Khóa luận tốt nghiệp: Phát triển tư nhân ở Việt Nam hiện nay - Thực trạng và giải pháp - Pdf 14

TRƢỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƢƠNG
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
CHUYÊN NGÀNH LUẬT KINH DOANH QUỐC TẾ
***

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
Đề tài:

PHÁT TRIỂN KINH TẾ TƢ NHÂN Ở VIỆT NAM
HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP Sinh viên thực hiện : Vũ Thị Nhƣ Quỳnh
Lớp : Anh 3
Khoá : 45
Giáo viên hƣớng dẫn : ThS. Nguyễn Thị Tuyết Nhung Hà Nội, Tháng 5 Năm 2010
MỤC LỤC

Trang


8

10

11
11
11
12
12

12
14

và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam………………………………
1.2.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản…………………………………………
1.2.2. Kinh nghiệm của Singapore…………………………………………
1.2.3. Kinh nghiệm của Trung Quốc………………………………………
1.2.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam…………………………………

Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay……
2.1. Thực trạng phát triển khu vực kinh tế tư nhân qua các thời kỳ……….
2.1.1. Giai đoạn trước đổi mới năm 1986……………………………………
2.1.2. Giai đoạn từ năm 1986 – 1999………………………………………
2.1.3. Giai đoạn từ năm 2000 – nay…………………………………………
2.1.3.1. Số lượng doanh nghiệp…………………………………………….
2.1.3.2. Quy mô vốn………………………………………………………
2.1.3.3. Cơ cấu theo ngành, địa bàn………………………………………
2.2. Đánh giá về sự phát triển của khu vực kinh tế tư nhân ở Việt Nam…
2.2.1. Thành tựu……………………………………………………………

54
54
56

trọng………………………………………………………………
2.2.2.4. Khả năng tiếp cận thị trường yếu………………………………….
2.2.2.5. Hiệu quả kinh doanh nhìn chung còn thấp………………………
2.2.3. Những nguyên nhân hạn chế sự phát triển khu vực kinh tế tư nhân ở
Việt Nam……………………………………………………………
2.2.3.1. Về nhận thức chung………………………………………………
2.2.3.2. Về cơ chế chính sách của nhà nước……………………………….
2.2.3.2.1. Trong việc huy động và sử dụng các nguồn lực…………………
2.2.3.2.2. Thiếu sự hỗ trợ từ phía nhà nước………………………………….

Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
hiện nay………………………………………………………………………
3.1. Dự báo xu hướng phát triển kinh tế tư nhân…………………………
3.2. Một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
hiện nay……………………………………………………………….
3.2.1. Đổi mới nhận thức, hoàn thiện môi trường pháp lý đối với kinh tế tư
nhân…………………………………………………………………
3.2.2. Giải quyết những khó khăn về đất đai và mặt bằng sản xuất kinh
doanh đối với kinh tế tư nhân…………………………………………
3.2.3. Đổi mới cơ chế, chính sách hỗ trợ vốn đầu tư, tín dụng đối với kinh
tế tư nhân……………………………………………………………
3.2.4. Hoàn thiện chính sách thuế đối với kinh tế tư nhân ………………….
3.2.5. Tăng cường công tác hỗ trợ thông tin và xúc tiến thương mại đối với
kinh tế tư nhân………………………………………………………
3.2.6. Thúc đẩy, hỗ trợ kinh tế tư nhân hội nhập kinh tế quốc tế……………
59

91
92 DANH MỤC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ

1. DANH MỤC BẢNG
- Bảng 1: Tốc độ tăng các loại hình doanh nghiệp tư nhân từ năm 1994 –
1998
- Bảng 2: Đóng góp GDP của khu vực kinh tế tư nhân
- Bảng 3: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh tại thời
điểm 31/12 hàng năm phân theo loại hình doanh nghiệp
- Bảng 4: Tổng vốn đăng ký và vốn đăng ký bình quân của doanh nghiệp
- Bảng 5: Vốn sản xuất kinh doanh bình quân hàng năm của các doanh
nghiệp phân theo địa phương
- Bảng 6: Giá trị sản xuất công nghiệp theo giá thực tế phân theo thành phần
kinh tế
- Bảng 7: Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng theo
giá thực tế
- Bảng 8: Số doanh nghiệp đang hoạt động sản xuất kinh doanh hàng năm
phân theo vùng kinh tế
- Bảng 9: Tổng sản phẩm trong nước theo giá thực tế phân theo thành phần
kinh tế
- Bảng 10: Doanh thu thuần của doanh nghiệp phân theo loại hình doanh
nghiệp
- Bảng 11: Tổng số lao động trong các doanh nghiệp hàng năm phân theo
loại hình doanh nghiệp
- Bảng 12: Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Việt Nam

2. DANH MỤC BIỂU ĐỒ
2
- Dự báo xu hướng phát triển của kinh tế tư nhân và đề xuất một số giải
pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: tình hình, xu hướng và một số giải pháp chủ yếu
phát triển khu vực kinh tế tư nhân.
- Thời gian: sau khi đất nước thực hiện chính sách đổi mới (năm 1986) đến
thời điểm hiện nay (nửa đầu năm 2010).
4. Phƣơng pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu chủ yếu được sử dụng là phương pháp duy vật
biện chứng, phương pháp logic kết hợp duy vật lịch sử, phương pháp dự báo,
phương pháp so sánh đối chiếu. Bên cạnh đó chú trọng sử dụng phương pháp
thống kê nhằm phân tích số liệu thông qua các bảng số liệu…
5. Tên và kết cấu của khóa luận
- Tên khóa luận: Phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay - thực trạng
và giải pháp.
- Kết cấu của khóa luận: Ngoài mục lục, mở đầu, kết luận và danh mục các
bảng và biểu đồ thì nội dung khóa luận tốt nghiệp được kết cấu thành 3
chương:
Chương 1: Tổng quan về kinh tế tư nhân
Chương 2: Thực trạng phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Một số giải pháp chủ yếu phát triển kinh tế tư nhân ở Việt Nam
hiện nay
Do khả năng và điều kiện còn hạn chế về mặt thời gian cũng như trình độ
của người viết nên bài khoá luận không thể tránh khỏi những thiếu sót nhất định.
Người viết rất mong nhận được những đóng góp quý báu của thầy cô và bạn bè
có quan tâm đến vấn đề này để bài viết được hoàn thiện hơn.


gồm những sản phẩm vật chất, phi vật chất, tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng…
trong đó sở hữu tư liệu sản xuất là có ý nghĩa hơn cả. Mối quan hệ này được thể
hiện thông qua quyền lực của chủ thể đối với đối tượng sở hữu và được luật hóa
thành quyền sở hữu. Ở đây chủ sở hữu thường phải có các quyền căn bản như: 5
quyền sử dụng, quyền hưởng lợi, quyền định đoạt, quyền thừa kế… những mối
quan hệ này cũng chính là nội dung pháp lý của vấn đề sở hữu.
Về mối quan hệ thứ hai, đó là mối quan hệ giữa các giai cấp, các tập đoàn
người trong hệ thống sản xuất xã hội. Mối quan hệ này khẳng định đối tượng sở
hữu, đặc biệt là tư liệu sản xuất, thuộc về ai, từ mối quan hệ đó quy định các hình
thức phân phối và quản lý tài sản, sản phẩm, thu nhập, giá trị giữa họ, mối quan
hệ này được biểu hiện thành nội dung kinh tế của phạm trù sở hữu.
Theo điều 211 Bộ luật Dân sự Việt Nam 2005 thì sở hữu tư nhân là sở hữu
cá nhân đối với tài sản hợp pháp của mình. Sở hữu tư nhân bao gồm: sở hữu cá
thể, sở hữu tiểu chủ, sở hữu tư bản tư nhân. Theo khái niệm trên thì sở hữu tư
nhân được hiểu là: sở hữu các tư liệu tiêu dùng cá nhân thường được coi là sở
hữu cá nhân và sở hữu tư liệu sản xuất thường được hiểu là sở hữu tư nhân.
Như vậy, sở hữu tư nhân là quan hệ sở hữu xác nhận quyền hợp pháp của
tư nhân trong việc chiếm hữu, quyết định cách thức tổ chức sản xuất – kinh
doanh, chi phối và hưởng lợi từ kết quả của quá trình sản xuất – kinh doanh đó.
Sở hữu tư nhân về quá trình sản xuất là cơ sở ra đời kinh tế tư nhân.
1.3.1.2. Kinh tế tư nhân
Trên thực tế, tùy thuộc vào cách tiếp cận mà có những cách hiểu dẫn đến
những khái niệm khác nhau về kinh tế tư nhân.
Ở các nền kinh tế thị trường phát triển trên thế giới hiện nay, mọi hoạt
động không thuộc khu vực công đều được coi là khu vực kinh tế tư nhân.
Ở một số nước khái niệm về khu vực kinh tế tư nhân cũng rất phức tạp.
Như ở Trung Quốc, khu vực tư nhân cùng lúc được hiểu là:

đầu tư nước ngoài). 7
Ngoài ra còn có quan điểm cho rằng kinh tế tư nhân là kinh tế ngoài quốc
doanh nhưng không bao gồm kinh tế tập thể.
Từ những cách hiểu trên ta có thể đi đến một nhận thức về kinh tế tư nhân
như sau: kinh tế tư nhân là thành phần kinh tế dựa trên sở hữu tư nhân về tư liệu
sản xuất, bao gồm kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh tế tư bản tư nhân hoạt động
dước hình thức hộ kinh doanh các thể và các loại hình doanh nghiệp của tư nhân.
Các loại hình kinh doanh của kinh tế tư nhân đều có điểm chung là dựa
trên sở hữu tư nhân, nhưng có sự khác nhau về trình độ sản xuất kinh doanh.
Theo quan điểm hiện hành ở nước ta, kinh tế tư nhân có hai loại hình như sau:
- Một là, kinh tế cá thể, tiểu chủ: bao gồm những đơn vị kinh tế hoạt động
trên cở sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất, với quy mô nhỏ hơn các loại
hình doanh nghiệp của tư nhân, chủ yếu sử dụng lao động trong gia đình,
là đơn vị kinh tế tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chịu trách nhiệm về
kết quả tài chính của mình.
- Hai là, kinh tế tư bản tư nhân gồm những đơn vị kinh tế hoạt động trên cơ
sở tư hữu về tư liệu sản xuất với quy mô lớn hơn cá thể, tiểu chủ, có thuê
mướn lao động. Kinh tế tư bản tư nhân tồn tại dưới các loại hình doanh
nghiệp như: doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty
cổ phần, công ty hợp danh.
Trên thực tế, việc phân định ranh giới giữa kinh tế cá thể, tiểu chủ và kinh
tế tư bản tư nhân ở nước ta hiện nay là không đơn giản, bởi sự vận động biến đổi
và phát triển không ngừng của chúng. Theo Luật Doanh nghiệp 2005, các loại
hình doanh nghiệp được quy định như sau:
- Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu
trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh
nghiệp.


9
với quy luật kinh tế khách quan, với trình độ lực lượng sản xuất ở nước ta
hiện nay.
- Hai là: Đặc điểm cơ bản của thời kỳ quá độ ở nước ta hiện nay là có sự
đan xen tồn tại giữa các thành phần kinh tế cũ và mới. Các thành phần
kinh tế do xã hội cũ để lại như kinh tế cá thể, tiểu chủ, tư bản tư nhân, các
thành phần kinh tế này vẫn có những vai trò quan trọng để phát triển kinh
tế, có lợi cho đất nước trong giải quyết việc làm, tăng sản phẩm, huy động
các nguồn vốn… Và một số thành phần kinh tế mới xuất hiện trong quá
trình cải tạo và xây dựng chủ nghĩa xã hội như kinh tế tập thể, kinh tế nhà
nước, kinh tế tư bản nhà nước.
- Ba là: Thực tiễn xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng
xã hội chủ nghĩa cho thấy: kinh tế thị trường sẽ và chỉ phát triển lành
mạnh trên cơ sở đẩy mạnh phân công lao động xã hội, thừa nhận và tạo
điều kiện môi tường phát triển kinh tế tư nhân, qua đó tạo ra khả năng to
lớn trong việc huy động tiềm lực vật chất và tinh thần cho phát triển kinh
tế. Các thành phần kinh tế, trong đó có kinh tế tư nhân sẽ cung cấp ngày
càng nhiều các sản phẩm phong phú về chủng loại, đa dạng về mẫu mã,
nâng cao về chất lượng, giá cả phù hợp với khả năng người tiêu dùng, tạo
động lực cho các doanh nghiệp nâng cao trách nhiệm đối với sản phẩm
của mình khi đáp ứng nhu cầu xã hội.
- Bốn là: Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường gắn với bối cảnh hội
nhập kinh tế quốc tế, kinh tế tư nhân là lực lượng quan trọng góp phần
thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, thúc đẩy mở rộng quan
hệ kinh tế đối ngoại. Phát triển kinh tế tư nhân sẽ tạo môi trường cạnh
tranh lành mạnh giữa các thành phần kinh tế, đồng thời khắc phục tình 10

Việt Nam đã khẳng định sự có mặt của khu vực kinh tế tư nhân không chỉ là một
sự tồn tại khách quan mà còn là sự cần thiết để huy động mọi nguồn lực cho sự
phát triển, đi đúng hướng kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế ở nước
ta.
1.3.3. Đặc điểm và vai trò của kinh tế tư nhân trong nền kinh tế thị trường
định hướng XHCN ở Việt Nam hiện nay
1.3.3.1. Đặc điểm của kinh tế tư nhân
- Quy mô và hình thức sở hữu đa dạng;
- Bộ máy và đội ngũ quản lý gọn nhẹ, hiệu quả và năng động. Hoạt động
của bộ máy gắn chặt với những biến động cung – cầu trên thị trường,
trước áp lực của cạnh tranh, họ buộc phải tính toán tìm ra cách sử dụng
một cách có hiệu quả yếu tố đầu vào;
- Sử dụng lao động và công nghệ rất linh hoạt và hiệu quả;
- Lĩnh vực đầu tư thường tập trung vào khu vực thương mại và dịch vụ;
- Mục đích kinh doanh là rõ ràng với tôn chỉ bất biến: tối đa hóa lợi nhuận;
- Phương thức huy động vốn của kinh tế tư nhân cũng rất linh hoạt, nguồn
vốn đa dạng.
1.3.3.2. Vai trò của kinh tế tư nhân
- Đóng góp vào thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế
theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa;
- Đóng góp ngày càng nhiều nguồn vốn trong xã hội cho đầu tư phát triển;
- Đóng góp đáng kể vào nguồn thu Ngân sách Nhà nước;
- Góp phần xây dựng quan hệ sản xuất phù hợp với lực lượng sản xuất, thúc
đẩy dân chủ hóa đời sống kinh tế; 12
- Giải quyết việc làm, chuyển dịch cơ cấu lao động và đào tạo nguồn nhân
lực mới cho thị trường lao động;
- Góp phần thúc đẩy hội nhập kinh tế quốc tế.

ưu, có tác dụng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Những doanh nghiệp mạnh đã
loại bỏ được những doanh nghiệp yếu hơn trên thị trường. Doanh nghiệp mạnh là
doanh nghiệp có phương thức tổ chức sản xuất hiệu quả hơn. Như vậy, nguyên
tắc “mạnh thắng yếu”, vốn là quy luật khắt khe của kinh tế thị trường vẫn hoàn
toàn đúng. Doanh nghiệp nào hoạt động kém hiệu quả phải bị loại bỏ, cho dù đó
là doanh nghiệp thuộc loại hình sở hữu nào, thuộc quy mô gì. Những doanh
nghiệp làm ăn hiệu quả phải được xã hội tôn vinh, kính trọng. Nhà nước cần tạo
điều kiện cho những doanh nghiệp như vậy phát triển. Ngược lại, bất kỳ doanh
nghiệp nào kinh doanh thua lỗ, kém hiệu quả cũng cần phải bị xoá bỏ một cách
kiên quyết.
Quan hệ giữa nhà nước và nền kinh tế được phản ánh thông qua quan hệ
giữa nhà nước và doanh nghiệp. Quan hệ này về thực chất là quan hệ giữa cơ
quan quản lý điều tiết và đơn vị sản xuất kinh doanh trong nền kinh tế. Các
doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường luôn cần có sự quản lý của nhà nước,
sự điều tiết nền kinh tế của nhà nước là cần thiết khách quan. Vì thế, quan hệ này
luôn xuất hiện và cần được giải quyết hợp lý. Song, trong lịch sử phát triển kinh
tế, quan hệ này rất dễ bị vi phạm, do đó có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển
chung của nền kinh tế.
Để có quan hệ hợp lý giữa nhà nước và doanh nghiệp cần phải xác định
đúng vị trí và nhiệm vụ của từng chủ thể trong quan hệ này. Nhiệm vụ của Nhà
nước là quản lý, điều tiết nền kinh tế, nhằm duy trì trật tự trong nền kinh tế. Các
doanh nghiệp là những đơn vị kinh doanh, nhiệm vụ của họ là tổ chức sản xuất - 14
kinh doanh có hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng thông qua tín hiệu
của thị trường. Đây là điều kiện cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh
nghiệp và cũng là nhiệm vụ mà nền kinh tế trao cho họ.
Một vấn đề cũng rất quan trọng, mà các doanh nghiệp trông đợi từ phía
nhà nước là sự bình đẳng. Nhà nước cần phải đối xử bình đẳng với các doanh

đạt được điều này, vai trò hỗ trợ của nhà nước là hết sức quan trọng, thậm chí
đóng vai trò quyết định.
1.4. Kinh nghiệm phát triển kinh tế tƣ nhân của các nƣớc trong khu vực
và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam
1.4.1. Kinh nghiệm của Nhật Bản
Nhật Bản là nước rất nghèo nàn về tài nguyên ngoại trừ gỗ và hải sản,
trong khi dân số thì quá đông, phần lớn nguyên nhiên liệu phải nhập khẩu, kinh
tế bị tàn phá kiệt quệ trong chiến tranh, nhưng với các chính sách phù hợp, kinh
tế Nhật Bản đã nhanh chóng phục hồi (1945-1954), phát triển cao độ (1955-
1973) khiến cho cả thế giới hết sức kinh ngạc và khâm phục.
Từ năm 1974 đến nay tốc độ phát triển tuy chậm lại, song Nhật Bản tiếp
tục là một nước có nền kinh tế, công nghiệp-tài chính thương mại-dịch vụ-khoa
học kĩ thuật lớn đứng thứ hai trên thế giới (chỉ đứng sau Hoa Kỳ), GDP trên đầu
người là 42.480 USD (2008). Nhật Bản có nhiều tập đoàn tài chính, ngân hàng
đứng hàng đầu thế giới. Cán cân thương mại dư thừa và dự trữ ngoại tệ đứng
hàng đầu thế giới, nên nguồn vốn đầu tư ra nước ngoài rất nhiều. Nhật Bản được
đánh giá là nước cho vay, viện trợ tái thiết và phát triển lớn nhất thế giới.
Để khuyến khích kinh tế tư nhân, trước hết chính phủ Nhật Bản đã tiến
hành hỗ trợ các công ty tư nhân chọn lựa phát triển các ngành, sản phẩm chủ lực, 16
hướng về xuất khẩu, phù hợp với nhu cầu thị trường thế giới và lợi thế so sánh
của Nhật Bản. Việc nâng cao năng lực cạnh tranh cho các doanh nghiệp và sản
phẩm xuất khẩu là sự ưu tiên hàng đầu của chính sách hỗ trợ.
Chìa khóa cho sự thành công của Nhật Bản trong suốt quá trình hoàn thiện
sự hỗ trợ và tăng cường quản lý Nhà nước đối với khu vực tư nhân chính là xúc
tiến thương mại, đặc biệt là xúc tiến xuất khẩu. Chính phủ Nhật Bản đã giữ vai
trò quan trọng trong việc khơi thông thị trường quốc tế. Để thực hiện tốt xúc tiến
thương mại – xuất khẩu, Nhật Bản cho phép thành lập các cơ quan phi chính

nhỏ thông qua các chương trình: bảo lãnh tín dụng, tư vấn, tạo thị trường cho các
doanh nghiệp (thông qua các hợp đồng gia công giữa các công ty lớn với các
doanh nghiệp nhỏ, tăng cường viện trợ và ký kết các Hiệp định kinh tế - thương
mại với các chính phủ nước ngoài để mở đường cho doanh nghiệp Nhật Bản
thâm nhập thị trường thế giới); linh hoạt hóa thị trường lao động, đổi mới giáo
dục nhận thức và đào tạo nghề cho công nhân, cải thiện môi trường pháp lý văn
hóa và kinh doanh phù hợp với những cam kết, tiêu chuẩn và thông lệ quốc tế.
Có thể nói phương thức quản lý Nhà nước đối với khu vực kinh tế tư nhân
của Nhật Bản là: “Chính phủ ít can thiệp thô bạo vào hoạt động kinh doanh của
doanh nghiệp, quan hệ giữa chính phủ và khu vực tư nhân phải minh bạch”.
Thành công của các công ty tư nhân Nhật Bản trên khắp thế giới là một điển
hình về hội nhập kinh tế quốc tế của quốc gia này.
1.4.2. Kinh nghiệm của Singapore
Là quốc gia đầu tiên thuộc nhóm nước NICs, nằm trong khối ASEAN, sự
phát triển của đảo quốc nhỏ bé này được xem là hình mẫu cho các nước trong
khu vực. Chính phủ Singapore coi kinh tế tư nhân là động lực chính thúc đẩy
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Vì vậy, chính phủ Singapore đã tiến 18
hành nhiều chính sách khuyến khích tư nhân trong nước cũng như các nhà đầu tư
nước ngoài như:
- Miễn thuế 5 năm đối với các công ty kinh doanh ở những ngành
mũi nhọn khi có vốn đầu tư từ 1 triệu USD Singapore.
- Chính phủ liên doanh hoặc hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp tư nhân
đầu tư vào các ngành công nghiệp mũi nhọn, khi có lãi cho phép nhà kinh
doanh tư nhân mua lại một phần hoặc toàn bộ cổ phần của doanh nghiệp.
- Miễn, giảm thuế khi mở rộng sản xuất hoặc khi có nhiều hàng xuất
khẩu, vay vốn nước ngoài, mới đầu tư và nghiên cứu khoa học.
- Các doanh nghiệp nước ngoài được tự do chuyển lợi nhuận về nước


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status