TIỂU LUẬN:
Bội chi ngân sách Nhà nước ở
Việt Nam hiện nay thực trạng
và giải pháp
MỞ ĐẦU Một nhà nước dù tồn tại trong bất kì giai đoạn nào của lịch sử đều luôn cố
gắng hoàn thành được sứ mạng lịch sử của nó.Nhà nước ta cũng như vậy, và để
hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao thì nhà nước cần có những công cụ riêng
của mình.Một trong những công cụ đắc lực giúp Nhà nước đó chính là ngân sách
Nhà nước.Trong những năm qua thì vai trò của ngân sách Nhà nước đã được thể
hiện rõ trong việc giúp Nhà nước hình thành các quan hệ thị trường góp phần kiểm
soát lạm phát, tỷ lệ lãi suất thích hợp để từ đó làm lành mạnh hoá nền tài chính quốc
gia, đảm bảo sự ổn định và phát triển của nền kinh tế.Tuy nhiên bên cạnh những
CHƯƠNG I
NHỮNG VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VỀ BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
1.1: Quan điểm về bội chi ngân sách Nhà nước
Bội chi và thâm hụt là hai cách gọi khác nhau của cùng một hiện tượng khi
tổng nguồn thu không đủ trang trải tổng các nhiệm chi của một Chính phủ, một địa
phương, một đơn vị trong một thời kì nhất định(thường là một năm).Khi nói đến bội
chi ngân sách Nhà nước tức là các khoản chênh lệch thiếu giữa tổng các nguồn thu
so với tổng các khoản chi của ngân sách Nhà nước trong một năm.Tuy nhiên vấn đề
quy định các khoản thu, chi ngân sách Nhà nước để xác định bội chi ở mỗi quốc gia
thường không hoàn toàn giống nhau.
Cách tính chi ở Việt Nam bao gồm cả chi nợ gốc và lãi, không bao gồm các
khoản vay về cho vay lại.Còn theo thông lệ quốc tế thì chi chỉ bao gồm các khoản
trả nợ lãi chứ không bao gồm trả nợ gốc.Do đó điều quan trọng trong quản lí bội chi
không phải là sự tính toán đơn thuần là lấy tổng thu trừ đi tổng chi mà phải xác định
hợp lí và quy định hợp pháp những khoản tiền nào được tính vào tổng thu, những
khoản nào được tính vào tổng chi của ngân sách Nhà nước trong từng năm.
hiệu qu ả, thêm vào đó là năng lực quản lí quản lí ngân sách còn nhiều bất cập, chưa
thực sự minh bạch và khoa học là những nguyên nhân chủ yếu gây ra tình trạng thu
không đủ chi, rất nhiều công trình xậy dựng xong không thể sử dụng được gây lãng
phí rat nhiều tiền của Nhà nước và nhân dân.Chính vì vậy mà đòi hỏi Nhà nước ta
cần phải có những biện pháp thực sự hiệu quả trong quản lí thu chi ngân sách để từ
đó hạn chế rồi dần dần tiến tới xoá bỏ tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước.
1.2.2: Quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế xã hội
Mục tiêu chủ yếu trong đường lối phát triển kinh tế ở nước ta là làm cho dân
giàu nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.Và để đạt được mục tiêu tốt
đẹp ấy thì Nhà nước ta đã thực thi rất nhiều biện pháp quan trọng.Một trong những
chính sách ấy là tiến hành xây dựng rất nhiều công trình công cộng phục vụ nhu cầu
đời sống của nhân dân nh ư: điện, đường, trường, trạm… đây là những công trình hết sức thiết thực và cần thiết nhưng để xây dựng được thì chúng ta cần phải có một
lượng vốn lớn.Trong những năm đầu của quá trình cải cách mở cửa thì việc huy
động vốn của nước ta gặp rất nhiều khó khăn, trở ngại, chính vì lẽ đó mà ta luôn
lâm vào tình trạng thu không đủ chi.Ngân sách Nhà nước bị thiếu hụt thường xuyên,
điều này về lâu về dài sẽ gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đến nên kinh tế đất
nước.Nếu như chúng ta có những biện pháp thu hút thêm nhiều nguồn vốn hơn nữa
cả ở trong và ngoài nước, tiến hành việc xây dựng một cách có trọng điểm, chật
lượng, tiết kiệm, hiệu quả đồng thời quản lí nguồn ngân quỹ một cách chặt chẽ,
khoa học.điều đó sẽ tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, mở rộng khả năng
thu, chi cho ngân sách, giảm thiểu một cách tối đa tình trạng thâm hụt ngân sách.
1.2.3: Mục tiêu, quan điểm chiến lược tài chính tiền tệ
Có thể nói chính sách tài chính quốc gia là một trong những chính sách quan
trọng nhất có ảnh hưởng trực tiếp đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế đất
nước nói chung và bội chi ngân sách Nhà nước nói riêng. Bằng việc cải tổ cơ bản
chính sách tài chính, cơ cấu thu chi ngân sách, chính sách thuế để tiến tới kiểmsoát
lạm phát, ổn định giá cả, sức mua của đồng tiền, ổn định tình hình kinh tế xã
trong tình trạng thiếu kiến thức đầy đủ và kinh nghiệm quản lí tài chính còn yếu.Do
đó chúng ta cần phải ra sức học tập, đúc rút kinh nghiệm của những nước khác và
cả trong quá trình tiến hành thực hiện.Hoàn thiện hệ thống pháp luật về tài chính,
đảm bảo cân đôi giữa thu và chi, tiến tới một nền tài chính vững mạnh.
1.2.4: Xu hướng diễn biến tình hình kinh tế
Tình hình kinh tế cũng có những ảnh hưởng to lớn và sâu sắc đến quá trinh
thu chi ngân sách Nhà nước.Nền kinh tế nước ta trong nhưng năm qua đã và đang
có nhưng chuyển biến hết sức to lớn và tích cực.Kinh tế tăng trưởng hàng năm
thuộc vào hàng cao trên thế giới, thu ngân sách đạt khá, chúng ta đã thu hút được
khá lớn nguồn vốn trong dân chúng thông qua việc thu thuế, phát hành trái phiếu
chính phủ, công trái xây dựng tổ quốc…đồng thời một lượng vốn đầu tư nước ngoài đang ngày tăng trong những năm gần đây, bên cạnh đó thì ta cũng đã tranh thủ được
những sự trợ giúp quý báu của các tổ chức tài chính quốc tế thông qua viện trợ
ODA.chính những yếu tố đó đã góp một phần đáng kể trong việc cân đối cán cân
thu chi ngân sách Nhà nước, giảm thiểu tình trạng thâm hụt ngân sách.
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế hết sức nhanh
chóng, quá trình toàn cầu hoá đang phát triển mạnh mẽ, khoa học công nghệ, các kỹ
thuật hiện đại không ngừng được phát minh sáng chế, sự hợp tác cũng như sự cạnh
tranh đang diễn ra hết sức mạnh mẽ, điều đó đòi hỏi chúng ta cần phải có những
chính sách tranh thủ được sự giúp đỡ của bạn bè quốc tế, thu hút thêm nữa những
nguồn vốn đầu t ư, viện trợ từ nước ngoài để phục vụ cho sự nghiệp phát triển đất
nước, đồng thời bên cạnh đó thì chúng ta cũng cần phải phát huy nội lực của bản
thân mình, không để đối tác họ có cơ hội chèn ép, gây khó khăn cho ta.Có như vậy
thì chúng ta mới có thể làm chủ được nguồn tài chính cuả mình, phát huy hiệu quả
tối đa của hệ thống tài chính nước nhà.
1.2.5: Những nhân tố kĩ thuật, chuyên môn ảnh hưởng đến cách xác định
mức bội chi ngân sách Nhà nước
Những tác động của bội chi ngân sách đến nền kinh tế là rất to lớn, nhưng để
trạng lãi suất tăng cao, điều này gây ra những trở ngại trong việc vay vốn của các
nhà đầu tư.Về lâu về dài thì sẽ dẫn đến tình trạng đầu tư sẽ giảm sút nghiêm trọng,
sẽ có nhiều doanh nghiệp bị phá sản do không tìm được những khoản vay thích hợp,
sản xuất trong nước bị thu nhỏ lại từ đó sẽ toạ điều kiện thúc đẩy quá trình nhập
siêu, cán cân thương mại quốc tế mất cân bằng.Những điều này dẫn đến tình trạng
thất nghiệp ngày càng gia tăng, thu nhập thực tế của người dân giảm sút và ngày
càng gặp nhiều khó khăn trong cuộc sống.
Mặt khác khi xảy ra tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước cũng là nguyên
nhân chủ yếu dẫn đến lạm phát cao.Bởi lẽ khi có thâm hụt ngân sách thì một biện
pháp mà chính phủ hay dùng là phát hành tiền để bù đắp ngân sách, mà khi tiền được tạo ra một cách quá mức như thế thì sẽ dẫn đến lạm phát tăng cao, mà nếu như
Chính phủ phát hành tráI phiếu ra công chúng để thu hút vốn, bù đắp cho phần thiếu
hụt thì trong một thời gian dài sẽ làm cho cầu về vốn tăng, do đó lãi suất tăng và
cung tiền tệ sẽ tăng.
Hơn nữa khi mà hiện nay nước ta đang trong quá trình xây dựng và phát
triển, rất cần sự ủng hộ, giúp đỡ của người dân trong nước cũng như bạn bè thế
giới.Nếu như mà chúng ta không biết cách quản lí nguồn vốn, nền tài chính cũng
như ngân sách quốc gia cho tốt thì dần dần sẽ gây mất lòng tin của người dân cũng
như của các nhà đầu tư trong và ngoài nước.Họ đầu tư càng ngày càng ít hơn, dẫn
đến nước ta đã thiếu vốn để xây dựng đất nước nay lại càng thiếu hơn, những mục
tiêu tốt đẹp mà chúng ta đã đề ra sẽ khó mà có thể trở thành hiện thực được. CHƯƠNG 2
THỰC TRẠNG BỘI CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƯỚC
2.1: Thực trạng bội chi ngân sách Nhà nước
2.1.1: Tình hình bội chi ngân sách Nhà nước
Trong 20 năm đất nước ta tiến hành công cuộc đổi mới cho đến nay thì năm
phải không ít những sai lầm, còn có những hạn chế cần phải rút kinh nghiệm và
khắc phục.Tiềm lực tài chính tuy đã được tăng lên đáng kể nhưng còn nhỏ bé và
vẫn không theo kịp nhu cầu tăng chi để giải quyết những nhu cầu bức xúc của nền
kinh tế.Nền tảng của nguồn thu ngân sách chua thực sự vững chắc, cơ cấu thu đã
được đổi mới nhưng chưa thực sự toàn diện.Trong khi nhu cầu về xây dựng cơ sở
hạ tầng, phát triển giáo dục, khoa học công nghệ, xoá đói giảm nghèo, thực hiện quá
trình công nghiệp hoá-hiện đại hoá đất nước đang là áp lực lớn cho ngân sách Nhà
nước.
Thêm vào đó thì việc phân bổ sử dụng ngân sách Nhà nước còn nhiều bất
cập, hiệu quả đã được nâng lên nhưng chưa cao, vẫn còn tình trạng thất thoát trong
sử dụng nguồn ngân sách.Chi cho đầu tư xây dựng cơ bản còn phân tán, công tác
quy hoạch, chuẩn bị đâu tư, lập dự án chưa được chú trọng nên chất lượng công
trình không cao.Chế độ tiêu chuẩn, định mức chi ngân sách vừa thiếu vừa lạc hậu so
với thực tế gây khó khăn cho việc cấp kinh phí, kiểm tra, kiểm soát trong chi ngân
sách.Trong chi thường xuyên của chi ngân sách Nhà nước thì chi cho lương còn
chiếm tỷ trọng lớn(chiếm 50% tổng chi thường xuyên) điều đó là do việc tinh giảm
biên chế trong khu vựa hành chính sự nghiệp hiệu quả còn thấp.
Việc thực hành chống lãng phí, tiết kiệm chưa được các cấp quan tâm đầy
đủ, vẫn còn có nhiều hoạt động mang tính phô trương hình thức, hội họp, chiêu đãi
không cần thiết vẫn diễn ra ở nhiều nơi.Công tác kiểm tra còn mang tính hình thức,
chưa thực sự phát huy hiệu quả.Chính điều này đã góp phần làm cho ngân sách
không đủ để chi, tình trạng bội chi ngân sách vẫn còn diễn ra ỏ nhiều địa phương,
nhiều lĩnh vực trong đời sông kinh tế-xã hội. 2.1.2: Nguyên nhân chủ yếu của bội chi ngân sách Nhà nước
Trong thời gian qua thì tình hình bội chi ngân sách ở nước ta có nhiều diễn
biến phức tạp, điều đó do nhiều nguyên nhân tác động.
-Có những thời kì mà nền kinh tế nước ta chịu ảnh hưởng của cuộc khủng
hoảng tài chính tiền tệ trong khu vực, do đó mà dẫn đến tình trạng nền kinh tế bị
đất nước cho nên ngân sách Nhà nước luôn ở một mức bội chi nào đó.
2.2: Những ưu điểm và hạn chế trong quản lí bội chi ngân sách Nhà
nước
2.2.1: Ưu điểm và kết qu ả
Quản lí bội chi ngân sách trong thơi gian qua đã đáp ứng được nhu cầu điều
hành vĩ mô, góp phần ổn định và lành mạnh hoá nền tài chính quốc gia.Mức độ bội
chi ngân sách luôn được kiềm chế ở mức độ hợp lí trên tổng GDP đã góp phần quan
trọng trong việc giúp Nhà nước kiểm soát tốt hơn công việc thu chi của mình.Như
chúng ta đã biết một trong những nhiệm vụ quan trọng của Nhà nước là điều hành
nền kinh tế làm sao cho thật sự hiệu qu ả, kiểm soát mức độ lạm phát ở mức độ cho
phép, tạo thêm nhiều công ăn việc làm hơn nữa cho người lao động, đẩy nhanh tốc
độ phát triển của nền kinh tế, cải thiện từng bước đời sống của người dân…và để
đạt được những mục tiêu quan trọng ấy thì điều kiện quan trọng đầu tiên là phải có
một nền tài chính vững chắc, một nguồn ngân sách ổn định.Muốn vậy thì Nhà nước
phải quản lí thu chi làm sao cho cân đối và trong thời gian qua thì Nhà nước ta đã
có những chính sách khá hiệu quả trong việc quản lí ngân sách của mình, giảm thiểu
một cách đáng kể tình trạng bội chi ngân sách Nhà nước.Bằng việc tiến hành mở
rộng thêm nhiều nguồn thu hơn nữa, thu hút được nhiều hơn những nguồn vốn đầu
tư trong nước và cả nước ngoài, kích thích hoạt động sản xuất ngày càng được mở
rộng hơn nữa.Trong lĩnh vực chi thi Nhà nước đã đầu tư có trọng điểm hơn, kiểm
tra giám sát hoạt động chi thường xuyên của mình, giảm thiểu một cách tối đa sự
thất thoát lãng phí trong xây dựng cơ bản, tiến hành đầu tư có trọng điểm, tránh tình
trạng dàn trải không có mục đích rõ ràng…tất cả những biện pháp ấy đã góp phần tích cực trong việc giúp Nhà nước quản lí nền kinh tế một cách có hiệu quả hơn
nữa, đã đem lại một số những thành tựu đáng ghi nhận
Những nguyên tắc cơ bản về cân đối ngân sách Nhà nước kể cả ngân sách
địa phương và những quan điểm cụ thể về quản lí bội chi ngân sách Nhà nước được
cụ thể hoá trong luật ngân sách đã góp phần quan trọng trong điều hành thực tế, góp
trường nước ngoài.Nguồn thu ngân sách của chúng ta không thưc sự vững chắc, bị
động, một số nguồn thu lớn lại phụ thuộc vào giá cả thị trường thế giới (thu từ dầu
thô, thuế xuất nhập khẩu …)điều đó đã gây khó khăn không nhỏ, tác động mạnh mẽ
đến tình hình bội chi ngân sách ở nước ta trong thơi gian tới.
Hiện nay trên thế giới đang diễn ra quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hết sức
mạnh mẽ, xu thế toàn cầu hoá đang có những ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống
kinh t ê-xã hội của các nước trên thế giới.Việc tham gia vào khu vực mậu dịch tự do
ASEAN, nhất là gần đây đất nước ta đã gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO,
điều đó sẽ dẫn đến việc chúng ta sẽ phảI tiến hành cắt giảm thuế của rất nhiều mặt
hàng mà ta đã cam kết khi tham gia vào những tổ chức, diễn đàn này.Trong đó có
những mặt hàng mà đã từ nhiều năm nay đem lại một nguồn thu không nhỏ cho ngân
sách Nhà nước.Trong tình hình náy sẽ khiến cho nguồn thu ngân sách Nhà nước bị
giảm đáng kể, gây khó khăn cho việc chi tiêu của Nhà nước trong tương lai.
Tình trạng thất thu, trốn thuế, kiểm soát nguồn thu thiếu chặt chẽ, buông lỏng
trong công tác giám sát kiểm tra, giám sát việc thu chi ngân sách cũng là nguyên
nhân tác động xấu đến bội chi ngân sách Nhà nước.
Lãi xuất vay trong thời gian qua còn cao, thời gian vay còn ngắn, ít có những
khoản vay dài hạn, trong khi đó nhiều khoản vay được dùng để xây dựng đầu tư cơ bản
với thời gian thu hồi vốn lâu đã gây khó khăn cho công tác thu ngân sách.Mặt khác thì
còn có nhiều dự án đầu tư không mang lại hiệu qu ả, nhiều chủ dự án không có khả
năng trả nợ, tình trạng tham ô, tham nhũng ở nhiều cấp, nhiều lĩnh vực còn diễn ra phổ
biến cũng là những nguyên nhân gây thất thoát lãng phí trong việc sử dụng nguồn ngân
sách Nhà nước. Đối với những khoản vay nước ngoài, mặc dù được ưu đãivới lãi suất thấp,
thời gian vay dài hạn với khối lượng tương đối lớn, tuy nhiên đây là những khoản
vay theo chương trình, theo những điều khoản đã được định sẵn trong các hợp đồng
vay nợ mà bên đối tác đưa ra, vì vậy mà nếu như ta không có sự chuẩn bị kỹ càng,
xem xét kĩ tính khả thi của từng dự án, thẩm định, duyệt dự án một cách rõ ràng thì
nghiệp vụ các quy trình quản lí, phân cấp lạ nhiệm vụ thu thuế giữa cục thuế và chi
cục thuế nhằm tranh thủ và sự phối hợp chỉ đạo của các cấp uỷ đảng, chính quyền
để tạo bước chuyển mạnh trong công tac thu thuế, nhất là khu vực ngoài quốc
doanh.
Cơ quan thuế tăng cường công tác tổ chức hướng dẫn và kiểm tra thu thuế
phấn đấu mỗi đơn vị sản xuất kinh doanh phải được kiểm tra tối thiểu một lần một
năm, đồng thời khẩn trương nghiên cứu để phân biệt và xác định rõ các hành vi trốn
lậu thuế để có các biện pháp xử lý nghiêm đối với những trường hợp vi phạm. Áp dụng rộng rãi các biện pháp vay dân và vay nước ngoài để đáp ứng
những nhiệm vụ quan trọng có tính chất tình thế, thay cho việc phát hành thêm tiền
vào lưu thông.Kho bạc Nhà nước sử dụng các hình thức trái phiếu tín phiếu hay
công trái trên tinh thần đảm bảo lợi ích cho người có vốn, mức lãi suất thao lãi suất
thị trường.Đồng thời để các chứng khoán có điều kiện có thể giao lưu trên thị
trường hay sở giao dịch chứng khoán nhăm làm cho quá trình giao lưu và luân
chuyển vốn được thuận tiện hơn.Các khoản vay nước ngoài cần được tính toán về
mục đích sự dụng, địa chỉ nhận vốn và hiệu quả đầu t ư, không vay cho tiêu dùng
mà tập trung vốn để cho đầu tư phát triển và một số lĩnh vực văn hoá hội.
3.1.2: Đổi mới cách thức tiến hành chi tiêu
Phân bổ và cấp phát chi ngân sách Nhà nước phải tập trung thực hiện với các
mục tiêu tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế với nhịp độ cao và bền
vững.Giải quyết tốt các yêu cầu để tạo sự chuyển biến mạnh và phát huy nhân tố
nguồn lực con người, ổn định chính trị xã hội.
Trong việc chi cho đầu tư xây dựng cơ bản cần phải xem xét lại các chương
trình, các dự án đầu tư băng nguồn ngân sách Nhà nước, bố trí đầu tư tập trung, có
trọng điểm, theo đúng kế hoạch.Nâng cao vai trò chủ động của cơ quan tài chính
trong việc thẩm định các dự án.Các bộ ngành địa phương phải giành tỷ lệ vốn thích
đáng trong tổng vốn đầu tư cho các lĩnh vực quan trọng nh ư: giáo dục đào tạo, y tế,
xây dựng cơ sở hạ tầng…chuẩn bị thực hiện, giải phóng và đền bù mặt bằng, bố trí
hội.Thực tế đã cho chúng ta những bài quý giá về việc phát hành tiền quá dễ dãi để
bù đắp bội chi ngân sách gây ra lạm phát cao trong thập niên 80.Từ 1-4-1990 chúng
ta đã thành lập hệ thống kho bac Nhà nước trực thuộc bộ tài chính (người chịu trách
nhiệm về bội chi ngân sách Nhà nước) độc lập với ngân hàng Nhà nước (người
chịu trách nhiệm về việc phát hành tiền vào trong lưu thông) được xem là một cuộc
cách mạng cơ cấu nhằm tách chức năng quản lí quỹ ngân sách Nhà nước ra khỏi
chức năng phát hành tiền, tranh được tình trạng” mang tiền túi nọ bỏ vào tui kia”.Cơ
chế đò đã góp phần tích cực trong việc kiềm chế bội chi và lạm phát trong những năm qua.Thực tế thì trong những năm qua thì Nhà nước ta đã không phát hành tiền
để trang trai thâm hụt ngân sách nữa mà thay vào đó là việc phát hành tín phiếu, trái
phiếu kho bạc Nhà nước và vay nợ nước ngoài để bù đắp bội chi, những việc làm
này cũng gốp phần tích cực trong việc kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên trong điều kiện nền kinh tế ở vào trạng thái suy thoái, mức độ lạm
phát không cao, vật giá không leo thang, thì khi đó việc phát hành tiền cần phải
được chủ động tiến hành nhằm mục tiêu trước mắt là có tiền để trang trải các
chương trình đầu tư phát triển, có tiền để tăng lương theo đúng kế hoạch, bù đặp bội
chi ngân sách.Sau nữa việc phát hành tiền ở mức độ và thời điểm hợp lí sẽ tạo ra
mức lạm phát nhẹ, từ đó kích tiêu dùng, giảm gánh nặng về nghĩa vụ trả nợ của Nhà
nước, thúc đẩy kinh tế phát triển.Nhất là nếu chủ động một phần(15-20%) nguồn
vốn phát hành cho đầu tư hạ tầng sẽ có tác dụng rất tốt đối với nền kinh tế, đẩy
nhanh tốc độ phát triển kinh tế đang bị suy giảm.
Như vậy thì biện pháp phát hành tiền để bù đắp bội chi ngân sách luôn có 2
mặt của nó, nếu như ta biết áp dụng khéo léo, linh hoạt sao cho thật sự phù hợp
trong từng tình huống cụ thể của nền kinh tế thì sẽ làm giảm bớt những ảnh hưởng
của bội chi ngân sách, kích thích nền kinh tế phát triển nhanh hơn nữa.Nhưng
ngược lại nêu như chúng ta quá lạm dụng vào biện pháp này để bù đắp thâm hụt
ngân sách thì sẽ gây ra những hậu quả khôn lường đến sự ổn định và phát triển của
nền kinh tế cũng như làm nguy hại đến những giá trị mà chúng ta đã đạt được trong
thành văn khác như phải qua ngân hàng trung gian xuất nhập khẩu Nhật Bản.Vay
nước ngoài tuy còn phụ thuộc vào rất nhiều vào uy tín và khả năng trả nợ của nền
kinh tế nhưng không xâm hại đến nguồn vốn trong nước giành cho đầu tư, lại
thường có khối lượng đáng kể, có nhiều cơ hội đổi mới công nghệ kỹ thuật và quản
lý, có thời hạn đủ dài để vốn vay phát huy hiệu quả.Do đó cũng cần quan tâm đúng
mức đến biện pháp vay nước ngoài để bù đắp bội chi.
Thêm vào đó càng tăng cường đi vay Chính phủ càng chất thêm gánh nặng
nợ và càng làm giảm quyền lực tài chính của mình.Thật vậy nghĩa vụ nợ đến hạn
bắt buộc phải trả hàng năm đương nhiên được trích từ ngân sách Nhà nước do đó mà khi đến hạn trả nợ thì vô hình chung các khoản chi trả của Chính phủ tăng lên
một cách trông thấy.Như vậy một chính phủ đi vay quá nhiều cả ở trong và ngoài
nước sẽ gây ra nhiều biến động bất lợi của nền kinh tế, làm giảm uy tín cũng như
khả năng tự chủ về tài chính của Nhà nước đó.Do vậy chúng ta cần phải cân đối,
tính toán cho thật chính xác thời điểm đi vay, vay ở đâu, và vay của những đối
tượng nào là tốt nhất, đem lại hiệu quả cao nhất.
3.2.3: Bù đắp sự thiếu hụt ngân sách bằng biện pháp tăng thuế
Tăng thuế bằng biện pháp trực tiếp tăng thúê suất là giải pháp khó triển khai
và tốn kém.Mặc dù Nhà nước hoàn toàn có quyền tăng thuế hoặc ban hành thêm
thuế mới để tạo nguồn bù đắp bội chi ngân sách.Tuy nhiên cần tính đến tác động
nhiều chiều của giải pháp này.
Theo La-phe nhà kinh tế học người Mỹ, hồi thập niên 70 đã đồ thị hoá 2 tác
động trái ngược nhau của việc tăng thuế tuỳ theo mức thuế suất áp dụng.Khi còn ở
trong vùng có thể chịu đựng được thì tăng sẽ thuế suất sẽ làm tăng nguồn thu cho
ngân sách Nhà nước, đồng thời còn kích thích các đối tượng nộp thuế phát triển
kinh doanh, mở mang các hoạt động kinh tế, tăng khả năng sinh lời có một phần
nộp cho ngân sách Nhà nước còn một phần làm thặng dư cho mình.Trong trường
hợp này tăng thuế có tác dụng kích thích sự phát triển kinh tế, nhưng khi vượt quá
giới hạn chịu đựng của nền kinh tế thì khi tăng thuế lại làm giảm nguồn thu từ ngân
cần xuất phát từ bối cảnh kinh tế-xã hội từng năm, căn cứ mục tiêu các kế hoạch tài
chính ngắn hạn, trung hạn, dài hạn…cũng như căn cứ tình hình tài chính, tiền tệ,
tình hình nợ nước ngoài…để xác định các giải pháp khai thác nguồn tài chính bù
đắp bội chi thích hợp.Ngoài ra Nhà nước cần tích cực triển khai các chương trình
cải thiện cơ sở hạ tầng, hoàn thiện mạng lưới giao thông, kích thích tiêu dùng nhằm
tăng cường khả năng phát triển của nền kinh tế.Tuy nhiên cần tách bạch phạm trù
kích cầu với phạm trù kích cầu với phạm trù tiết kiệm chống lãng phí.Trong điều
kiện tiềm lực ngân sách Nhà nước có hạn, thì kích cầu không để xảy ra tình trạng
vung tiền bừa bãi, bỏ qua các quy định, quy phạm tài chính về thực hành tiết kiệm
chống lãng phí, tiến hành đầu tư có trọng điểm, cải thiện thực chất chế độ tiện lương theo hướng tăng thu nhập cho người hưởng lương nhưng không tăng biên chế để
làm tăng tổng quỹ lương.
Tóm lại mỗi giải pháp đều có ưu nhược điểm nhất định, cần tuỳ thuộc và
điều kiện hoàn cảnh cụ thể của nền kinh tế đất nước để lựa chọn những giải pháp
thích hợp.Tuy nhiên nhìn một cách toàn diện thì thực hiện tốt công tác quản lí và
điều hành ngân sách Nhà nước vẫn là biện pháp tốt nhất cho các quốc gia để hạn
chế, khắc phục tình trạng thâm hụt ngân sách Nhà nước.