Môi trường pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị - Pdf 17

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
Khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh là một bộ phận cấu thành thống
nhất của nền kinh tế quốc dân. Sự nhận thức lại của Đảng và Nhà nớc ta về vị trí
và vai trò của khu vực này trong nền kinh tế nớc ta đã có tác dụng to lớn thúc
đẩy sự phát triển của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh nói riêng và nền
kinh tế nớc ta nói chung. Từ đổi mới về nhận thức và t tởng, Đảng và Nhà nớc ta
đã đa ra nhiều chính sách mới. sửa đổi và bổ xung một số chính sách cũ nhằm
tạo ra một môi trờng thuận lợi cho hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế cản trở
quá trình hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Các
doanh nghiệp vẫn gặp nhiều khó khăn do các thủ tục hành chính phức tạp, sự
đối xử bất bình đẳng trong một số chính sách nh chính sách tín dụng, chính
sách đất đai
Xuất phát từ thực tế trên đồng thời đứng trớc những thách thức của quá
trình hội nhập khu vực và thế giới đòi hỏi các doanh nghiệp phải mạnh để có thể
đủ sức cạnh tranh và phát triển. Từ nhận thức trên, em đã mạnh dạn chọn đề
tài : Môi trờng pháp luật của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở Việt
Nam hiện nay. Thực trạng và một số kiến nghị.
1. Mục đích và ý nghĩa của đề tài
Đề tài đề cập đến một vấn đề có ý nghĩa lớn về lý luận cũng nh thực tiễn
trong quá trình nền kinh tế nớc ta chuyển sang cơ chế thị trờng và mở cửa để
hội nhập với khu vực và thế giới hiện nay. Nội dung nghiên cứu của đề tài nhằm
làm sáng tỏ những vấn đề sau:
- Đặc điểm, vị trí và vai trò của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh
trong nền kinh tế nớc ta.
- Thực trạng môi trờng pháp luật và những ảnh hởng của nó tới quá trình
hoạt động và phát triển của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh.
Việc lý giải những vấn đề trên tạo điều kiện tìm ra những giải pháp nhằm
hoàn thiện môi trờng pháp luật để thúc đẩy sự phát triển của các doanh nghiệp
ngoài quốc doanh nói riêng và của cả nền kinh tế nớc ta nói chung.

chỉnh bằng các quy phạm pháp luật. Pháp luật trở thành công cụ tối quan trọng
của nhà nớc để điều chỉnh các quan hệ xã hội và quản lý sự vận hành của nền
kinh tế-xã hội theo mục tiêu đã định.
Pháp luật là một hệ thống các quy phạm có tính bắt buộc chung, do nhà
nớc ban hành và đợc nhà nớc bảo đảm thực thi trong một thời gian dài để điều
chỉnh các quan hệ xã hội.
Cũng nh mọi nhà nớc khác, bản chất pháp luật của nhà nớc ta phù hợp
với bản chất của nhà nớc, do bản chất, đặc điểm và những nhiệm vụ của nhà n-
ớc trong từng thời kỳ quyết định.
Điều 2- Hiến pháp 1992 xác định:Nhà nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam là nhà nớc của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân. Tất cả quyền
lực nhà nớc thuộc về mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân với giai cấp
công nhân và tầng lớp trí thức.
Vì lẽ đó, pháp luật của nhà nớc ta về bản chất là pháp luật xã hội chủ
nghĩa. Nó thể hiện ý chí của giai cấp công nhân, đồng thời phản ánh, thể hiện ý
chí, lợi ích của các tầng lớp nhân dân lao động khác và của cả dân tộc.
Nói pháp luật thể hiện ý chí và lợi ích của toàn thể nhân dân lao động
không có nghĩa là phủ nhận tính giai cấp của pháp luật nhà nớc ta. Vấn đề ở chỗ
khi pháp luật phản ánh, bảo vệ lợi ích của các giai cấp, của dân tộc phải đứng
trên quan điểm, lập trờng của Đảng. Đó là nguyên tắc hàng đầu của pháp luật
nhà nớc trong giai đoạn hiện nay.
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, đơng nhiên còn tồn tại các lợi ích
khác nhau của các thành phần khác nhau. Pháp luật đơng nhiên phải bảo vệ lợi
ích và tạo điều kiện cho các thành phần đó phát triển phù hợp với định hớng
phát triển nền kinh tế nhiều thành phần của Đảng và Nhà nớc ta.
3
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1.2. Vai trò của pháp luật
a. Pháp luật là công cụ thực hiện đờng lối, chính sách của Đảng.
Sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Việt Nam là nhân tố quyết định đảm bảo

quan mới xã hội mới phát triển phù hợp với các quy luật kinh tế khách quan mà
4
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
nó còn là công cụ hớng dẫn, khuyến khích, thúc đẩy, điều chỉnh sự phát triển
của xã hội, đặc biệt trong sự phát triển của nền kinh tế đất nớc.
Nói cách khác pháp luật còn tạo môi trờng cho các quan hệ kinh tế mới
phát triển. Trên ý nghĩa đó, pháp luật của nhà nớc ta hiện nay có ý nghĩa vô
cùng quan trọng trong việc phát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần
theo cơ chế thị trờng có sự quản lý của nhà nớc, theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Để đáp ứng yêu cầu đó, pháp luật phải tạo nên một môi trờng pháp lý an
toàn, thuận lợi và bình đẳng cho các doanh nghiệp tồn tại và phát triển, nâng
cao sức cạnh tranh của mình cũng nh của nền kinh tế. Mặt khác, pháp luật cũng
tạo điều kiện cho nhà nớc có thể thực hiện đợc vai trò ngời điều hành nền kinh
tế thị trờng, hớng nó phát triển theo các mục tiêu đã định, khắc phục và hạn chế
những mặt trái vốn có của nền kinh tế thị trờng. Pháp luật cũng phải là công cụ
để nhà nớc kiểm soát các hoạt động kinh doanh, trừng trị các hành vi làm ăn phi
pháp, thực hiện sự công bằng trong sản xuất và phân phối. Một vai trò quan
trọng khác của pháp luật trong quản lý nhà nớc là nó xác lập, củng cố và hoàn
thiện những cơ sở pháp lý của quản lý nhà nớc, đặc biệt là quản lý nhà nớc về
kinh tế.
Trên ý nghĩa đó, pháp luật hiện nay của nhà nớc phải là cơ sở pháp lý để
hoàn thiện bộ máy nhà nớc phù hợp với cơ chế quản lý mới, từ hoạt động lập
pháp đến hoạt động hành pháp và t pháp.
2. Doanh nghiệp ngoài quốc doanh và vị trí của nó trong nền kinh tế nớc
ta.
2.1 Doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Trong nền kinh tế nhiều thành phần, mỗi đơn vị kinh doanh là một tổ
chức của những ngời sản xuất hàng hoá thuộc các thành phần kinh tế khác
nhau. Họ đầu t vốn, thuê mớn và sử dụng lao động để sản xuất một loại hàng
hoá hay thực hiện một loại dịch vụ nhất định qua đó tìm kiếm lợi nhuận.Trong

hữu công ty.
- Sở hữu một chủ là hình thức sở hữu phổ biến và lâu đời nhất. Doanh
nghiệp sở hữu một chủ là doanh nghiệp do một cá nhân nắm quyền sở hữu.
- Sở hữu nhóm là một nhóm gồm hai hay nhiều ngời với vai trò là các
thành viên đồng sở hữu cùng hoạt động kinh doanh nhằm thu lợi nhuận.
- Sở hữu công ty là một thực thể nhân tạo, không nhìn thấy đợc và chỉ tồn
tại trên giấy tờ pháp lý. Công ty là một pháp nhân và tách biệt hẳn với các chủ
sở hữu của nó.
Từ ba hình thức cơ sở hữu t nhân trên mà tơng ứng có các doanh nghiệp
sở hữu một chủ, doanh nghiệp sở hữu nhóm và doanh nghiệp thuộc hình thức sở
hữu công ty.
6
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
ở Việt Nam, phần đông các nhà kinh tế cho rằng có ba hình sở hữu trong
hoạt động kinh doanh là: sở hữu công cộng, sở hữu tập thể và sở hữu t nhân.
Trên cơ sở sở hữu t nhân và sở hữu tập thể, khu vực doanh nghiệp ngoài quốc
doanh ở nớc ta bao gồm:
a. Doanh nghiệp t nhân
Doanh nghiệp t nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp. Đây là một hình thức sở hữu tơng ứng với hình thức sở hữu một
chủ ở các nớc trên thế giới. Doanh nghiệp t nhân không có t cách pháp nhân và
chịu chế độ trách nhiệm vô hạn trong hoạt động kinh doanh.
b. Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên
Công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên là công ty do một
tổ chức làm chủ sở hữu, chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa
vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.
Theo Điều 14 Nghị định 03/2000/NĐ-CP thì chủ sở hữu công ty phải là
một pháp nhân và có thể là: cơ quan Nhà nớc, đơn vị vũ trang, các pháp nhân
của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội, các loại

Hợp tác xã là tổ chức kinh tế tự chủ do những ngời lao động có nhu cầu,
có lợi ích chung tự nguyện cùng góp vốn, góp sức lập ra theo qui định của pháp
luật để phát huy sức mạnh của tập thể và của từng xã viên nhằm giúp nhau thực
hiện có hiệu quả hơn các hoạt động sản xuất. Hợp tác xã thuộc loại hình sở hữu
tập thể.
Hình 1. Các loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
2.3 Vị trí và vai trò của doanh nghiệp ngoài quốc doanh trong nền kinh tế
nớc ta.
Trong nền kinh tế của các nớc trên thế giới, vị trí và vai trò của doanh
nghiệp ngoài quốc doanh luôn thay đổi qua các giai đoạn lịch sử cùng với sự
8
Doanh
nghiệp
t nhân
Công
ty
TNHH
Công
ty
cổ
phần
Công
ty
hợp
doanh
Hợp
tác xã
Hệ thống
doanh nghiệp ngoài quốc doanh
Website: Email : Tel (: 0918.775.368

9
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
vốn, lao động và tài năng của ngời dân vào hoạt động sản xuất-kinh doanh, tạo
công ăn việc làm cho ngời dân, nâng cao thu nhập cho ngời lao động và cho
ngân sách Nhà nớc.
b. Vai trò của doanh ngiệp ngoài quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
Từ khi nền kinh tế nớc ta chuyển đổi sang cơ chế mới, khu vực doanh
ngiệp ngoài quốc doanh đợc chấp nhận chính thức về mặt pháp lý thì khu vực
này đã từng bớc hình thành, phát triển và hoạt động trên nhiều lĩnh vực của nền
kinh tế nh công nghiệp, xây dựng, nông nghiệp và dịch vụ với mức độ khác
nhau và dần có vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế.
Nếu nh năm 1991 chỉ có 123 doanh ngiệp đăng ký kinh doanh theo luật
thì năm 1993 là 12.131 doanh ngiệp và đến nay là trên 60.000 doanh nghiệp.
Nộp ngân sách của khu vực này từ 51 tỷ đồng năm 1991 nâng lên 1.051 tỷ đồng
vào cuối năm 1994. Số lao động bình quân trong các doanh ngiệp là 25 ngời vào
thời điểm giữa năm 1998, trong đó có một số ít doanh ngiệp có số lao động lên
tới 2.000, 5.000 thậm chí là 10.000 ngời. Vào năm 1999, mặc dù nền kinh tế có
nhiều khó khăn do ảnh hởng của cuộc khủng hoảng tài chính khu vực và thế
giới thì khu vực này vẫn tạo ra hơn 7% GDP của cả nớc và cho đến nay con số
này là khoảng 9%. Qua số liệu trên có thể thấy vai trò tích cực của các doanh
ngiệp ngoài quốc doanh đó là:
Thu hút và giải quyết việc làm cho lực lợng lớn lao động, giảm bớt sự
căng thẳng dôi thừa lao động trong xã hội, góp phần tạo sự ổn định tình hình xã
hội.
Thu hút một phần vốn lớn trong dân c vào hoạt động sản xuất-kinh doanh
qua đó phát huy đợc nguồn nội lực của đất nớc.
Sản xuất một khối lợng sản phẩm và dịch vụ nhằm đáp ứng một phần nhu
cầu về hàng tiêu dùng của các tầng lớp dân c, mặt khác đóng góp cho Nhà nớc
một khoản ngân sách không nhỏ góp phần tăng ngân sách Nhà nớc.
Trong nền kinh tế thị trờng, các DNNQD phải bằng mọi cách hiện đại

Phần II
Thực trạng môi trờng pháp luật của các doanh
nghiệp ngoai quốc doanh ở nớc ta hiện nay.
Các doanh nghiệp ngoai quốc doanh cũng giống nh tất cả các doanh
nghiệp khác đều nằm trong một môi trờng vĩ mô nhất định và chịu sự tác động
của các yếu tố thuộc môi trờng này. Mối quan hệ giữa các doanh nghiệp ngoai
quốc doanh với môi trờng vĩ mô có thể đợc thể hiện theo sơ đồ sau:
Hình 2. Sơ đồ mối quan hệ giữa DNNQD với môi trờng vĩ mô
Môi trờng pháp luật là một trong những yếu tố thuộc môi trờng vĩ mô, nó
là điều kiện tiên quyết cho sự tồn tại và phát triển của các loại hình doanh
nghiệp. Một môi trờng pháp luật ổn định, thuận lợi và bình đẳng sẽ đảm bảo
cho các doanh nghiệp yên tâm đầu t vào sản xuất-kinh doanh.
12
Môi trường Môi trường
pháp luật VH-XH
Môi trường Môi trư
ờng
KH-CN kinh tế
Khách hàng
Nhà
phân phối
Nhà cung Đối
thủ
cấp cạnh tranh
Doanh
nghiệp ngoài
quốc doanh
Website: Email : Tel (: 0918.775.368
1. Quá trình đăng ký kinh doanh và các thủ tục hành chính trớc khi đi vào
hoạt động của doanh nghiệp.

Website: Email : Tel (: 0918.775.368
kinh doanh. Nhờ vậy thủ tục thành lập doanh nghiệp đã trở nên thuận tiện và
đơn giản hơn rất nhiều.
Sau hơn 2 năm thi hành Luật Doanh nghiệp (tính đến 1-5-2002) đã có
42576 doanh nghiệp mới đăng ký thành lập với số vốn mới đăng ký xấp xỉ
50.000 tỷ đồng, đồng thời tạo ra khoảng 700.000 chỗ làm việc mới. Các doanh
nghiệp cũng tăng thêm đầu t, mở rộng thêm qui mô và địa bàn kinh doanh dới
nhiều hình thức nh mở thêm chi nhánh, văn phòng đại diện, bổ xung thêm vốn
đầu t...(cả nớc đã có khoảng 9200 chi nhánh và 900 văn phòng đại diện đăng ký
thành lập). Bên cạnh sự gia tăng nhanh chóng về số lợng doanh nghiệp thì các
ngành nghề kinh doanh đợc đăng ký cũng đa dạng và phong phú hơn cũ rất
nhiều. Đa số doanh nghiệp đã nhận thức đợc sự thay đổi về quyền kinh doanh
và nhanh chóng phát huy sáng kiến, tận dụng các cơ hội kinh doanh trên
nguyên tắc đợc kinh doanh tất cả những gì mà pháp luật không cấm.
Cái đợc lớn nhất của Luật doanh nghiệp là đã tạo bớc đột phá trong việc
cải cách thủ tục hành chính trong quản lý Nhà nớc đối với doanh nghiệp ở nớc
ta. Trong 2 năm qua, các cơ quan Nhà nớc đã bãi bỏ 175 loại giấy phép khác
nhau (tức khoảng 44% tổng số giấy phép kinh doanh đã tồn tại trong nền kinh
tế), thể hiện sự thay đổi căn bản về t duy và phơng thức quản lý nhà nớc theo h-
ớng chuyển từ tiền kiểm sang hậu kiểm, tách bạch rõ quyền SX-KD của doanh
nghiệp với hoạt động quản lý của Nhà nớc.
Tuy nhiên theo các doanh nghiệp, vẫn còn nhiều trở ngại trong quá trình
thành lập doanh nghiệp cần phải giải quyết. Đó là:
- Hiện vẫn còn thiếu các thông tin cần thiết vầ hớng dẫn rõ ràng về thủ
tục đăng ký kinh doanh. Thêm vào đó, vẫn cha có một văn bản chi tiết hoá
những nghành nghề và lĩnh vực đòi hỏi vốn pháp định. Nhiều doanh nghiệp gặp
khó khăn trong việc tìm kiếm những văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động
kinh doanh phải có giấy phép kinh doanh chuyên ngành, một số khác thì phải
mất thêm thời gian đến sở kế hoạch và đầu t để tra cứu tên doanh nghiệp đã
thành lập trớc đó nhằm tránh sự trùng lặp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status