3.3.3. Tập trung phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình xây dựng
và thực thi pháp luật về đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ... 104
3.3.4. Phân bổ nguồn kinh phí hợp lý cho quá trình xây dựng và thực
thi pháp luật đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ..................... 105
KẾT LUẬN .................................................................................................. 107
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................... 109
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN
VĂN
quyền bình đẳng về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội và văn hóa, nhƣ: quyền
bầu cử, ứng cử, quyền tham gia công việc quản lý nhà nƣớc; quyền đƣợc tiếp cận
với giáo dục; quyền đƣợc chăm sóc sức khỏe; quyền có mức sống thích đáng;
quyền có việc làm, quyền đƣợc tham gia vào đời sống văn hóa v.v.. các quyền này là
phù hợp và tƣơng thích với Luật Nhân quyền quốc tế.
Là một quốc gia đa dân tộc, Việt Nam có 54 dân tộc cùng nhau chung
sống, trong đó dân tộc Kinh chiếm đa số với tỷ lệ 85,7%, còn lại 53 dân tộc
thiểu số với tỷ lệ 14,3% (hơn 12 triệu ngƣời). Có một số dân tộc thiểu số trên 1
triệu ngƣời, nhƣ: Tay, Thái... Song cũng có những dân tộc thiểu số rất ít
ngƣời, nhƣ: Pu Péo, Ơ Đu, Si La, Rơmăm, Cống, Bố Y, Mảng, Cờ Lao, La
Hù, Chứt, Lô Lô. Các DTTS Việt Nam sống tập trung chủ yếu tại vùng cao,
miền núi, biên giới là những nơi đi lại khó khăn, bị chia cắt, kinh tế - xã hội
còn chậm phát triển, đời sống vật chất và tinh thần còn thiếu thốn. Mặt khác, địa
hình sinh sống của đồng bào DTTS lại là những nơi cơ yếu về mặt chủ quyền
quốc gia, nên trong suốt quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, đặc biệt trong
thời kỳ đổi mới, Đảng và Nhà nƣớc ta luôn coi trọng xây dựng hệ thống các
văn bản pháp luật nhằm tạo cơ sở pháp lý bền vững, nhằm đảm bảo quyền bình
đẳng của các DTTS, gắn với thúc đẩy phát triển kinh tế, văn hóa,
1
ổn định chính trị, xã hội vùng đồng bào DTTS. Trong thời kỳ đổi mới, Việt
Nam đã đạt đƣợc nhiều thành tựu đáng khích lệ về bảo đảm quyền con ngƣời
của các DTTS trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã
hội và văn hóa. Tuy nhiên, việc đảm bảo quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện
nay vẫn nổi lên những thách thức nhƣ: hệ thống pháp luật còn chồng chéo,
chƣa thống nhất; năng lực thực thi pháp luật của đội ngũ cán bộ, nhất là ở vùng
DTTS còn bất cập; trình độ dân trí, ý thức pháp luật của ngƣời DTTS còn hạn
chế. Bên cạnh đó, một số thế lực thù địch lợi dụng tình hình khó khăn, sự
Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Thực hiện chính sách dân tộc của Đảng
ở miền Trung, Tây Nguyên trong thời kỳ đổi mới, Trƣơng Minh Dục, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2009; Phát triển nguồn cán bộ dân tộc thiểu số ở các
tỉnh miền núi phía Bắc nước ta hiện nay, Lô Quốc Toản, Nxb Chính trị quốc gia,
Hà Nội, 2010...
Kết quả những công trình nghiên cứu nói trên đƣợc sử dụng làm tài liệu
tham khảo bổ ích của luận văn này. Tuy nhiên, các công trình nêu trên chƣa
thực sự nghiên cứu toàn diện pháp luật về đảm bảo quyền của các DTTS ở
Việt Nam trên cả lĩnh vực chính trị, dân sự cũng nhƣ lĩnh vực kinh tế, xã hội và
văn hóa. Vì vậy, việc nghiên cứu đề tài "Hoàn thiện pháp luật về đảm bảo
quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay" là sự cần thiết trong bối
cảnh hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu tổng quát về quan điểm của Nhà nƣớc, pháp luật Việt Nam
về vấn đề DTTS. Đánh giá tình hình ban hành, thực hiện, thi hành, giám sát
các văn bản pháp luật và chính sách về việc bảo vệ, thúc đẩy các quyền cơ bản
của các DTTS, đặc biệt trong thời kỳ đổi mới. Đánh giá tính phù hợp và những
hạn chế những văn bản pháp luật, chính sách để từ đó đƣa ra giải pháp để sửa
đổi, bổ sung luật pháp nhằm đảm bảo tốt hơn các quyền của nhóm ngƣời này
ở Việt Nam, góp phần cho việc xây dựng khối đại đoàn kết các dân tộc Việt Nam
ngày càng vững mạnh.
3
3.2. Nhiệm vụ
Để thực hiện đƣợc mục đích nói trên, tác giả đã đƣa ra và giải quyết các
nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu, phân tích, đánh giá pháp luật, chính sách của Nhà nƣớc
liên quan đến việc bảo đảm quyền của các DTTS ở Việt Nam, chủ yếu thời kỳ đổi
- Trên cơ sở đánh giá thực trạng các quy định pháp luật và chính sách
về đảm bảo một số quyền cơ bản của các DTTS ở Việt Nam hiện nay, luận văn
lý giải nguyên nhân chủ quan và khách quan của những yếu kém, tồn tại, qua
đó mạnh dạn kiến nghị về phƣơng hƣớng và giải pháp để khắc phục, nhằm
hoàn thiện pháp luật, chính sách về đảm bảo bảo các quyền cơ bản của các DTTS
ở Việt Nam thời gian tới.
6. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn
Kết quả nghiên cứu của Luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức
khoa học cơ bản mang tính lý luận và thực tiễn về quyền của các DTTS. Giúp
nâng cao nhận thức toàn diện về pháp luật Quốc tế và quá trình xây dựng và
thực thi pháp luật Việt Nam đảm bảo quyền của các DTTS.
Kết quả của Luận văn có thể đƣợc sử dụng làm tài liệu tham khảo trong
nghiên cứu, giảng dạy. Đồng thời góp phần nâng cao nhận thức, xây dựng cơ
sở lý luận, pháp lý cho các nhà hoạch định luật pháp, chính sách về quyền của
các DTTS ở Việt Nam.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, Luận văn
kết cấu gồm 3 chƣơng:
Chương 1: Cơ sở pháp lý về quyền của các dân tộc thiểu số
Chương 2: Thực trạng xây dựng và thực thi pháp luật về đảm bảo
quyền của các DTTS ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phƣơng hƣớng và giải pháp cơ bản hoàn thiện pháp luật về
đảm bảo quyền của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
5
Chƣơng 1
CƠ SỞ PHÁP LÝ VỀ QUYỀN CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ
1.1. QUAN NIỆM VỀ DÂN TỘC THIỂU SỐ
gia dân tộc khác nhau [14].
Theo Từ điển Bách khoa Việt Nam, Khái niệm dân tộc (Nation- Ethnie)
[41] đƣợc định nghĩa nhƣ sau:
+ Dân tộc (nation) hay quốc gia dân tộc là cộng đồng chính trị - xã hội
đƣợc chỉ đạo bởi một nhà nƣớc, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định, ban đầu
do do sự tập hợp của nhiều bộ lạc liên minh, sau này của nhiều cộng đồng
mang tính tộc ngƣời (ethnie) của bộ phận tộc ngƣời. Tính chất của dân tộc phụ
thuộc vào những phƣơng thức sản xuất khác nhau. Bƣớc vào giai đoạn công
nghiệp rõ rệt nhất là ở các nƣớc phƣơng Tây, do yêu cầu xóa bỏ tính cát cứ
của các lãnh địa trong một dân tộc nhằm tạo ra một thị trƣờng thống nhất, nên
cộng đồng dân tộc đƣợc kết cấu chặt chẽ hơn. Kết cấu của cộng đồng dân tộc
rất đa dạng, phụ thuộc vào hoàn cảnh lịch sử, văn hóa trong khu vực và bản
thân.
+ Dân tộc (Ethnie) còn đồng nghĩa với cộng đồng mang tính tộc ngƣời, ví
dụ dân tộc Tày, dân tộc Bana, Mƣờng, Thái, H'Mông… Các cộng đồng này có thể
là bộ phận chủ thể hay thiểu số của một dân tộc (nation) sinh sống ở nhiều quốc
gia dân tộc khác nhau đƣợc liên kết với nhau bằng những đặc điểm ngôn ngữ,
văn hóa và nhất là ý thức tự giác tộc ngƣời.
Theo định nghĩa này, Việt Nam vừa là dân tộc mang hàm nghĩa quốc gia
- dân tộc vừa là một quốc gia kết hợp của nhiều tộc ngƣời. Hay nói cách khác
Dân tộc Việt Nam là quốc gia bao gồm nhiều dân tôc/tộc ngƣời hợp lại.
Để hiểu rõ hơn về dân tộc - tộc ngƣời, cộng đồng quốc tế đã thừa nhận
rộng rãi 5 tiêu chí sau để xác định thế nào là dân tộc (ethnic) [11]:
7
- Có cùng tiếng mẹ đẻ (có ngôn ngữ tộc ngƣời thống nhất);
- Có cùng một khu vực lãnh thổ (có lãnh thổ tộc ngƣời thống nhất);
- Có nền kinh tế tộc ngƣời thống nhất;
dân tộc trên đất nƣớc Việt Nam.
Tuy còn nhiều quan điểm khác nhau về vấn đề dân tộc - quốc gia, dân tộc
- tộc ngƣời. Trong khuôn khổ nghiên cứu của luận văn này, tác giả không đi sâu
vào phân tích khái niệm dân tộc theo nghĩa dân tộc - quốc gia, mà nhìn nhận
phạm trù dân tộc theo nghĩa dân tộc - tộc ngƣời.
1.1.2. Quan niệm về dân tộc thiểu số của cộng đồng quốc tế
"Dân tộc thiểu số" là một trong những nội hàm của "ngƣời thiểu số" nói
chung đƣợc quốc tế ghi nhận. Không có khái niệm DTTS nói riêng mà nó
đƣợc nhìn nhận là một trong những hình thái cộng đồng ngƣời thiểu số, bên
cạnh những ngƣời thiểu số về chủng tộc, tôn giáo hay ngôn ngữ.
Không có khái niệm chính thức nào về "Dân tộc thiểu số" nói riêng cũng
nhƣ "ngƣời thiểu số" nói chung đƣợc quốc tế công nhận. Các quan điểm về vấn đề
ngƣời thiểu số, trong đó bao hàm cả ngƣời thiểu số về dân tộc là chủ đề của những
cuộc tranh luận trong nhiều diễn đàn về bảo vệ Ngƣời thiểu số.
Vào năm 1977 báo cáo viên đặc biệt của Tiểu ban chống phân biệt đối xử
và bảo vệ ngƣời thiểu số là ông Francesco Capotorti đã đƣa ra định nghĩa về
ngƣời thiểu số trong báo cáo nghiên cứu của mình nhƣ sau: " là một nhóm
ngƣời, xét về mặt số lƣợng, ít hơn phần dân cƣ còn lại của quốc gia, có vị thế
yếu trong xã hội, những thành viên của nhóm- mà đang là kiều dân của một
nƣớc- có những đặc trƣng về chủng tộc, tín ngƣỡng hoặc ngôn ngữ khác so
với phần dân cƣ còn lại và chứng tỏ rõ ràng là có một ý thức thống nhất trong
việc bảo tồn nền văn hóa, truyền thống, tôn giáo và ngôn ngữ của họ. Tuy
nhiên nỗ lực của Tiểu ban trong việc bảo vệ ngƣời thiểu số đã bị một số quốc gia
có tƣ tƣởng ủng hộ quá trình hợp nhất, và một số quốc gia đang thúc đẩy
9
sự đồng hóa phản đối, vì thế Tiểu ban này vẫn chƣa thể đi đến một định nghĩa
chính thức về ngƣời thiểu số.
trên cũng nhƣ một số văn kiện quốc tế về ngƣời thiểu số. Sự mô tả những đặc
trƣng về ngƣời thiểu số có thể khái quát lại ở những dấu hiệu nhƣ:
- Về số lƣợng: Có số lƣợng ít (thiểu số), nếu so sánh với nhóm đa số
sống trên cùng lãnh thổ.
- Về vị thế xã hội: Là nhóm yếu thế trong xã hội (thể hiện ở tiềm lực, vai
trò và ảnh hƣởng của nhóm tới đời sống kinh tế, chính trị, xã hội ở lãnh thổ nơi
mà họ sinh sống).
- Về bản sắc: Có những đặc điểm riêng về mặt chủng tộc, dân tộc, ngôn
ngữ, phong tục tập quán... mà vì thế có thể phân biệt họ với nhóm đa số.
- Về địa vị pháp lý: có thể là công dân hoặc kiều dân của quốc gia nơi
mà họ đang sinh sống.
- Về ý chí chủ quan: Một phần trong các thành viên của cộng đồng ấy
phải có ý chí bảo tồn những đặc trƣng văn hóa của riêng họ - Tuy nhiên yếu tố
này cũng còn gây nhiều tranh cãi về tính bắt buộc.
Trên thực tế Liên Hợp quốc thừa nhận cộng động Ngƣời thiểu số (trong
đó bao gồm cả dân tộc thiểu số) là vẫn đề nhạy cảm và phức tạp (Lời nói đầu cuả
Nghị quyết 217C (III) của Đại Hội Đồng). Thừa nhận ngƣời thiểu số là một trong
các nhóm dễ bị tổn thƣơng và yêu cầu cần phải có những cơ chế riêng biệt để
bảo vệ ngƣời thiểu số. Ngoài quy định quyền bình đẳng trong việc hƣởng các
quyền con ngƣời đƣợc quy định tại Công ƣớc quốc tế về quyền con ngƣời, Đại
hội đồng Liên Hợp quốc cũng yêu cầu Hội đồng Kinh tế xã hội (ECOSOC)
nghiên cứu, xem xét một cách kỹ lƣỡng về vấn đề ngƣời thiểu số, và sau đó dƣới
tác động tích cực của Tiểu ban về Ngăn ngừa phân biệt đối xử và bảo vệ ngƣời
thiểu số, quyền của ngƣời thiểu số đƣợc ghi nhận một cách trực tiếp tại Điều 27
Công ƣớc quốc tế về quyền dân sự và chính trị năm 1966. Đến năm 1992 một văn
kiện quốc tế quan trọng về ngƣời thiểu số là Tuyên
11
số với dân tộc đa số. Truyền thống đoàn kết này chính là một đặc trƣng nổi
bật, làm tăng cƣờng sức mạnh các dân tộc Việt Nam trong công cuộc xây
dựng và bảo vệ Tổ quốc là điều kiện cơ bản để Đảng và Nhà nƣớc Việt Nam
thực hiện tốt các chính sách và pháp luật trên phạm vi toàn lãnh thổ.
Thứ hai, về địa bàn cƣ trú: Dân cƣ các DTTS ở nƣớc ta phân bố không
đồng đều, tập trung ở một số vùng, nhƣng không cƣ trú thành những khu vực
riêng biệt mà xen kẽ với các DTTS khác, thậm trí xen kẽ với các dân tộc đa số.
Khu vực cƣ trú bao gồm cả miền núi, trung du, đồng bằng, ven biển, thậm chí ở
đô thị thành phố, tuy nhiên tập trung nhiều nhất là ở miền núi, vùng sâu, vùng xa,
biên giới, hải đảo...là địa bàn chiếm tới 3/4 lãnh thổ quốc gia và có vị trí chiến
lƣợc về kinh tế, chính trị, an ninh quốc phòng. Đặc điểm xen kẽ giữa các dân
tộc một mặt đã tạo điều kiện để các dân tộc này có cơ hội để tăng cƣờng sự
hiểu biết, hòa hợp, gắn bó với nhau, nhờ đó các dân tộc có điều kiện học hỏi
những tri thức mới, từng bƣớc thu hẹp khoảng cách về trình độ phát triển giữa
các dân tộc. Nhƣng mặt khác, đặc điểm sống xen kẽ này làm cho các dân tộc
kém phát triển hơn dễ bị đồng hóa, mất đi nguồn gốc, bản sắc của dân tộc mình.
Thứ ba, về trình độ phát triển kinh tế - xã hội: Các DTTS ở Việt Nam có
trình độ phát triển kinh tế - xã hội không đều nhau. Một số DTTS nhƣ dân tộc
Khơme, Chăm, Hoa là những dân tộc thiểu số phân bố ở những vùng đồng bằng,
đô thị là nơi có nền kinh tế- xã hội phát triển nhƣ: Thành phố Hồ Chí Minh,
Khánh Hòa, Sóc Trăng, Bạc Liêu, Cần Thơ, Đồng Nai, Tây Ninh… lại sinh
sống xen kẽ với đa số ngƣời dân tộc Kinh nên có nhiều cơ hội để phát triển
kinh tế - xã hội, Một số dân tộc khác nhƣ dân tộc Tày, Nùng, Thái, Mƣờng
tuy có cuộc sống khó khăn, thiếu thốn hơn nhƣng phần lớn đã thoát khỏi cuộc
sống lạc hậu và đói nghèo. Một số DTTS rất ít ngƣời nhƣ dân tộc Brâu,
Pupéo, Chứt, Mảng… cƣ trú chủ yếu ở Kom Tum, Hà Giang, Quảng
13
vai trò nổi bật trong việc xác lập địa vị bình đẳng và nguyên tắc không phân
biệt đối xử với ngƣời DTTS trong việc hƣởng thụ các quyền con ngƣời trên các
lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội. Ngoài ra, pháp luật còn có
vai trò tích cực tạo ra một môi trƣờng thuận lợi, khắc phục những hạn chế,
khó khăn, tạo cơ hội cho những ngƣời DTTS phát huy các giá trị con ngƣời
vốn có.
Tuyên ngôn thế giới về quyền con ngƣời năm 1948 đã khẳng định: Mọi
ngƣời sinh ra đều tự do và bình đẳng về ngôn ngữ và các quyền. họ đƣợc phú
cho lý trí và lƣơng tri và cần đối xử với nhau trong tình anh em (Điều 1) hoặc
"Không một ai có thể bị tƣớc bỏ các quyền đã ghi nhận trong Công ƣớc
này…". Từ đó có thể rút ra một nguyên tắc nền tảng của luật quốc tế về nhân quyền là
bình đẳng. Tất cả các cá nhân trong cộng đồng nhân loại đều bình đẳng về
phẩm giá và các quyền, không có bất kỳ sự phân biệt đối xử nào về dân tộc,
ngôn ngữ, giới tính, tôn giáo… Nhận thức trên xuất phát từ một thực tế không thể
phủ nhận đó là ngƣời thiểu số hay ngƣời đa số cũng đều là những con ngƣời,
những thành viên của cộng đồng xã hội, suy rộng ra DTTS cũng nhƣ dân tộc
đa số đều đƣợc hƣởng những quyền con ngƣời nhƣ nhau và
không phải chịu bất kỳ hạn chế vô lý nào trên phƣơng diện là ngƣời DTTS.
Nhận thức về quyền bình đẳng đó đã chi phối rất nhiều đến quá trình xây
dựng hệ thống pháp luật quốc tế về nhân quyền, nhiều quan điểm cho rằng đã
là bình đẳng về quyền đồng nghĩa với việc "cào bằng" quyền cho mọi chủ thể, cho
dù chủ thể đó thuộc nhóm thiểu số, có nhƣ vậy mới phù hợp với tính chất phổ
quát áp dụng chung cho toàn nhân loại. Tuy nhiên cần phân tích chủ thể là
ngƣời thiểu số về dân tộc hay DTTS, trên thực tế đây là nhóm ngƣời dễ bị
tổn thƣơng hơn với dân tộc đa số, phần lớn các nhóm DTTS không chiếm ƣu
thế về số lƣợng ngƣời nên thƣờng có vị thế thấp hơn, không chiếm ƣu thế về
chính trị, kinh tế, thậm trí DTTS ở nhiều nơi còn bị thôn tính,
15
16
1.3. PHÁP LUẬT QUỐC TẾ VỀ QUYỀN CỦA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Ngƣời DTTS (hay ngƣời thiểu số về dân tộc) là thuật ngữ đƣợc sử dụng
rộng rãi trên thế giới. Trong quá trình lịch sử lâu dài, ngƣời DTTS đƣợc cộng
đồng thế giới ghi nhận là nhóm ngƣời yếu thế, dễ bị tổn thƣơng so với các dân
tộc đa số khác. Ngƣời DTTS có đặc thù là những dân tộc có ít ngƣời, sống
manh mún, không có thế mạnh về kinh tế, chính trị, duy trì lối sống ảnh
hƣởng nhiều bởi tập quán lạc hậu, chậm thay đổi, lại bị bó hẹp trong những
không gian riêng, ngôn ngữ riêng vì vậy những ngƣời này thƣờng không nắm
trong tay quyền lực, dễ bị đàn áp, chia rẽ, đồng hóa, thậm trí bị diệt vong bởi các
dân tộc đa số khác. Trên thực tế đã xảy ra những tội ác gây nên tình trạng căng
thẳng, xung đột, chia rẽ, phân biệt giữa những ngƣời thuộc nhóm thiểu số và
những ngƣời thuộc nhóm đa số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo, sắc tộc...điển
hình nhƣ tội ác A-pác-thai, làm cho Liên Hợp quốc và nhiều tổ chức khác trên
toàn thế giới quan tâm và đã đƣa ra nhiều biện pháp nhằm bảo vệ nhóm thiểu số
trong đó có cả nhóm thiểu số về dân tộc,.
Một số văn kiện quốc tế quan trọng trong việc ghi nhận về quyền của
ngƣời thiểu số nhƣ sau:
Tuyên ngôn quốc tế về quyền con người (1948), đƣợc Đại hội đồng
Liên Hợp quốc thông qua theo nghị quyết số 217A(III) ngày 10/12/1948. Tuy
không phải là một văn kiện có tính ràng buộc về mặt pháp lý, nhƣng bản
Tuyên ngôn này có một sức mạnh đạo đức, chính trị đáng kể. Nó là cơ sở để xây
dựng các văn kiện quốc tế khác về nhân quyền và thƣờng đƣợc viện dẫn để chứng
minh cho các hành động của Liên Hợp quốc trên lĩnh vực này, ngoài ra nó còn
ảnh hƣởng đến pháp luật của nhiều quốc gia trên Thế giới.
Điều 2 của Tuyên ngôn khẳng định: "Mọi ngƣời sinh ra đều đƣợc
hƣởng tất cả các quyền và tự do nêu trong bản Tuyên ngôn này, không có bất kỳ
sự phân biệt đối xử nào về chủng tộc, màu da, giới tính, ngôn ngữ, tôn
văn kiện riêng biệt của Liên Hợp quốc đã cụ thể hóa quyền của các nhóm thiểu
số về dân tộc, ngôn ngữ, tôn giáo. Tuyên ngôn có những nội dung cơ bản sau:
19