LUẬN VĂN: Tiêu thụ sản phẩm Giày- Da ở Việt Nam hiện nay ,thực trạng và giải pháp doc - Pdf 15


LUẬN VĂN:

Tiêu thụ sản phẩm Giày- Da ở Việt Nam
hiện nay ,thực trạng và giải pháp

lời giới thiệu

Đại hội đảng toàn quốc lần thứ VI đã đánh dấu mốc lịch sử đối với nền kinh tế Việt
nam ,đó là điểm xuất phát của nền kinh tế .Nước ta đã chuyển đổi hoàn toàn từ nền kinh tế
tập trung quan tiêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần , mở cửa , vận
hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước . Nền kinh tế mở đã làm phát
triển về mọi mặt đời sống kinh tế xã hội và thu nhập kinh tế quốc dân cũng tăng lên ,đồng
thời tạo điều kiện cho nước ta mở rộng quan hệ kinh tế với các nước trong khu vực và thế
giới .
Tiêu thụ sản phẩm là khâu lưu thông hàng hoá ,là cầu nối trung gian giữa một bên

bằng các mắt xích chặt chẽ, khâu trước là cơ sở ,là tiền đề để thực hiện khâu sau.
Nếu một khâu nào đó bị ách tắc sẽ ảnh hưởng đến toàn bộ quá trình sản xuất kinh
doanh .Để quá trình dó được tiến hành thường xuyên ,liên tục thì doanh nghiệp phải phối
hợp thông suốt các khâu trong đó có khâu tiêu thụ sản phẩm là khâu cuối cùng ,cũng là
khâu vô cùng quan trọng . Chỉ khi sản phẩm được tiêu thụ thì chu kỳ sản xuất kinh doanh
mới có thể nối tiếp .Kết quả tiêu thụ ở chu kỳ trước tạo điều kiện thực hiện chu kỳ tiếp
theo . Tiêu thụ sản phẩm có ý nghĩa quyết định đối với cả chiến lược sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp .
Tiêu thụ sản phẩm hàng hoá là quá trình thực hiện giá trị hàng hoá được chuyển từ
hình thái hiện vật sang hình thái tiền tệ và vòng chu chuyển vốn sản xuất kinh doanh đã
hoàn thành . Quá trình tiêu thu sản phẩm chỉ kết thúc khi quá trình thanh toán giữa người
mua và người bán diễn ra và quyền sở hữu hàng hoá được thay đổi .
Sản phẩm hàng hoá được coi là tiêu thụ khi người bán đã nhận tiền hoặc người mua
đã trả tiền .Việc xác định sản lượng tiêu thụ trong năm phải căn cứ vào sản lượng sản
xuất,hợp đồng kinh tế ký kết với khách hàng,nhu cầu thị trường ,khả năng đổi mới phương
thức thanh toán và tình hình tiêu thụ năm trước.

2/Vai trò của hoạt động tiêu thụ Sản phẩm :
a/Sự cần thiết của hoạt động tiêu thụ sản phẩm :

Thực tiễn cho thấy, thích ứng với mỗi cơ chế quản lý công tác tiêu thụ sản phẩm
được thể hiện bằng các hình thức khác nhau. Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung,
Nhà nước quản lý kinh tế chủ yếu bằng mệnh lệnh. Các cơ quan hành chính kinh tế can
thiệp sâu vào nghiệp vụ sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp nhưng lại không chịu trách nhiệm về các quyết định của mình Hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong thời kỳ này
chủ yếu là giao nộp sản phẩm cho các đơn vị theo địa chỉ và giá cả do nhà nước định sẵn.
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải tự mình giải quyết các vấn đề
cơ bản của sản xuất kinh doanh là sản xuất cái gì, bằng cách nào, cho ai nên việc tiêu thụ

hàng ,từ đó có biện pháp làm cho sản phẩm thoả mãn ngày càng tốt hơn nhu cầu của người
tiêu dùng
Xét trên góc độ vĩ mô , nền kinh tế quốc dân là một thể thống nhất với những cân
bằng ,những quan hệ tỷ lệ nhất định . Sản phẩm sản xuất ra được tiêu thụ tức là sản xuất
xã hội được diễn ra một cách bình thường ,trôi chảy ,tránh được những mất cân đối , đảm
bảo ổn định xã hội .
Tiêu thụ sản phẩm -đó là sự cần thiết hết sức khách quan .

b/ Vai trò của hoạt động tiêu thụ :
Mọi nỗ lức số gắng trong hoạt động sản xuất kinh doanh đều được đánh giá và thể
hiện qua khả nằng và hiệu quả của hoạt động tiêu thụ sản phẩm . Công tác tiêu thụ sản
phẩm có vai trò rất quan trọng ,đó là :
- Làm tốt công tác tiêu thị sản phẩm sẽ tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển
cân đối ,đáp ứng nhu cầu xã hội .Ngược lại sản phẩm không tiêu thụ được sẽ làm cho sản
xuất ngừng trệ sản phẩm không có gía trị sử dụng .
- Tiêu thụ sản phẩm được coi là một biện pháp để điều tiết sản xuất định hướng
cho sản xuất ,là tiêu chuẩn để xây dựng các chiến lược (dự trữ sản phẩm ,thu mua, phân
phối ,xúc tiến ) , đánh giá quá trình tổ chức sản xuất, cải tiến công nghệ .
- Việc tổ chức hợp lý hoá khoa học quá trình tiêu thụ sản phẩm sẽ giảm tới mức
thấp nhất các loại chi phí , góp phần làm giảm giá thàmh tới tay người tiêu dùng ,nâng cao
khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường .
- Tiêu thụ sản phẩm góp phần củng cố vị trí ,thế lực của doanh nghiệp ,nâng cao
uy tín của doanh nghiệp đối với khách hàng ,thông qua sản phẩm có chất lưọng tốt , giá cả
phải chăng ,phương thức giao dịch mua bán thuận tiện ,dịch vụ bán hàng tốt …sẽ giúp
doanh nghiệp thành công trên thương trường . Thực hiện tốt các khâu của quá trình tiêu
thụ giúp vho doanh nghiệp có thể tiêu thụ được khối lượng sản phẩm lớn và lôi cuốn thêm
khách hàng,không ngừng mở rộng thị trường .
- Làm tốt công tác tiêu thụ sản phẩm là động lực thúc đẩy sản xuất và là yếu tố
tằng nhanh vòng vốn sản xuất kinh doanh .
- Với môi trường hoạt động sản xuất kinh doanh hiện nay , việc mua sắm các yếu

bất chấp sự hoạt động của các quy luật kinh tế .Đặc trưng của nền kinh tế kế hoạch hoá tập
trung là nhà nước điều khiển toàn bộ nền kinh tế quốc dân ,các hoạt động tác nghiệp phụ
thuộc vào các chỉ tiêu của nhà nước . Các doanh nghiệp hoạt động theo kế hoạch phân
phối tập trung của nhà nước ,trong đó nhà nước quy định việc cấp phát vật tư ,giá cả ,khu
vực thị trường và lượng bán . Sự cứng nhắc trọng hoạt động của nền kinh tế được thể hiện rất rõ thông qua chế độ
cung ứng vật tư ,chế độ phân phối và trao đổi hiện vật do nhà nước tổ chức quản lý . Cùng
với việc cung ứng vật tư cho các doanh nghiệp sản xuất, nhà nước cũng là người bao tiêu
sản phẩm cho họ . Hoạt động tiêu thụ sản phẩm không do bản thân doanh nghiệp quyết
định ,vì vậy vai trò của nó không được thể hiện ,kết quả hoạt động tốt hau xấu đều không
ảnh hưởng tới sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp .Vai trò của khách hàng không
được đề cao ,sản phẩm của doanh nghiệp có phù hợp với nhu cầu của khách hàng hay
không ?giá cả có hợp lý hay không?các hoạt động dịch vụ kèm theo như thế nào ?…tất cả
đều không phải là những điều mà doanh nghiệp quan tâm . Cái họ quan tâm là làm thế nào
để hoàn thành các kế hoạch nhà nước giao.
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong thời kỳ này bao gồm các đặc trưng cơ bản sau :
- Cung – cầu gặp nhau , cân bằng với nhau trước thi trao đổi diễn ra trên thị trường .
- Vai trò của khách hàng không được đề cao trong các chiến lược tiêu thụ sản phẩm của
doanh nghiệp . Họ không phải là mối quan tâm hàng đầu của doanh nghiệp .
- Hoạt động tiêu thụ sản phẩm gần như đồng nghĩa với hoạt động bán hàng.
- Mọi hoạt động tiêu thụ sản phẩm đều dựa trên chế độ phân phối và trao đổi hiện vật do
nhà nước tổ nhức và quản lý trên quy mô toàn xã hội .

b/ Hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong cơ chế thị trường :
Kinh tế thị trường là kiểu tổ chức kinh tế xã hội mà các quan hệ kinh tế ,phân phối
các lợi ích đều do các quy luật của thị trường điều tiết và chi phối .Như vậy ,khác hẳn với
cơ chế cũ ,vai trò của nhà nước không thể quản lý toàn bộ cáchoạt động của doanh nghiệp
mà chỉ giữ vai trò điều tiết nền kinh tế trên giác độ vĩ mô. các doanh nghiệp hoàn toàn tự

thể nói thuế quan là công cụ tác động tích cực đối với xuất khẩu giầy và tiêu thụ giầy ở
Việt Nam .
-Hạn ngạch :hình thức này áp dụng như là một công cụ chủ yếu trong hàng rào phi
thuế quan và ngày càng có vai trò quan trọng trong xuất khẩu hàng hoá .
Hiện nay đối với Việt Nam hạn ngạch không áp dụng đối với xuất khẩu giầy sang
EU ,nhưng Trung Quốc ,Indonesia thì bị EU khống chế khối lượng giầy dép nhập khẩu
.Như vậy hạn ngạch cũng là nhân tố ảnh hưởng tới xuất khẩu và tiêu thụ giầy dép .
-Thị trường lao động : lao động là một yếu tố đầu vào đóng góp phần quan trọng
đáng kể trong việc sản xuất và tiêu thụ giầy da nói chung . Do đây là ngành sử dụng nhiều
lao động nên giá nhân công rẻ sẽ tác động mạnh tới giá cả và tiêu thụ sản phẩm . Hiện nay
,Việt Nam ,lào ,myama…có giá nhân công rẻ tương đối so với thailand như vậy ,giá thành
của giầy xuất khẩu có lợi hơn so với thailand và những nước có giá nhân công đắt . -Các yếu tố khoa học công nghệ :
Yếu tố khoa học công nghệ giúp cho việc sản xuất tạo ra được sản phẩm với chất
lượng cao hơn ,hợp với thị hiếu người tiêu dùng trên thị trường quốc tế mà giá thành lại
thấp hơn.ở nước ta hiện nay đang bị lạc hậu về khoa học và công nghệ vì vậy muốn nâng
cao khả năng tiêu thụ cần chú trọng nghiên cứu yếu tố này vì chất lượng giầy da ngày càng
yêu cầu cao hơn .
-Các yếu tố cạnh tranh :
Cạnh tranh là nhân tố ảnh hưởng tới tiêu thụ da giầy Việt Nam . Hiện nay ở các thị
trường tiêu thụ các nước ta phải cạnh tranh rất gay gắt với các nước xuất khẩu khác để
giành khách hàng. Đó là cạnh tranh về chất lượng ,giá cả ,thuế xuất…
- Thị trường nguyên vật liệu đầu vào :
Có một số quốc gia xuất khẩu giầy tự cung tự cấp được nguyên vật liệu đầu vào
trong toàn bộ quá trình sản xuất như trung quốc .Việt Nam chỉ tự cung tự cấp được vải
,cao su . Còn một số quốc gia khác lại phải nhập hoàn toàn nguyên vật liệu như lào … như
vậy nguyên vật liệucũng là một thị trường đầu vào quan trọng trong quá trình sản xuất
giầy để xuất khẩu .ở nước ta đối với nguyên vật liệu trong nước không tự cung cấp được

chức và kế hoạch hoá tiêu thụ.
Tiêu thụ sản phẩm là tổng thể các biện pháp về mặt tổ chức kinh tế và kế hoạch
nhằm thực hiện việc nghiên cứu và nắm bắt nhu cầu thị trường ,tổ chức sản xuất tiếp nhận
sản phẩm ,chuẩn bị hàng hoá và xuất bán theo nhu cầu của khách hàng với chi phí nhỏ
nhất .
Hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp bao gồm các nội dung chính sau :
-Nghiên cưú thị trường tiêu thụ sản phẩm
-Tạo nguồn hàng để đáp ứng nhu cầu của thị trường .
-Tiếp tục quá trình sản xuất trong khâu tiêu thụ .
-Quản trị dự trữ sản phẩm ở doanh nghiệp .
-Xác định giá cả trong tiêu thụ .
-Tiến hành phân phối sản phẩm trong các kênh tiêu thụ .
-Xúc tiến bán hàng .
-Phân tích đánh giá hiệu quả tiêu thụ .

I. Xác định nhu cầu thị trường:
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp là những chủ thể kinh tế độc lập và
phải tự mình quyết định cả ba vấn đề cơ bản của tổ chức kinh tế. Lợi nhuận là mục tiêu
sống còn của doanh nghiệp. Muốn có lợi nhuận doanh nghiệp phải tiêu thụ được hàng hoá,
sản phẩm của doanh nghiệp phải phù hợp với nhu cầu của thị trường. Để tồn tại và phát triển lâu dài thì mỗi doanh nghiệp cần phải xác định nhu cầu của thị trường về sản phẩm
của mình.
Các doanh nghiệp là các tác nhân trên thị trường nên phải nghiên cứu thị trường
để phát triển các hoạt động sản xuất kinh doanh thích ứng với thị trường. Nghiên cứu thị
trường là xuất phát điểm để định ra các chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp từ đó tiến
hành lập và thực hiện các kế hoạch kinh doanh, chính sách thị trường nhằm trả lời cho các
câu hỏi: sản xuất cái gì? sản xuất như thé nào? và sản xuất cho ai?. Tức là thị trường đang
những loại sản phẩm gì? đặc điểm kinh tế kỹ thuật của nó ra sao? Dung lượng về thị

 Nghiên cứu tâm lý khách hàng

II. Tạo nguồn hàng để đáp ứng nhu cầu của thị trường:
Trong thời kỳ kế hoạch hoá tập trung, nhiệm vụ cơ bản nhất của các doanh nghiệp
là đảm bảo các loại vật tư hàng hoá cần thiết, đủ về số lượng, tốt về chất lượng, kịp thời
gian yêu cầu và thuận lợi cung ứng cho sản xuất và tiêu dùng đều đã có nhà nước lo.
Nhưng khi chuyển sang cơ chế thị trường, để có nguồn hàng tốt và ổn định, các doanh
nghiệp phải tự tổ chức công tác tạo nguồn mua hàng. Công tác tạo nguồn mua hàng là
những hoạt động nghiệp vụ nhằm tạo ra nguòn hàng hoá để đảm bảo cung ứng đầy đủ kịp
thời, đồng bộ, đúng quy cách cỡ loại màu sắc Cho các nhu cầu của sản xuất và kinh
doanh, đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
1. Vai trò của việc tạo nguồn hàng:
Trong kinh doanh, tạo nguồn và mua hàng là khâu mở đầu cho hoạt động nghiệp vụ
lưu thông hàng hoá (T-H-T’). Nếu không mua được hàng hoặc mua hàng không đáp ứng
được yêu cầu của sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp không có hàng để bán hoặc số
lượng chất lượng thời gian không đáp ứng được yêu cầu của thị trường làm cho hàng hoá
bị ứ đọng, vốn lưu động không lưu chuyển được, doanh nghiệp không bù đắp nổi chi phí,
sẽ không có lãi.
1
0
: Nguồn hàng là một điều kiện của hoạt động sản xuất kinh doanh, nếu không có
nguồn hàng thì doanh nghiệp không thể tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh.
2
0
: Tạo nguồn và mua hàng phù hợp với yêu cầu của khách hàng sẽ giúp cho hoạt
động sản xuất kinh doanh tiến hành thuận lợi, kịp thời,đẩy nhanh được tốc độ lưu chuyển
của hàng hoá, tạo điều kiện cho doanh nghiệp h\bán hàng nhanh chóng đồng thời đảm bảo
uy tín với khách hàng, làm cho việc cung ứng hàng diễn ra một cách liên tục, ổn định,
tránh đứt đoạn.


- Theo điều kiện địa lý: theo tiêu thức này, nguồn hàng được phân theo các khoảng cách từ
nơi khai thác, đặt hàng, thu mua đưa về doanh nghiệp. - Theo mối quan hệ kinh doanh:
 Nguồn hàng tự sản xuất, khai thác:
 Nguồn liên doanh liên kết
 Nguồn đặt hàng và thu mua
 Nguồn hàng của đơn vị cấp trên
 Nguồn hàng nhận đại lý
 Nguồn hàng ký gửi.
3. Các hình thức tạo nguồn và mua hàng:
- Mua hàng theo đơn đặt hàng và hợp đồng kinh tế ký trước: hình thức mua hàng này giúp
cho các doanh nghiệp ổn định được nguồn hàng, có nguồn khá chắc chắn để đáp ứng nhu
cầu của khách hàng. Doanh ngiệp cần quan tâm theo dõi, kiểm tra, giúp đỡ và hợp tác chặt
chẽ với đơn vị nguồn hàng để thực hiện đúng hợp đồng đã ký kết.
- Mua hàng không theo hợp đồng: đây là hình thức mua đứt bán đoạn trên thị trường của
doanh nghiệp để đáp ứng nhu cầu ngoài kế hoạch của các khách hàng. Điều chú ý khi mua
hàng theo cách này là phải kiểm tra kỹ số lượng chất lượng, nguồn gốc của hàng hoá để
đảm bảo hàng hoá mua về có thể sản xuất và bán được cho khách hàng.
- Mua qua đại lý: thường xảy ra khi doanh nghiệp ở những nơi nguồn hàng không tập
trung, không thường xuyên. Khi mua hàng hoá, doanhnghiệp cần phải có sự lưạ chọn, ký
kết hợp đồng chặt chẽ về chất lượng, số lượng, giá cả Của hàng mua cũng như lợi ích
của hai bên.
- Liên doanh liên kết tạo nguồn hàng: với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh do
thiếu vốn, kỹ thuật, nguyên vật liệu làm cho họ không thể nâng cao được chất lượng và
số lượng của sản phẩm, các doanh nghiệp có thể lợi dụng ưu thế của mình liên doanh
liên kết với họ đảm bảo lợi ích của hai bên.
- Gia công hoặc bán nguyên liệu thu mua thành phẩm: gia công là hình thức doanh nghiệp
đưa nguyên vật liệu đến đơn vị gia công và trả phí gia công khi đơn vị gia công đã giao

D
CK
: khối lượng hàng hoá nguyên vật liệu cần dự trữ ở cuối kỳ kế hoạch.
D
ĐK
: khối lượng hàng hoá nguyên vật liệu tồn đầu kỳ kế hoạch.
Khi mua hàng phải chọn thị trường có giá hạ nhất và khi bán hàng phải chọn thị
trường có giá cao nhất. Nếu gọi P
Y
là đơn giá mua tại thị trường y và P
X
là đơn giá mua tại
thị trường x, ta có thể tính được khoản doanh thu có thể kiếm được do việc kinh doanh
hàng hoá R = (P
X
- P
Y
) * Q. ở đây,R lớn hay nhỏ phụ thuộc vào sự chênh lệch (P
X
- P
Y
) =
H cao hay thấp.
 Nếu H< 0 thì không nên mua hàng vì giá thị trường bán thấp bằng và thấp hơn thị
trường mua.  Nếu H > 0 thì ta tính tiếp: H * Q >0, sau khi trừ chi phí vận chuyển chi phí trả lãi
vay ngân hàng, khoản trượt giá do lạm phát, chi phí hao hụt, chi phí quản lý, đóng
thuế, mua bảo hiểm nếu có lãi thì quyết định mua.

bị máy móc, thay thế phục hồi giá trị sử dụng của loại vật tư hàng hoá; kiểm tra cố vấn kỹ
thuật vật tư hàng hoá
Dịch vụ kinh doanh thương mại: là các dịch vụ có tính chất thương mại như thông
tin, giới thiệu quảng cáo sản phẩm, các hoạt động mua bán giao dịch thương mại, ký gửi
hàng hoá, cho thuê kho, cửa hàng, phương tiện, nhân viên
Dịch vụ bốc xếp vận chuyển và gửi hàng: là nhóm dịch vụ vận tải và xếp dỡ hàng
hoá do các doanh nghiệp có phương tiện chuyên dùng thực hiện phục vụ khách hàng hoặc
các doanh nghiệp khác không có đủ cơ sở cật chất.

IV. Quản trị dự trữ thành phẩm ở các doanh nghiệp :
Dự trữ thành phẩm là những sản phẩm được xuất xưởng và nhập kho thành phẩm
nhưng chưa giao cho khách hàng. Việc hình thành loại dự trữ này là một tất yếu do phải
thực hiện các nghiệp vụ chuẩn bị sản phẩm trước lúc bán và do không ăn khớp về thời
gian sản xuất với thời gian giao hàng.
Đại lượng dự trữ thành phẩm ở các doanh nghiệp cần phải ở mức tối ưu và đáp ứng
hai yêu cầu:Đủ để bán hàng liên tục, tối thiểu nhằm tăng tóc độ chu chuyển vốn lưu động.
Điều này chỉ có thể dạt được bằng chách xây dựng có khoa học hệ thóng mức dự trữ thành
phẩm và tuân thủ các mức đó trong quá trình thực hiện kế hoạch sản xuất và kinh doanh.
Mức dự trữ thành phẩm là đại lượng dự trữ bình quân năm tính theo ngày ở cuối kỳ
kế hoạch. Căn cứ vào thời gian cần thiết để thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, người ta xác
định mức này theo phương pháp tính toán. Những nghiệp vụ đó và thời gian thực hiện ở
các doanh nghiệp có sự khác nhau, tuỳ thuộc vào đặc điểm của sản phẩm ,mặt hàng,
khối lượng sản xuất, lô hàng giao, hình thức vận chuyển và các nhân tố khác. Các nghiệp
vụ tiêu thụ bao gồm:Tích tụ và chuẩn bị đồng bộ lô hàng, tiến hành các thí nghiệm, nghiên
cứu, lên nhãn hiệu và bao gói;Giao hàng;vận chuyển hàng về các điểm qui định và làm thủ
tục chuyển hàng cho đơn vị vận tải.
Toàn bộ thời gian để thực hiện các nghiệp vụ trên được gọi là chu kỳ tiêu thụ và
xác định mức dự trữ thành phẩm tính theo ngày. Thời gian cần tích tụ số hàng đến một
lượng đủ cho lô hàng xuất được xác định theo công thức sau:


:Lượng sản phẩm sản xuất trong kỳ kế hoạch
Việt Nam
b
:Số lượng sản phẩm dùng nội bộ doanh nghiệp
n : Số ngày trong kỳ(360:90:30)
Thời gian để tiến hành thử nghiệm các sản phẩm bằng thời gian theo qui định phù
hợp với điều kiện kỹ thuật và tiêu chuẩn hiện hành. Nó phụ thuộc vào đặc điểm của các
thử nghiệp tiến hành và tính chất sản phẩm. Đối với một số sản phẩm, thời gian này
thường được xác định có tính đến độ dài của quá trình ổn định có tính chất cơ - lý của sản
phẩm thu được trong quá trình sản xuất,vì các thử nghiệm chỉ có thể tiến hành sau khi kết
thúc quá trình đó.
Thời gian cần thiết bao gói sản phẩm và tích tụ số hàng bao gói đến một lượng đủ
cho lô hàng xuất,được xác định theo công thức.
V
lbqb
T
bg
=
V
bgqb
Trong đó :
V
lbqb
:Số lô hàng xuất ra đã được bao gói.
V
bg bq
:Lượng sản phẩm sản xuất bình quân ngày đêm cần bao gói.

+T
g
+T
1Trong đó:
T
1
:Thời gian để tiến hành các thử nghiệm
T
t
:Thời gian vận chuyển hàng trên toa xe đến ga xuất và lập chứng từ cho
đơn vị vận chuyển

Sau khi xác định mức dự trữ theo ngày, doanh nghiệp cần tính toán các chỉ tiêu dự
trữ về hiện vật và giá trị. Mức dự trữ hiện vậtđược tính bằng cách nhân(x) mức sản phẩm
một ngày đêm theo hiện vật, với mức dự trữ theo ngày. Chỉ tiêu này được sử dụng trong
việc kế hoạch hoá cung ứng sản phẩm, kiểm tra tồn kho và tính toán diện tích kho để bảo
quản sản phẩm. Chỉ tiêu giá trị về dự trữ được tính bằng cách nhân(x) gía bán sản phẩm
với mức dự trữ hiện vật.
Trong các doanh nghiệp sản xuất mặt hàng, khối lượng sản xuất ngày đêm gồm
nhiều loại sản phẩm khác nhau thì cơ cấu và khoảng thời gian thực hiện các nghiệp vụ tiêu thụ, lô hàng xuất bán và các điều kiện khác nhau có thể rất khác nhau. Vì vậy, mức dự trữ
được tính có phân biệt theo mỗi loại sản phẩm và phải có mức tổng hợp về các loại sản
phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ. Mức này được tính theo phương pháp bình quân gia
quyền, theo công thức:


hiện tổng hợp các quan hệ kinh tế như cung cầu hàng hoá, tích luỹ và tiêu dùng, cạnh
tranh Giá trị hàng hoá là giá trị thị trường, giá trị được thừa nhận của người mua. Giá trị
luôn quyết định giá cả thị trường, là nội dung, là bản chất của giá cả. Ngược lại giá cả là
hình thức, là hiện tượng của giá trị. Ngoài ra, trong kinh doanh giá cả còn là quan hệ về lợi
ích kinh tế là tiêu chuẩn để các doanh nghiệp lựa chọn mặt hàng kinh doanh là một trong
các công cụ có thể kiểm soát mà các doanh nghiệp có thể và cần sử dụng một cách khoa
học để thực hiện các mục tiêu chiến lược kinh doanh.
Thông thường giá cả là một yếu tố rất nhạy cảm trong hoạt động kinh doanh nói
chung và hoạt động thương mại nói riêng bởi giá cả lên quan trực tiếp đến lợi ích các nhân
có tính mâu thuẫn giữa người mua và người bán. Đối với người bán, giá cả phản ánh
khoản thu nhập mà họ mong muốn có được do nhường quyền sở hữu hay quyền sử dụng
sản phẩm, dịch vụ của mình cho người mua. Giá cả càng cao, người bán càng có lợi.
Người bán được quyền đặt giá. Đối với người mua, giá cả phản ánh chi phí bằng tiền mà họ phải bỏ ra để có được quyền sở hữu hay quyền sử dụng sản phẩm, dịch vụ mà họ cần.
Giá càgn thấp thì người mua càng có lợi. Người mua được quyền trả giá
Hiện nay trên thị trường ngoài cạnh tranh bằng giá cả, có các loại hình cạnh tranh
tiên tiến hơn như cạnh tranh bằng chất lượng, bằng dịch vụ nhưng giá cả vẫn có một vai
trò quan trọng. Hàng hoá sẽ không tiêu thụ được nếu giá cả hàng hoá không được người
tiêu dùng chấp nhận. Người tiêu dùng luôn quan tâm đến giá cả hàng hoá và coi đó như
một chỉ dẫn về chất lượng hàng hoá và các chỉ tiêu khác của hàng hoá. Do vậy việc xác
định một chính sách giá đúng có vai trò sống còn đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào có
ảnh hưởng lớn đến toàn bộ quá trình kinh doanh của doanh nghiệp từ việc đặt kế hoạch
kinh doanh đến mua sắm, bán hàng, chi phí và lợi nhuận. Chính sách giá đúng sẽ giúp
doanh nghiệp bán được nhiều hàng hoá, thực hiện mục tiêu lợi nhuận, tăng thị phần và
nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên thương trường. Chính sách giá đúng sẽ phát huy có
hiệu quả các công cụ của marketing hỗn hợp.
Trong thực tế cạnh tranh bằng việc sử dụng chiến lược giá cả được coi là biện pháp
nghèo nàn nhất. Vì khi gặp phải đối thủ có tiềm lực lớn, cạnh tranh bằng giá sẽ không phát

doanh nghiệp có thể được tiến hành theo 6 bước:

1
0
: Lựa chọn mục tiêu định giá: để có hiệu quả, việc định giá phải được tiến hành
khi tập hợp các mục tiêu của việc định giá phù hợp với nhau và đã được phân định một
cách rõ ràng: mục tiêu định giá phải tương đồng với các mục tiêu chiến lược tiêu thụ,
ngoài ra có thể cần có các mục tiêu phụ. Các mục tiêu chủ yếu gồm: mục tiêu tồn tại, mục
tiêu tối đa hoá lợi nhuận hiện hành, mục tiêu dẫn đầu về chỉ tiêu thị phần, mục tiêu dẫn
đầu về chỉ tiêu chất lượng.

2
0
: Phân định sức cầu thị trường của doanh nghiệp: mỗi mức giá của doanh nghiệp
sẽ dẫn tới một mức cầu khác nhau, do vậy có hiêu lực của mục tiêu tiêu thụ khác nhau. Sự
thay đổi của cầu theo giá được thể hiện qua độ co dãn của đường cầu theo giá của doanh
nghiệp. Hệ số co dãn của cầu theo giá là tỷ lệ phần trăm thay đổi của cầu khi có một phần
trăm thay đổi của giá.
Q
1
– Q
0
P
1
– P
0
P Q
E= : = *
Q
0

5
0
: Lựa chọn các kỹ thuật định giá:
a/ Kỹ thuật định giá dựa trên chi phí kinh doanh:
+/ Định giá trên cơ sở chi phí cộng thêm: đây là một phương pháp phổ biến của
các doanh ngiệp. Phương pháp này căn cứ trên cơ sở giá thành sản phẩm và sau đó cộng
thêm một tỷ lệ vào giá thành cần thiết để thu hồi các chi phí và đạt mức lợi nhuận thoả
đáng theo mục tiêu. Sau đó căn cứ vào hình thức tiêu thụ mà xác định mức chiết khấu
thương mại hợp lý. Trong trường hợp doanh nghiệp sản xuất kinh doanh nhiều mặt hàng
hoá mà không thể định giá cho từng mặt hàng theo phương pháp này thì họ thường định
giá theo công thức (tức là áp dụng một tỷ lệ cận biên định trước cho từng mặt hàng hoặc
nhóm mặthàng) bao gồm 3 thành phần: các chi phí cho dịch vụ tác nghiệp, hoạt động
marketing, yểm trợ; tỷ lệ hạ giá dự kiến và tình trạng thiếu dự trữ dự kiến; mục tiêu lợi
nhuận ròng của doanh nghiệp.
+/ Phân tích điểm hoà vốn và định giá theo lợi nhuận:
F
BEP =
P - f
Trong đó: BEP: điểm hoà vốn
P : giá bán đơn vị sản phẩm
f : chi phí biến đổi bình quân/ dơn vị
F : tổng chi phí cố định Từ đây ta có công thức định giá tương đương với một lợi nhuận dự kiến và khối lượng
hàng hoá phải bán được (Q) ở mức giá (p) để đạt được lợi nhuận dự kiến biểu hiện bằng
một tỷ lệ k theo doanh thu:
1 F
P = * + f
1 – k Q

đ
ịnh giá

Phân tích c
ầu thị tr
ư
ờng


ợng giá

chi phí

Phân tích giá đ
ối thủ cạnh
Ch
ọn kỹ thuật
đ
ịnh giá thích
Ch
ọn giá cuối cùng của thị 2. Các kỹ thuật điều chỉnh giá:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status