ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT BÙI THỊ HƯỜNG
PHÁP LUẬT VỀ THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
Ở VIỆT NAM HIỆN NAY – THỰC TRẠNG VÀ
NHỮNG VẤN ĐỀ CẦN HOÀN THIỆN LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Bùi Xuân Đức
HÀ NỘI - 2010
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU
1
Chƣơng 1: KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
4
1.1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
4
1.1.1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
4
1.1.2. Vai trò, đặc điểm của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
10
1.2. Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
14
1.2.1. Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở xã, phường, thị
trấn
14
1.2.2. Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở tại các cơ quan,
88
Chƣơng 3: PHƢƠNG HƢỚNG, GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO
HIỆU QUẢ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN DÂN CHỦ CƠ SỞ
95
3.1. Yêu cầu khách quan về việc hoàn thiện pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở
Việt Nam hiện nay
95
3.2. Quan điểm, phương hướng hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp luật thực
hiện dân chủ cơ sở
97
3.3. Giải pháp hoàn thiện và nâng cao chất lượng pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
99
3.3.1. Bổ sung, hoàn thiện Pháp lệnh dân chủ ở xã, phường, thị trấn
99
3.3.2. Bổ sung, hoàn thiện các quy định của Pháp luật thực hiện dân chủ trong
các cơ quan, tổ chức, xí nghiệp
103
3.3.3. Ban hành luật riêng về Thanh tra nhân dân hoặc Luật về hoạt động giám sát
của nhân dân để quy định về vai trò giám sát nhân dân đối với bộ máy nhà nước
khi Luật Thanh tra không còn quy định về vấn đề này 104
mạng, của sự nghiệp xây dựng và đổi mới đất nước. Xây dựng chế độ nhà nước dân
chủ với nguyên tắc "Toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân" là sợi chỉ đỏ
xuyên suốt trong toàn bộ hoạt động của Đảng và Nhà nước ta.
Các quyền dân chủ của nhân dân được ghi nhận trong các quy định của Hiến
pháp và hàng loạt các quy định về pháp luật dân chủ ở xã, phường, thị trấn, cơ quan,
tổ chức, xí nghiệp…Từ khi Đảng và Nhà nước ta ban hành chủ trương xây dựng và
thực hiện pháp luật về dân chủ ở cơ sở, cho đến nay, chúng ta đã triển khai thực
hiện rộng khắp trong cả nước và đã thu được nhiều thành tựu quan trọng trên tất cả
các mặt đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa xã hội của đất nước. Việc triển khai xây
dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở thời gian qua đã chứng tỏ đây là một
chủ trương đúng đắn, hợp lòng dân, đáp ứng được nhu cầu bức thiết và lợi ích to
lớn trực tiếp của đông đảo quần chúng nhân dân lao động, được nhân dân phấn khởi
đón nhận và tích cực thực hiện, vận động thực hiện, thể hiện tính ưu việt của chế độ
dân chủ xã hội chủ nghĩa. Từ đó người dân đã hiểu rõ hơn về quyền lợi, trách nhiệm
và nghĩa vụ của mình. Cán bộ, đảng viên nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý ở cơ sở có
ý thức hơn về dân chủ và tôn trọng quyền làm chủ của nhân dân. Tuy nhiên, sau
nhiều năm thực hiện, vẫn còn một số địa phương, đơn vị chưa có chuyển biến nhiều
do nhận thức chưa đầy đủ, đúng đắn về Quy chế dân chủ ở cơ sở trong một bộ phận
cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực tiễn cho thấy ở những nơi phong trào yếu kém,
cán bộ có khuyết điểm, thiếu trách nhiệm đều không muốn triển khai thực hiện hoặc
2
triển khai hình thức, qua loa, chiếu lệ, kiểu làm cho xong việc. Tuy nhiên, cũng có
những cán bộ nhiệt tình thực hiện nhưng do trình độ hạn chế, không nhận thức đúng
việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở, nên quá trình triển khai, thực
hiện còn nhiều khuyết điểm, yếu kém, chưa đạt yêu cầu và nội dung của quy chế. Vì
thế, chất lượng thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở bị hạn chế. Mặt khác còn một bộ
phận nhân dân thường chỉ quan tâm đến quyền lợi nhiều hơn nghĩa vụ, chưa làm tốt
nghĩa vụ công dân. Thậm chí có hiện tượng lợi dụng dân chủ và dân chủ cực đoan.
Trước tình hình đó, vấn đề nghiên cứu pháp luật về dân chủ cơ sở, thực tiễn thực
Luận văn được thực hiện trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin và tư
tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề dân chủ và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở cũng
như những quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước ta hiện nay về vấn đề này và
về vấn đề xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu của chủ nghĩa duy vật biện
chứng, các phương pháp cụ thể khác như phương pháp: lịch sử cụ thể, phân tích,
tổng hợp; kết hợp với các phương pháp nghiên cứu khác: thống kê, so sánh.
5. Kết cấu của luận văn
Luận văn gồm: Phần mở đầu
Phần nội dung gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát về pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
Chương 2: Thực trạng pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở Việt Nam hiện nay
Chương 3: Phương hướng, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả của pháp
luật thực hiện dân chủ cơ sở
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
4
Chƣơng 1
KHÁI QUÁT VỀ PHÁP LUẬT THỰC HIỆN
DÂN CHỦ CƠ SỞ
1.1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.1.1. Thực hiện dân chủ cơ sở và pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.1.1.1 . Khái niệm dân chủ
thể tách rời khỏi mối quan hệ truyền thống - hiện đại trong văn hóa. Dân chủ còn là
một yếu tố của văn hóa, một thành tựu của văn hóa đã có từ lâu đời trong truyền thống
văn hóa của dân tộc. Theo các nhà kinh điển: dân chủ là sản phẩm tự quyết của nhân
dân, phản ánh sự tồn tại của con người với tất cả ý trí, tài năng và lợi ích của họ; dân
chủ là sản phẩm của đấu tranh giai cấp; quyền dân chủ bị chế định bởi tương quan
giai cấp, trạng thái phát triển của sản xuất và trình độ văn hóa chung, trước hết là
văn hóa chính trị của nhân dân; dân chủ là một hình thức Nhà nước mà ở đó thừa
nhận quyền ngang nhau của dân cư trong việc xác định cơ cấu nhà nước và quản lý
xã hội.
Như vậy, dân chủ là vấn đề phức tạp, nhạy cảm, có nội dung rộng lớn và luôn
luôn mới, gắn với những tiến bộ về lịch sử và văn hóa của loài người. Để hiểu rõ
bản chất, nội dung và tính chất của dân chủ, phải xem xét nó dưới nhiều góc độ,
khía cạnh: là phương thức của phong trào chính trị xã hội của quần chúng; là hình
thức nhà nước, hình thức tổ chức và thực hiện quyền lực xã hội; là một hệ thống
quyền hành, tự do và trách nhiệm của công dân được quy định bởi hiến pháp và
pháp luật; là nguyên tắc tổ chức toàn thể xã hội và với tư cách là một chế độ chính trị.
Tuy tiếp cận vấn đề dân chủ dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng chung quy
lại các ý kiến đều thống nhất ở luận điểm: Dân chủ là quyền lực thuộc về nhân dân.
Như vậy, dù xem xét dân chủ dưới góc độ nào thì thực chất bản chất, nội dung, tính
chất và khuynh hướng phát triển của dân chủ là hoàn toàn phụ thuộc vào chỗ quyền
lực chính trị thuộc về tầng lớp nào, giai cấp nào và phục vụ cho tầng lớp nào, giai
cấp nào trong xã hội đó. Và điều đó lại lần nữa chứng minh thêm cho tính đúng đắn
của luận điểm: sự khác nhau về chất giữa dân chủ xã hội chủ nghĩa và dân chủ tư sản.
6
Dân chủ được bảo đảm và phát huy bằng nhiều biện pháp. Tuy nhiên, việc
thực thi dân chủ phải luôn gắn liền với mối quan hệ giữa Nhà nước và nhân dân.
Ở Việt Nam, sau thắng lợi của Cách mạng tháng Tám năm 1945, Nhà nước
Việt Nam dân chủ cộng hòa - Nhà nước công nông đầu tiên ở Đông Nam Á được
thiết lập. Nhân dân ta từ địa vị nô lệ làm thuê đã trở thành người chủ của đất nước.
nước”[37, tr56]. Người nhấn mạnh việc thực thi dân chủ ở từng địa phương, từng cơ
sở, từng cán bộ, từng người dân, và từng công việc phải cụ thể, rõ ràng. Vận động
tất cả lực lượng, mỗi cán bộ, đảng viên thậm chí những người dân có nhận thức
đều phải có trách nhiệm làm cho dân hiểu được quyền lợi và nghĩa vụ của mình
trong vị thế của người làm chủ. Người yêu cầu “Bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với
dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân, cùng với dân đặt kế hoạch cho thiết thực
với hoàn cảnh địa phương”[40, tr.32].
Khi dân được biết, được hiểu, được bàn bạc xây dựng kế hoạch của địa
phương, cơ sở mình, họ sẽ dùng chính sức lao động của họ và những việc làm cụ
thể để cống hiến cho sự phát triển chung một cách tự giác.
Ngày nay phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" là thể hiện
tư tưởng của Người. Từ Đại hội VI, Đảng ta đã chủ trương thực hiện có nề nếp
phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra" và chủ trương đó ngày
càng được thực tế kiểm nghiệm tính cần thiết khách quan, và để quá trình dân chủ
hoá thực sự đi vào cuộc sống, chúng ta cần cụ thể hoá phương châm này. Nghị
quyết Hội nghị lần thứ 3 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá VIII (tháng 6/1997)
khẳng định khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm chủ của
nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương chính sách của Đảng và
pháp luật của Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền dân chủ của nhân dân một cách
trực tiếp và rộng rãi nhất. Theo tinh thần của Nghị quyết đó, Bộ Chính trị đã ra Chỉ
thị 30/CT - TW tháng 2/1998 và Chính phủ đã ban hành Quy chế thực hiện dân chủ
ở xã, phường, thị trấn, cơ quan và doanh nghiệp nhà nước. Đó là những văn bản có
tính chính trị và pháp lý làm cơ sở để mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở xây dựng và
thực hành thực hiện dân chủ - làm chủ.
Vậy, thực hiện dân chủ ở cơ sở là quyền dân chủ trực tiếp của người dân, (mặc
dù có cả dân chủ đại diện) được tiến hành từ cấp xã, phường trở xuống (đến cấp
thôn, xóm, đơn vị, cơ quan, nhà máy, xí nghiệp) theo phương châm dân biết, dân
8
bàn, dân làm, dân kiểm tra. Dân chủ ở cơ sở trước hết là dân chủ trực tiếp, là hình
pháp luật xây dựng trên nền tảng khép kín, chủ quan, khi thực hiện thì bưng bít,
không minh bạch vô hình chung nó sẽ trở thành công cụ của thiểu số áp đặt lên đa số.
Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là sự chi tiết các chủ trương, chính sách của
Đảng, Nhà nước về thực thiện dân chủ cơ sở đưa các chủ trương đó vào áp dụng
trong thực tiễn, pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở quy đinh các nội dung như: thực
hiện quyền dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, các cách thức và phương pháp
để đảm bảo quyền làm chủ của người dân. Những việc mà người dân được quyền
tham gia ý kiến và phải có sự tham gia của người dân; quy định về trách nhiệm của
cơ quan, tổ chức, xí nghiệp… trong việc thực hiện đúng các nội dung về dân chủ cơ
sở trong cơ quan, đơn vị mình.
điều đó được thể hiện ở các văn kiện đại hội của Đảng và các văn bản do Nhà
nước ban hành: Ban chấp hành Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam khóa VIII đã
ra chỉ thị số 30 về việc xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở. Thể chế hoá
chỉ thị của Bộ Chính trị, Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khóa X) ban hành các Nghị
quyết số 45/1998, số 55/1998, số 60/1998 giao cho Chính phủ ban hành các Nghị
định về thực hiện qui chế dân chủ ở ba loại hình cơ sở. Chính phủ đã ban hành Nghị
định số 29/1998, số 71/1998 và số 07/1999, trong đó NĐ 29/1998/NĐ – CP quy
định về Quy chế thực hiện dân chủ ở cấp xã, NĐ 71/1998//NĐ – CP quy định về
Quy chế thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính và NĐ 07/1999/NĐ – CP quy
định về Quy chế thực hiện dân chủ ở doanh nghiệp nhà nước và được bổ sung thêm
Nghị định số 87/2007/NĐ – CP ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở Công ty cổ
phần, công ty Trách nhiệm hữu hạn. Đối với quy chế thực hiện dân chủ cấp xã,
phường, thị trấn sau đó được được sửa đổi bằng Nghị định số 79/2003/NĐ – CP,
gần đây ngày 20 tháng 4 năm 2007 Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã xây dựng thành
Pháp lệnh về thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn.
Đảm bảo dân chủ cơ sở là đảm bảo thực hiện các nội dung, các yêu cầu dân
chủ trong đời sống xã hội, cụ thể là: đảm bảo cho các cơ quan, tổ chức nhà nước
được tổ chức và hoạt động theo các cơ chế, các nguyên tắc dân chủ, quyền hạn,
nhiệm vụ được giao của các cơ quan, tổ chức này phải phù hợp với các qui định của
pháp luật phù hợp với ý chí nguyện vọng của nhân dân, phục vụ cho lợi ích của
chế định pháp lý bảo đảm quyền làm chủ của người dân, người lao động ở xã,
phường, thị trấn, trong cơ quan, đơn vị, tổ chức, xí nghiệp.
11
Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở có vai trò rất quan trọng trong đời sống xã hội:
Một là: Sự ra đời của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là một bước đột phá
quan trọng trong việc thực hiện hóa bản chất dân chủ của Nhà nước ta sự ra đời của
pháp luật thực hiện dân chủ đã góp phần hoàn chỉnh hệ thống pháp luật, phù hợp
với sự phát triển của các điều kiện kinh tế - xã hội của đất nước trong thời kỳ mới.
Bảo đảm nguyên tắc pháp chế XHCN là những quan hệ xã hội quan trọng phải được
điều chỉnh bằng pháp luật.
Hai là: Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã tạo bầu không khí dân chủ, cởi
mở trong xã hội, củng cố thêm niềm tin của nhân dân vào chế độ xã hội, góp phần
xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân và vì dân.
Trong một thời gian dài trước đây dân chủ cơ sở đã không được quan tâm
đúng mức, nhiều nơi, nhiều lúc dân chủ cơ sở bị vi phạm nghiêm trọng, người dân,
người lao động không có cơ chế để bảo vệ và thực hiện quyền làm chủ của mình.
Do vậy, khi pháp luật thực hiện dân chủ ra đời và được triển khai đã làm cho người
dân, người lao động rất phấn khởi và nhiệt tình hưởng ứng. Thông qua quá trình học
tập và thực hiện dân chủ cơ sở người dân, người lao động, cán bộ, công nhân viên
chức đã thấy rõ hơn quyền cũng như trách nhiệm của mình trong việc xây dựng đời
sống dân chủ ở cơ sở, ý thức làm chủ, ý thức công dân đã có sự chuyển biến rõ rệt.
Ba là: Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã làm cho nhận thức của các đoàn
thể trong toàn hệ thống chính trị, các cơ quan đơn vị, công ty và toàn xã hội về dân
chủ và dân chủ trực tiếp ở cơ sở có nhiều chuyển biến tích cực.
Thực hiện dân chủ cơ sở ở xã đã tạo ra cơ sở pháp lý để MTTQ các cấp và các
tổ chức chính trị - xã hội thực hiện được vai trò cầu nối giữa Nhà nước và nhân dân
trong phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa. MTTQ và các tổ chức thành viên thông
qua hoạt động phối hợp tuyên truyền, vận động nhân dân, chỉ đạo triển trai xây
dựng, thực hiện, giám sát việc thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn, góp phần
phần vào công cuộc đổi mới hoàn thiện bộ máy Nhà nước và công cuộc cải cách
hành chính hiện nay ở Việt Nam.
Sáu là: Pháp luật thực hiện dân chủ nhất là pháp luật thực hiện dân chủ ở xã,
phường, thị trấn đã góp phần nâng cao hiệu quả tác động tới các ngành luật khác
như: "Luật tổ chức HĐND - UBND, luật giải quyết khiếu nại, tố cáo; luật bầu cử:
Quốc hội, Luật bầu cử HĐND các cấp".
13
Thực hiện dân chủ cơ sở là một giải pháp để hạn chế sự tha hóa của quyền lực
Nhà nước, hạn chế những hành vi lạm dụng chức vụ quyền hạn để lạm quyền và
lộng quyền, hạn chế những hành vi sai trai: tham nhũng, nhận hối lộ…bộ máy cơ
quan công quyền cũng như các Ban quản trị công ty, đơn vị, xí nghiệp hoạt động
hiệu quả hơn.
Chính nhờ những quy định rõ ràng về dân chủ cơ sở mà người dân biết sử
dụng quyền của mình để đấu tranh, loại trừ những hành vi tiêu cực đang xảy ra
xung quanh. Nhờ những quy định về việc cần thông báo, cần dân bàn, cần dân kiểm
tra đã làm hạn chế rất nhiều các hành vi tha hóa của cán bộ, đảng viên trong bộ máy
quyền lực Nhà nước cũng như trong các công ty, đơn vị, xí nghiệp.
Việc thực hiện pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở đã thúc đẩy và phát huy
quyền làm chủ của người dân, người lao động, khơi dậy tiềm năng, trí sáng tạo
trong họ, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần xây dựng niềm tin và mối liên hệ
chặt chẽ giữa dân với Đảng và chính quyền, giữa người lao động với công ty, đơn vị,
xí nghiệp.
Như vậy, pháp luật thực hiện dân chủ đã góp phần hoàn thiện hệ thống pháp
luật Việt Nam "nó" không chỉ là công cụ thể chế hoá một số chủ trương, chính sách
của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ sự nghiệp phát triển đất nước mà còn đóng
góp tích cực vào việc nâng cao hiệu quả tác động của các ngành luật khác.
1.1.2.2. Đặc điểm của pháp luật thực hiện dân chủ ở cấp cơ sở
Pháp luật thực hiện dân chủ ở cơ sở có những đặc điểm sau:
- Thứ nhất, khác với quy định thông thường, Quy định về thực hiện dân chủ là
pháp, pháp luật, xâm phạm lợi ích của nhà nước, lợi ích của tập thể, quyền tự do
dân chủ và lợi ích hợp pháp của công dân.
Như vậy, Pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở là các quy định có tính pháp lý để
đảm bảo việc thực hiện và triển khai các nội dung của dân chủ cơ sở trong đời sống
xã hội.
1.2. Nội dung của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở
1.2.1. Nội dung điều chỉnh của pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở ở xã,
phường, thị trấn
Nội dung điều chỉnh của pháp luật ở đây là nói đến phạm vi điều chỉnh của nó
tới những đối tượng nào, theo quy định chung thì phạm vi điều chỉnh là giới hạn
15
điều chỉnh của pháp luật đối với xã hội. Pháp luật không điều chỉnh tất cả các quan
hệ trong xã hội, mà chỉ điều chỉnh một số diện nhất định, một phạm vi nhất định mà
nhà nước thấy cần thiết. Các quan hệ xã hội khác có thể do quy phạm đạo đức điều
chỉnh hoặc có thể sử dụng các phương tiện điều chỉnh khác như thông qua thông tin,
tuyên truyền, thông qua văn học, nghệ thuật.
Về mặt nội dung điều chỉnh, dân chủ rất toàn diện bao quát các lĩnh vực đời
sống xã hội, từ kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa tư tưởng; từ các mối quan hệ giữa
con người với con người; đến quan hệ giữa cá nhân và cộng đồng; giữa công dân
với nhà nước, các tổ chức và thể chế hiện hành. Tác động trực tiếp nhất đến dân chủ
là dân chủ kinh tế và dân chủ chính trị. Cốt lõi của dân chủ kinh tế là lợi ích; cốt lõi
nhất của dân chủ chính trị là quyền lực thuộc về nhân dân, được thực hiện thông
qua chế độ bầu cử dân chủ, chế độ kiểm soát quyền lực nhà nước sau khi được thiết
lập một cách dân chủ, và chế độ bãi miễn nghiêm khắc đối với những nhân viên nhà
nước thoái hóa, biến chất.
Pháp luật về thực hiện dân chủ cũng có nội dung điều chỉnh riêng. Tại Điều 1
Pháp lệnh số 34/2007/PL – UBTVQH ngày 20 tháng 4 năm 2007 về thực hiện dân
chủ cơ sở ở xã, phường, thị trấn có ghi:“Pháp lệnh này quy định những nội dung
phải công khai để nhân dân biết; những nội dung nhân dân bàn và quyết định;
Cũng như pháp luật thực hiện dân chủ cơ sở cấp xã, phường, thị trấn, pháp luật
thực hiện dân chủ cơ sở ở cơ quan, công ty, đơn vị, xí nghiệp cũng có phạm vi Điều
chỉnh riêng.
Theo như quy định trong Nghị định số 71/1998/NĐ - CP quy định về Quy chế
thực hiện dân chủ ở cơ quan hành chính, trong quy định này có giới hạn phạm vi
nghiên cứu là pháp luật dân chủ cơ sở trong các cơ quan hành chính nhà nước từ
Trung ương đến cấp huyện vì cấp xã đã được điều chỉnh bằng một văn bản pháp
luật khác.
Theo các quy định của quy chế này nhằm để đảm bảo dân chủ trong sinh hoạt
của các cơ quan, quy định trách nhiệm và những việc mà chủ trưởng cơ quan, đơn
vị phải làm, trách nhiệm của cán bộ, công chức, quy định về những việc công chức
phải được biết, được bàn, được hỏi ý kiến, cũng như việc kiểm tra, giám sát.
Tiếp đó là Nghị định số 07/1999/NĐ - CP quy định về Quy chế thực hiện dân
chủ ở doanh nghiệp nhà nước, kèm theo Nghị định này cũng là quy chế thực hiện
17
dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp Nhà nước là một trong những tổ
chức kinh tế sử dụng ngân sách của Nhà nước để tiến hành hoạt động sản xuất, kinh
doanh góp phần vào việc phát triển nền kinh tế đất nước, vì vậy, việc đảm bảo dân
chủ trong tổ chức và hoạt động của doanh nghiệp Nhà nước là rất quan trọng, có
đảm bảo được dân chủ thì mới nhận được lòng tin của Đảng, của nhân dân, xứng
đáng với trách nhiệm mà Đảng và nhân dân đã giao phó.
Nhiệm vụ của dân chủ ở doanh nghiệp Nhà nước cũng là để đảm bảo phương
châm dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra. Tạo động lực mạnh mẽ để phát triển
doanh nghiệp Nhà nước bền vững, tăng mối liên hệ gắn bó giữa Giám đốc và ban
giám đốc với người lao động. Phạm vi điều chỉnh của pháp luật xoay quanh doanh
nghiệp Nhà nước với những việc cần phải công khai, những việc cần người lao
động tham gia ý kiến, những việc người lao động quyết định, những việc người lao
động được quyền giám sát, kiểm tra.
Nhất là đảm bảo dân chủ trong cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước ở Việt
trong sạch, vững mạnh, chấp hành đầy đủ pháp luật Nhà nước trong điều hành và
phát triển đơn vị mình.
1.3. Quá trình hình thành và phát triển của pháp luật thực hiện dân chủ
cơ sở
Như đã đề cập ở trên dân chủ cơ sở không phải là vấn đề mới, nó đã được xuất
hiện và phát triển rất sớm trên thế giới, do đó, Việt Nam cũng không thể nằm ngoài
xu hướng chung đó. Sau cách mạng tháng 8 năm 1945 Miền Bắc hoàn toàn độc lập,
miền Nam tiếp tục với công cuộc chiến tranh thống nhất nước nhà. Ngày 2 tháng 9
năm 1945 Bác Hồ đã đọc bản tuyên ngôn độc lập khai sinh ra nước Việt Nam dân
chủ cộng hòa, khẳng định dân Việt Nam có quyền được tự do, có quyền được độc
lập, có quyền được làm chủ đất nước mình.
Thể hiện đúng tư tưởng của người về phương trâm „„dân biết, dân bàn, dân làm,
dân kiểm tra‟‟ người đã chỉ đạo và cho ban hành Hiếp pháp 1946, Hiến pháp đầu
tiên của nước ta, trong bản Hiến pháp 1946 đó cũng đã có những quy định để đảm
bảo dân chủ thời chiến, dân chủ mang tích chất quân sự, trong chiến tranh chính mô
hình này lại tỏ ra có tác dụng trên phạm vi cả nước.
Sau khi đất nước thống nhất, Đảng đã xác định một nhiệm vụ có tích chất
cương lĩnh là xây dựng quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động, sao cho nhân
19
dân xứng đáng là người chủ trên tất cả các lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hóa, xã
hội Tuy nhiên nền dân chủ được xây dựng trong thời gian đó còn chứa nhiều
khuyết tật, cần phải được nhận thức lại đầy đủ để áp dụng có hiệu quả vào Việt Nam.
Chúng ta quan tâm rất nhiều đến vấn đề dân chủ, và cụm từ "Dân biết, dân
bàn, dân làm, dân kiểm tra" lần đầu tiên được nêu ra từ năm 1984 do nhân dân
phường Trần Nguyên Hãn, quận Lê Chân, Hải Phòng và nhân dân xã Đông Sơn,
huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng. Chỉ thị số 53 - CT/TW về tăng cường công tác
quần chúng của Đảng (ngày 28/11/1984) lần đầu tiên tổng kết sáng kiến này và
nâng lên thành phương châm chung để áp dụng phổ biến. Đại hội Đảng toàn quốc
lần thứ VI của Đảng (12/1986) đã khẳng định rất rõ: "Dân biết, dân bàn, dân làm,
hội ngày 11/5/1998 Chính phủ ban hành Nghị định số 29/1998/NĐ – CP về việc
ban hành quy chế thực hiện dân chủ ở xã, đây là nghị định đầu tiên quy định về thực
hiện dân chủ ở xã. Quy chế xác định rõ: “Quy chế thực hiện dân chủ ở xã nhằm
phát huy quyền làm chủ, sức sáng tạo của nhân dân ở xã, động viên sức mạnh vật
chất và tinh thần to lớn của nông dân và nhân dân trong phát triển kinh tế, ổn định
chính trị, xã hội, tăng cường đoàn kết nông thôn, cải thiện dân sinh, nâng cao dân trí,
xây dựng Đảng bộ, chính quyền và các đoàn thể ở xã trong sạch, vững mạnh; ngăn
chặn và khắc phục tình trạng suy thoái, quan liêu, tham nhũng, góp phần vào sự
nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, theo định hướng xã hội
chủ nghĩa”.
Sau khi có Nghị định số 29/1998/NĐ – CP Chính phủ đã ban hành một số
văn bản hướng dẫn về dân chủ cơ sở:
Chỉ thị số 22/1998/ CT - TTg ngày 15/5/1998 của Thủ tướng Chính phủ về
việc triển khai Quy chế dân chủ ở xã;
Thông tư số 03/1998/TT - TCCP về hướng dẫn áp dụng Quy chế thực hiện
dân chủ ở xã, phường và thị trấn;
Kế hoạch số 145/TCCP - ĐP ngày 6/7/1998 của Ban tổ chức - Cán bộ Chính
phủ về kế hoạch triển khai Quy chế thực hiện dân chủ ở xã, phường, thị trấn;
Chỉ thị số 24/1998/CT – TTg về việc xây dựng hương ước, quy ước của làng,
thôn, ấp, cụm dân cư ngày 19/6/1998.
Để cụ thể hóa các quy định vệ hương ước, Nhà nước đã ban hành thông tư
liên tịch số: 03/2000/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS –
21
KHHGĐ ngày 31/3/2000 đã hướng dẫn việc xây dựng và thực hiện hương ước, quy
ước của làng, bản, thôn, ấp, cụm dân cư.
Thông tư liên tịch số 04/2001/TTLT – BVHTT – BTTUBTWMTTQVN –
UBQGDS – KHHGĐ hướng dẫn bổ sung thông tư liên tịch số 03/2000/TTLT –
BVHTT – BTTUBTWMTTQVN – UBQGDS – KHHGĐ, bổ sung nội dung thực
hiện chính sách dân số - kế hoạch hóa gia đình vào trong hương ước.