Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng ở việt nam hiện nay thực trạng và giải pháp - Pdf 10

Pháp luật về thu hồi đất, bồi thường, giải
phóng mặt bằng ở Việt Nam hiện nay: Thực
trạng và giải pháp

Hoàng Thị Nga

Khoa Luật
Luận văn Thạc sĩ ngành: Luật Kinh tế; Mã số: 60 38 50
Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Quang Tuyến
Năm bảo vệ: 2011

Abstract: Phân tích, tìm hiểu nội hàm của các khái niệm bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất; nhận diện những đặc trưng cơ bản của các khái niệm này.
Tìm hiểu, hệ thống hóa cơ sở lý luận của việc xây dựng các quy định về bồi thường,
hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nghiên cứu sự hình thành và phát triển
của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất. Nghiên cứu,
đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất. Xác lập định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

Keywords: Giải phóng mặt bằng; Thu hồi đất; Luật đất đai; Pháp luật Việt Nam

Content
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Với một nước nông nghiệp có khoảng 70% dân số là nông dân như Việt Nam thì đất đai
luôn là vấn đề rất nhạy cảm và nhận được sự quan tâm đặc biệt của toàn xã hội. Đặc biệt khi đất
nước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, Nhà nước thực hiện cơ chế quản lý đất đai mới bằng
việc xác định hộ gia đình là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất nông - lâm nghiệp; tiến hành giao
đất, cho thuê đất cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng ổn định lâu dài. Chính sự thay đổi cơ chế quản
lý này đã trả lại cho đất đai những giá trị vốn có của nó: Đất đai ngày càng trở nên có giá và được

- Nghiên cứu sự hình thành và phát triển của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
khi Nhà nước thu hồi đất;
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất;
- Xác lập định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
a. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Hệ thống quan điểm, đường lối, chính sách của Đảng về phát triển kinh tế trong lĩnh vực
đất đai nói chung và về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất nói riêng;
- Các quy phạm pháp luật thực định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất;
- Các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất của Trung
Quốc;
- Các báo cáo, tổng kết tình hình thực thi pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất;
b. Phạm vi nghiên cứu
Do tính chất phức tạp và rộng lớn của đề tài, luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở việc
đi sâu phân tích, tìm hiểu các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất được ban hành từ năm 1987 (năm ban hành Luật Đất đai lần đầu tiên) đến nay;
3. Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết các yêu cầu mà đề tài đặt ra, luận văn đã sử dụng các phương pháp nghiên
cứu sau đây:
- Phương pháp luận duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của triết học Mác - Lênin; tư
tưởng Hồ Chí Minh về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa;

3
- Đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước về xây dựng nhà nước và pháp quyền nói
chung và về chính sách, pháp luật đất đai nói riêng trong điều kiện kinh tế thị trường;

cạnh chủ yếu sau:
Thứ nhất, hệ thống hóa và góp phần hoàn thiện hệ thống cơ sở lý luận và thực tiễn của
việc xây dựng các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất;
Thứ hai, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất; trên cơ sở đó chỉ ra tồn tại, bất cập và nguyên nhân của những hạn chế
này trong các quy định hiện hành;
Thứ ba, đưa ra định hướng và đề xuất các giải pháp góp phần hoàn thiện pháp luật về bồi
thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.
5. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm
3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất.

4
Chương 2: Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất ở Việt
Nam.
Chương 3: Định hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất.
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ,
TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
Mục tiêu của chương 1 nhằm làm rõ các vấn đề cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định
cư khi Nhà nước thu hồi đất; khái niệm và vai trò của bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất; khái quát lịch sử phát triển của pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất; pháp luật về bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất ở Trung Quốc. Để đạt được mục
tiêu này, chương 1 đề cập những vấn đề sau đây.
1.1. Cơ sở lý luận về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất
1.1.1. Đường lối, chính sách của Đảng về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất


5
cách khác, "Quyền sở hữu đất đai thuộc về toàn dân do Nhà nước đại diện; còn quyền sử dụng
đất thuộc sở hữu của người sử dụng đất".
GS.TSKH. Đặng Hùng Võ, nguyên Thứ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường cho rằng:
"Chế độ sở hữu toàn dân về đất đai của nước ta chỉ mang tính thuật ngữ, Quyền lợi và nghĩa
vụ của người sử dụng đất ở nước ta không khác so với quyền lợi và nghĩa vụ của chủ sở hữu
đất đai ở các nước".
Như vậy, một khi pháp luật đã thừa nhận quyền SDĐ là một loại quyền về tài sản của
người SDĐ, thì khi Nhà nước thu hồi đất, Nhà nước phải bồi thường thiệt hại về tài sản cho
người SDĐ.
1.2. Khái niệm và vai trò của bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất
1.2.1. Khái niệm bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
1.2.1.1. Định nghĩa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng:" Bồi thường: đền bù những tổn hại đã gây ra".
Theo quan điểm của Luật Đất đai năm 2003: "Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là
việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị
thu hồi đất" (khoản 6 Điều 4).
1.2.1.2. Phân biệt giữa bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất với một số trách nhiệm pháp
lý về bồi thường trong các lĩnh vực pháp luật khác
Ở tiểu mục này, luận văn đã chỉ ra sự khác nhau cơ bản về chủ thể bồi thường và được
bồi thường; nguyên tắc bồi thường, tính chất bồi thường, mức bồi thường.v.v. giữa bồi thường
khi Nhà nước thu hồi đất với: (i) bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong pháp luật dân sự;
(ii) bồi thường oan sai trong pháp luật hình sự; (iii) trách nhiệm vật chất trong pháp luật lao
động.
1.2.2. Khái niệm hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất
Theo Từ điển Tiếng Việt thông dụng: "Hỗ trợ: Giúp thêm, góp thêm vào".
Luật Đất đai năm 2003 quan niệm: "Hỗ trợ khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước
giúp đỡ người bị thu hồi đất thông qua đào tạo nghề mới, bố trí việc làm mới, cấp kinh phí để

Trong mục này, luận văn khái quát về lịch sử phát triển của pháp luật về bồi thường khi
Nhà nước thu hồi đất qua ba giai đoạn: (i) Giai đoạn trước khi ban hành Luật Đất đai năm
1993; (ii) Giai đoạn sau khi ban hành Luật Đất đai năm 1993 đến trước khi ban hành Luật Đất
đai năm 2003; (iii) Giai đoạn từ khi có Luật Đất đai năm 2003 đến nay.
1.4. Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi nhà nước thu hồi đất ở Trung
Quốc - những gợi mở đối với Việt Nam
1.4.1. Các trường hợp thu hồi đất và bồi thường thiệt hại
1.4.2. Nguyên tắc bồi thường
1.4.3. Thẩm quyền thu hồi đất
1.4.4. Thực hiện việc bồi thường
1.4.5. Quản lý Nhà nước đối với đất sau thu hồi
1.4.6. Một số gợi mở đối với Việt Nam
Thứ nhất, pháp luật Trung Quốc quy định cụ thể về các trường hợp thu hồi đất, về bồi th-
ường thiệt hại cho người có đất bị thu hồi, quản lý nhà nước đối với đất sau khi thu hồi. Đặc
biệt là các quy định về tiền hỗ trợ mất việc làm, chuyển đổi nghề, cách thức quản lý và sử
dụng khoản tiền hỗ trợ này, chính sách quản lý đối với đất nhàn rỗi v.v là những kinh
nghiệm hay mà Việt Nam có thể tham khảo và áp dụng để hoàn thiện mảng quy định của pháp
luật về lĩnh vực này;
Thứ hai, quá trình công nghiệp hóa nền kinh tế của Trung Quốc đã tác động mạnh mẽ đến
việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phân bố lại lực lượng lao động; một số lượng không nhỏ diện
tích đất nông nghiệp được chuyển đổi mục đích sử dụng thành đất phi nông nghiệp đã kéo
theo hàng loạt các vấn đề mà Chính phủ Trung Quốc phải giải quyết như: ổn định đời sống,
chuyển đổi nghề nghiệp, công ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất.v.v. Đây cũng
chính là những vấn đề mà Việt Nam đã và đang gặp phải trong quá trình chuyển đổi với mục
tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế. Chính vì vậy, kinh nghiệm giải quyết các vấn
đề nói trên của Trung Quốc là những bài học rất có giá trị để Việt Nam tham khảo, tìm ra
được giải pháp phù hợp nhất để giải quyết "bài toán" đất đai cho nhu cầu phát triển và đảm
bảo quyền lợi cho người nông dân bị mất đất sản xuất;
Thứ ba, Trung Quốc thực hiện việc bồi thường cho người có đất bị thu hồi dựa trên cơ
sở lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của người dân nhằm bảo đảm quyền và lợi ích chính đáng

- Tổ chức được Nhà nước giao đất không thu tiền SDĐ thì tiền bồi thường và kinh phí tổ
chức thực hiện được tính vào vốn đầu tư của dự án;
- Tổ chức, cá nhân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thu tiền SDĐ, tiền thuê đất
có trách nhiệm chi trả trước tiền bồi thường và kinh phí tổ chức thực hiện việc bồi thường
theo các quy định tại Nghị định 197/2004/NĐ-CP và được trừ vào tiền SDĐ, tiền thuê đất
phải nộp;
- Tổ chức, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài đầu tư vào Việt
Nam được Nhà nước giao đất, cho thuê đất có thu tiền SDĐ, tiền thuê đất thì không phải trả
vào tiền SDĐ hoặc tiền thuê đất phải nộp;
- Mức trừ không vượt quá số tiền SDĐ, tiền thuê đất phải nộp;
Hơn nữa, pháp luật hiện hành còn quy định tùy từng trường hợp cụ thể, người bị thu hồi
đất, bị thiệt hại về tài sản gắn liền với đất bị thu hồi sẽ được bồi thường hoặc hỗ trợ về tài sản
trên đất bị thu hồi, hỗ trợ di chuyển chỗ ở, hỗ trợ ổn định đời sống, hỗ trợ đào tạo chuyển đổi
nghề, hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống tại khu tái định cư.
2.1.2. Những quy định về bồi thường về đất
Trong mục này, luận văn đi sâu nghiên cứu, phân tích về nguyên tắc bồi thường về đất;
điều kiện được bồi thường về đất; giá đất để tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại;

8
bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất của hộ gia đình, cá nhân và bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi
đất của tổ chức.
2.1.2.1. Quy định về nguyên tắc bồi thường về đất
Thứ nhất, thực hiện bồi thường hoặc hỗ trợ đối với toàn bộ diện tích đất bị Nhà nước thu
hồi;
Thứ hai, người bị thu hồi đất đang SDĐ vào mục đích nào thì được bồi thường bằng việc
giao đất mới có cùng mục đích sử dụng; nếu không có đất để bồi thường thì được bồi thường
bằng giá trị quyển sử dụng đất (QSDĐ) tại thời điểm có quyết định thu hồi; trường hợp bồi
thường bằng việc giao đất mới hoặc bằng nhà, nếu có chênh lệch về giá trị thì phần chênh
lệnh đó được thực hiện thanh toán bằng tiền.
2.1.2.2. Quy định về điều kiện bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất

nước thu hồi đất.
(i) Nguyên tắc xác định giá đất tính bồi thường và chi phí đầu tư vào đất còn lại khi Nhà
nước thu hồi đất

9
Nguyên tắc xác định giá đất để tính bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất được quy định
tại Điều 56 Luật Đất đai năm 2003, bao gồm:
a) Sát với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường;
khi có chênh lệch lớn so với giá chuyển nhượng QSDĐ thực tế trên thị trường thì phải điều
chỉnh cho phù hợp;
b) Các thửa đất liền kề nhau, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, kết cấu hạ tầng như
nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử dụng theo quy hoạch thì mức giá
như nhau;
c) Đất tại khu vực giáp ranh giữa các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, có điều kiện
tự nhiên, kết cấu hạ tầng như nhau, có cùng mục đích sử dụng hiện tại, cùng mục đích sử
dụng theo quy hoạch thì mức giá như nhau.
(ii) Thực trạng áp dụng quy định về giá đất để tính bồi thường, hỗ trợ khi Nhà nước thu
hồi đất
Tìm hiểu thực trạng áp dụng quy định về giá đất để xác định bồi thường, hỗ trợ khi Nhà
nước thu hồi đất cho thấy một số tồn tại chủ yếu sau đây:
Thứ nhất, khi Nhà nước thu hồi đất, ngoài yếu tố giá đất thì loại đất bị thu hồi là yếu tố
cơ bản thứ hai quyết định tổng giá trị mà người bị thu hồi đất được nhận. Tuy nhiên, hiện nay
tại thời điểm Nhà nước có quyết định thu hồi đất, một thửa đất có thể có hai mục đích "đang
sử dụng". Mục đích do pháp luật quy định và mục đích sử dụng thực tế mà người SDĐ đang
sử dụng. Khi Nhà nước thu hồi đất, giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang
sử dụng do pháp luật quy định. Nhưng trong nhiều trường hợp người bị thu hồi đất không
chấp nhận giá bồi thường theo mục đích SDĐ mà cố tình đòi bồi thường theo giá đất mà họ
đã tự chuyển mục đích sử dụng trái pháp luật gây khó khăn cho việc thu hồi đất, giải phóng
mặt bằng (GPMB);
Thứ hai, căn cứ để xác định mục đích SDĐ là quy hoạch, kế hoạch SDĐ được lập và phê

công bố mà không được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép xây dựng; nhà, công trình
khác gắn liền với đất được xây dựng sau ngày 01/7/2004 mà tại thời điểm xây dựng đã trái với
mục đích SDĐ đã được xác định trong quy hoạch, kế hoạch SDĐ được xét duyệt; tài sản gắn
liền với đất được tạo lập sau khi có quyết định thu hồi đất được công bố thì không được bồi
thường;
- Hệ thống máy móc, dây chuyền sản xuất có thể tháo dời và di chuyển được, thì chỉ được
bồi thường các chi phí tháo dỡ, vận chuyển, lắp đặt và thiệt hại khi tháo dỡ, vận chuyển, lắp
đặt; mức bồi thường do Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh quy định phù hợp với pháp luật
hiện hành và thực tế ở địa phương.
2.1.3.2. Quy định về bồi thường, hỗ trợ về tài sản trong các trường hợp cụ thể
(i) Quy định bồi thường về nhà, công trình xây dựng trên đất
(ii) Quy định bồi thường về di chuyển mồ mả, công trình văn hóa, di tích lịch sử, nhà thờ,
đền, chùa, am, miếu, cây trồng, vật nuôi
Qua nghiên cứu các quy định của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ về tài sản, nội dung các
quy định này vẫn còn bộc lộ một số bất cập sau đây:
- Giá nhà, công trình được bồi thường vẫn thấp hơn số tiền mà người bị thu hồi đất phải
bỏ ra để xây dựng nhà, công trình mới. Đối với nhà, công trình xây dựng khác không được
bồi thường theo đơn giá xây dựng mới của nhà, công trình có tiêu chuẩn kỹ thuật tương
đương là không hợp lý vì thực tế, không thể dùng số tiền được bồi thường để xây dựng lại
một công trình có chất lượng, mức độ khấu hao tương đương với công trình đã bị phá dỡ;
- Đối với nhà, công trình đã được xây dựng trước ngày 01/7/2004 trên đất không được bồi
thường mà khi xây dựng vi phạm quy hoạch, kế hoạch SDĐ, vi phạm hành lang bảo vệ công trình
đã được công bố, cắm mốc thì không được bồi thường. Tuy nhiên, thực tế, việc lập quy hoạch, kế
hoạch SDĐ và công bố, cắm mốc còn quá nhiều bất cập, dẫn đến việc lấn chiếm đất đai, xây dựng
nhà, công trình không phép, sai phép rất phổ biến và việc giải quyết bồi thường khi Nhà nước thu
hồi đất đảm bảo thỏa đáng nhưng đúng pháp luật là hết sức khó khăn và phức tạp;
- Việc bồi thường di chuyển mồ mả trong thực tế không gặp khó khăn về mức bồi thường
song lại gặp khó khăn về thời gian di chuyển và chưa có giải pháp để khắc phục. Việc chuẩn
bị sẵn nơi di chuyển, chôn cất tập trung chưa được quan tâm chuẩn bị trước và chưa có quy
định bắt buộc thực hiện cũng là nguyên nhân gây khó khăn, làm kéo dài thời gian thực hiện;

nhu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; thể chế hóa quan điểm, chủ
trương, đường lối của Đảng về lĩnh vực đất đai trong công tác bồi thường, GPMB; góp phần
đáng kể vào việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người SDĐ; giúp họ nhanh chóng ổn
định đời sống và sản xuất và có những đóng góp tích cực vào việc duy trì ổn định chính trị và
đảm bảo an sinh xã hội v.v ;
- Nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân và đội ngũ cán bộ quản lý đất đai
các cấp trong quản lý và sử dụng đất đai;
- Đối tượng được bồi thường, hỗ trợ, tái định cư ngày càng được xác định đầy đủ chính
xác, giúp cho công tác quản lý đất đai của Nhà nước được nâng cao, người nhận bồi thường
cũng thấy thỏa đáng. Mức bồi thường, hỗ trợ ngày càng cao tạo điều kiện cho người dân bị
thu hồi đất có thể khôi phục lại tài sản bị mất. Một số biện pháp hỗ trợ đã được bổ sung và
quy định rất rõ ràng, thể hiện được tinh thần đổi mới của Đảng và Nhà nước nhằm giúp cho
người dân ổn định về đời sống và sản xuất;
- Các địa phương trên cơ sở các quy định của Luật Đất đai năm 2003; định hướng chính
sách của Đảng và Nhà nước và tình hình thực tế tại địa phương để áp dụng cho địa phương
mình, làm cho công tác bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được thực hiện hợp lý và đạt hiệu quả
cao hơn; mặc dù vẫn còn những khiếu nại nhưng con số này ít và không gây trở ngại đáng kể
trong quá trình thực hiện.
2.2.2. Một số tồn tại của pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà nước thu
hồi đất
Bên cạnh những kết quả đạt được, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất khi triển khai trên thực tế còn bộc lộ một số tồn tại cơ bản sau đây:

12
Thứ nhất, mặc dù pháp luật đã quy định giá đất để tính bồi thường sát với giá chuyển nhượng
QSDĐ thực tế trên thị trường trong điều kiện bình thường, nhưng trên thực tế lại diễn ra những
bất cập xung quanh vấn đề này cụ thể như sau:
- Tình trạng hai giá đất trên thị trường, một bên là mức giá để tính bồi thường cho nông
dân rất thấp và bên kia là giá trị đất sau khi chuyển đổi mục đích SDĐ từ đất nông nghiệp
tăng lên rất cao, là một kẽ hở lớn tạo điều kiện cho nạn quan liêu, tham nhũng, đầu cơ và tạo

Thứ ba, các quy định về đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp cho người trực tiếp sản xuất
nông nghiệp bị thu hồi đất nông nghiệp mà không có diện tích đất nông nghiệp mới để giao
khó đi vào cuộc sống. Do thiếu cơ chế đồng bộ, đầy đủ và cụ thể để thực thi. Trên thực tế, cơ
quan có trách nhiệm thực hiện bồi thường, GPMB mới chỉ chú ý đến việc bồi thường, hỗ trợ
về đất và thiệt hại về tài sản trên đất mà dường như chưa quan tâm giải quyết vấn đề tạo công
ăn, việc làm cho người nông dân bị mất đất sản xuất;
Thứ tư, pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất chưa giải
quyết tốt mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, chủ đầu tư và người bị thu hồi đất
cũng như chưa xử lý được mối quan hệ về lợi ích kinh tế giữa người bị thu hồi đất ở phải di
chuyển chỗ ở với người không phải di chuyển chỗ ở được hưởng lợi từ việc thu hồi đất v.v

13

Chương 3
ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ
BỒI THƯỜNG, HỖ TRỢ, TÁI ĐỊNH CƯ KHI NHÀ NƯỚC THU HỒI ĐẤT
3.1 Sự cần thiết của việc hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi
Nhà nước thu hồi đất
Thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất là vấn đề phức tạp và
nhạy cảm, có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất. Pháp
luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất có vai trò quan trọng trong
việc giải quyết các mâu thuẫn về lợi ích kinh tế giữa Nhà nước, người bị thu hồi đất và chủ
đầu tư. Tuy nhiên quá trình áp dụng các quy định của pháp luật vào bồi thường, hỗ trợ, tái
định cư khi Nhà nước thu hồi đất vẫn bộc lộ những tồn tại, bất cập. Điều này đặt ra yêu cầu
phải tiếp tục hoàn thiện các quy định về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi
đất để góp phần làm giảm các vụ việc tranh chấp, khiếu kiện đông người; đảm bảo quyền, lợi
ích cho người có đất bị thu hồi.
3.2 Định hướng hoàn thiện pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà
nước thu hồi đất
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật về bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi

thông báo thu hồi đất được Luật đất đai năm 2003 quy định quá dài như vậy là không cần
thiết.
3.3.2. Sửa đổi, bổ sung quy định về thu hồi đất và quản lý quỹ đất đã thu hồi
Theo Luật Đất đai năm 2003 và các văn bản hướng dẫn thi hành, Nhà nước thực hiện việc
thu hồi đất sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và
sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh tế có tầm quan trọng đặc biệt đối với đất nước. Còn
đối với các dự án phát triển kinh tế khác, Nhà nước không thực hiện việc thu hồi đất mà muốn
có đất thì nhà đầu tư thỏa thuận việc bồi thường với người sử dụng đất. Nhưng thực tế thi
hành các quy định này thời gian qua cho thấy việc nhà đầu tư thỏa thuận bồi thường với người sử
dụng đất gặp rất nhiều khó khăn, phức tạp. Vì vậy, chúng tôi cho rằng nên sửa đổi quy định hiện
hành về cơ chế thu hồi đất theo hướng mọi trường hợp sử dụng đất vào mục đích phát triển kinh
tế đều do Nhà nước đứng ra thu hồi đất và giao cho Tổ chức phát triển quỹ đất thực hiện việc
bồi thường cho người bị thu hồi đất.
3.3.3. Sửa đổi, bổ sung quy định về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư cho người có đất
bị thu hồi
Theo chúng tôi việc sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện quy định bồi thường, hỗ trợ và tái định
cư cho người có đất bị thu hồi của Luật Đất đai năm 2003 như sau:
- Sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường cho người sử dụng đất khi bị Nhà
nước thu hồi đất theo giải pháp sau đây:
1. Nên quy định việc tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi thường trên thực tế;
2. Đối với trường hợp thu hồi đất nông nghiệp của nông dân thì ngoài việc họ được bồi
thường theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm thu hồi cần quy định một tỷ lệ hỗ trợ nhằm để
thưởng khuyến khích đối với những người bị thu hồi đất chấp hành nghiêm chỉnh, nhanh
chóng việc bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư. Khoản hỗ trợ này được trích từ khoản
chênh lệch giữa giá đất bồi thường với giá đất sau khi đã chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp.
3. Cần nghiên cứu, xây dựng quy định về bồi thường thiệt hại về tinh thần cho người bị
thu hồi đất.
- Bên cạnh các quy định hiện hành về giải quyết vấn đề công ăn, việc làm bảo đảm đời
sống của người nông dân bị mất đất sản xuất; Nhà nước nên xây dựng, bổ sung quy định về

thường theo giá đất nông nghiệp tại thời điểm thu hồi cần quy định một tỷ lệ hỗ trợ nhằm để
thưởng khuyến khích đối với những người bị thu hồi đất chấp hành nghiêm chỉnh, nhanh
chóng việc bàn giao mặt bằng cho các nhà đầu tư. Khoản hỗ trợ này được trích từ khoản
chênh lệch giữa giá đất bồi thường với giá đất sau khi đã chuyển mục đích sử dụng đất nông
nghiệp;
(ii) Bên cạnh các quy định hiện hành về giải quyết vấn đề công ăn, việc làm bảo đảm đời
sống của người nông dân bị mất đất sản xuất; Nhà nước nên xây dựng, bổ sung quy định về
việc thành lập quỹ trợ cấp thất nghiệp, quỹ giải quyết việc làm cho người nông dân bị mất đất
nông nghiệp. Một phần kinh phí để thành lập các quỹ này do các doanh nghiệp được hưởng
lợi từ việc thu hồi đất của người nông dân đóng góp.
- Sửa đổi quy định về thời điểm tính giá bồi thường cho người sử dụng đất khi bị Nhà
nước thu hồi đất; theo đó: Nên quy định việc tính giá bồi thường theo thời điểm trả tiền bồi
thường trên thực tế.

References
1. Ban Chỉ đạo Trung ương chuẩn bị Đề án chính sách đất đai - Ban kinh tế Trung ương)
(2002), Báo cáo của Đoàn nghiên cứu, khảo sát về chính sách, pháp luật đất đai
của Trung Quốc, tháng 8, Hà Nội.
2. Ban chỉ đạo Trung ương chuẩn bị đề án chính sách đất đai - Ban Kinh tế Trung ương
(2002), Báo cáo của đoàn nghiên cứu, khảo sát về chính sách, pháp luật đất đai
của Đài Loan, tháng 9, Hà Nội.
3. Ban Kinh tế Trung ương (2004), Báo cáo của đoàn nghiên cứu, khảo sát tại Trung Quốc
về cải cách xí nghiệp quốc hữu; xây dựng và quản lý thị trường bất động sản; đền

16
bù, giải tỏa mặt bằng và tổ chức tái định cư cho người có đất bị thu hồi, tháng 4,
Hà Nội.
4. Bộ Tài chính (2004), Hệ thống văn bản pháp luật mới về đất đai, nhà ở và thuế nhà đất,
Nxb Tài chính, Hà Nội.
5. Bộ Tài nguyên và Môi trường (2007), Báo cáo tình hình công tác quản lý đất đai (2003-

18. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb
Sự thật, Hà Nội.
19. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Đảng toàn tập, tập 2 (1930), Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1998), Văn kiện Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung
ương khóa VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
23. Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn phòng Trung ương Đảng (2002), "Một số vấn đề trong
pháp luật, chính sách đất đai của Trung Quốc", Thông tin chuyên đề, (40).
24. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Đảng thời kỳ đổi mới (Đại hội VI, VII, VIII,
IX) về phát triển kinh tế - xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
25. Đảng Cộng sản Việt Nam (2005), Văn kiện Hội nghị lần thứ chín Ban Chấp hành Trung
ương khóa IX, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
26. Nguyên Đào (2007), Giá đất chưa hợp lý là kẽ hở cơ chế xin - cho", Báo Kinh tế và Đô
thị, ngày 27/02.
27. Nguyễn Điền (2000), "Vấn đề sở hữu và sử dụng ruộng đất ở nước ta", Nghiên cứu kinh
tế, (271).
28. Lại Ngọc Hải (2006), "Về giải quyết việc làm cho nông dân ở những nơi thu hồi đất",
Báo nhân dân, ngày 05/3.
29. Phạm Xuân Hoàng (2004), "Bàn về giá đất theo quy định của Luật Đất đai năm 2003",
Nghiên cứu lập pháp, (7).

18
30. Hội Khoa học Kỹ thuật xây dựng Việt Nam (2002), Đền bù và giải phóng mặt bằng các
dự án xây dựng ở Việt Nam, Kỷ yếu hội thảo, Hà Nội.
31. Trần Quang Huy (2003), "Các vấn đề pháp lý về tài chính đất đai và giá đất", Luật học,
(Đặc san Luật Đất đai năm 2003).

luật đất đai, do Ban Kinh tế Trung ương tổ chức tại Hà Nội, ngày 14-15/5.
44. Phạm Hữu Nghị (2001), "Luật Đất đai năm 1993 qua hai lần sửa đổi, bổ sung", Nhà nước
và pháp luật, (10).
45. Phạm Hữu Nghị (2004), "Về những điểm mới của Luật Đất đai năm 2003 qua hai lần sửa
đổi, bổ sung", Nhà nước và pháp luật, (10).
46. Phạm Duy Nghĩa (2002), Vai trò của pháp luật đất đai trong việc kiềm chế những cơn sốt
đất", Nhà nước và pháp luật, (5).
47. Phạm Duy Nghĩa (2002), "Quyền tài sản trong cải cách kinh tế: quan niệm, một vài bài học
nước ngoài và kiến nghị", Nghiên cứu lập pháp, (11).
48. Phạm Duy Nghĩa (2004), "Một số bình luận về Luật Đất đai năm 2003 dưới khía cạnh
chính sách pháp luật", Nghiên cứu lập pháp, (6).
49. Phạm Duy Nghĩa (2004), Chuyên khảo Luật Kinh tế, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà
Nội.
50. Lê Phúc (2009), "Cẩn trọng khi thu hồi đất nông nghiệp", Báo điện tử đài tiếng nói Việt
Nam, ngày 02/4.
51. Anh Phương (2008), "Một số kiến nghị về công tác thu hồi đất, giải tỏa, giải phóng mặt
bằng đạt hiệu quả", Tạp chí Cộng sản điện tử, ngày 17/11.
52. Đặng Anh Quân (2005), "Bàn về giá đất khi bồi thường nên cao hay nên thấp", Tài
nguyên và Môi trường, (8).
53. Quốc hội (1993), Luật Đất đai, Hà Nội.
54. Quốc hội (2003), Luật Đất đai, Hà Nội
55. Nguyễn Duy Thạch (2007), Pháp luật về bồi thường, hỗ trợ và tái định cư khi Nhà nước
thu hồi đất (Qua thực tiễn thi hành tại thành phố Hà Nội), Luận văn thạc sĩ Luật học,
Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội.
56. Nguyễn Văn Thạo, Nguyễn Hữu Đạt (đồng chủ biên) (2004), Một số vấn đề sở hữu ở
nước ta hiện nay, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.

20
57. Đinh Trọng Thắng (2002), "Sở hữu tư nhân về đất đai hay về quyền sử dụng đất đai:
Kinh nghiệm quốc tế và một vài liên hệ với Việt Nam", Tài chính, (7).

nhân dân thành phố Hà Nội về công tác giải phóng mặt bằng trên địa bàn thành phố
(2000-2006), Hà Nội.
72. Hoàng Vân (2006), "Dân lãnh đủ vì dự án treo!", Báo Pháp luật Việt Nam, ngày 26/02.
73. Viện Nghiên cứu Địa chính - Tổng cục Địa chính (2000), Báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu đề tài độc lập cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học cho việc hoạch định các
chính sách và sử dụng hợp lý quỹ đất đai, Hà Nội.
74. Đặng Hùng Võ, "Vào WTO, đất đai có còn là sở hữu toàn dân?",
.
75. Đặng Hùng Võ (2005), "Giải phóng mặt bằng, còn nhiều khiếu kiện", Báo Kinh tế và Đô
thị, ngày 09/10.
76. Phạm Văn Võ (2003), "Về mối quan hệ giữa Nhà nước với người sử dụng đất và sự thể
hiện mối quan hệ này trong dự thảo Luật Đất đai", Nhà nước và Pháp luật, (10).
77. Nguyễn Như Ý (chủ biên) (2001), Từ điển Tiếng Việt thông dụng, Nxb Giáo dục, Hà Nội.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status