LỜI MỞ ĐẦU
Thuế là một trong những chính sách kinh tế quan trọng của Đảng và Nhà
nước ta. Thuế là công cụ để Nhà nước điều tiết nền kinh tế phát triển theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất kinh doanh phát
triển, giải quyết vấn đề kinh tế xã hội của đất nước. Đảng và nhà nước ta luôn
quan tâm đến chế độ tự khai, tự nộp thuế với một trong những nội dung trọng
tâm là thanh tra, kiểm tra thuế.
Thanh tra, kiểm tra thuế có vai trò quan trọng, là chức năng thiết yếu của
quản lí Nhà nước nói chung và trong lĩnh vực thuế nói riêng.
Trong những năm vừa qua công tác thanh tra, kiểm tra Thuế cũng đã đạt
được những thành tựu đáng kể, góp phần ngằn ngừa cac vi phạm thuế, thu hồi
lại các nguồn thu thuế đã bị mất cho ngân sách nhà nước. Tuy nhiên bên cạnh đó
cũng còn những tồn tại yếu kém của công tác thanh tra, kiểm tra, nguyên nhân
gây ra tình trạng yếu kém ấy là do hệ thống pháp luật về quản lí thuế còn yếu,
thiếu, khó thực hiện, khó kiểm tra, giám sát và chưa phù hợp với xu thế chung
của xã hội. Công tác kiểm tra, thanh tra thuế của cơ quan có chức năng chưa
được coi trọng đúng mức, tính hiệu lực, hiệu quả, trong thanh tra kiểm tra còn
nhiều hạn chế, chưa phát hiện được kịp thời các hành vi gian lận trong việc kê
khai tính thuế, miễn giảm thuế. Trước thực trạng đó và xu thế phát triển của đất
nước là đấy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nền kinh tế xây dựng trên nền
tảng của sản xuất công nghiệp hiện đại; quản lí theo yêu cầu hiện đại hóa. Chính
vì thế để làm rõ hơn về công tác thanh tra, kiểm tra thuế em xin được lựa chọn
đề tài : “ Vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế - thực
trạng và những vấn đề cần hòan thiện ở VN hiện nay ” làm cơ sở cho bài tập
lớn kỳ này !
1
NỘI DUNG
I Những vấn đề chung về thanh tra, kiểm tra, xử lí vi phạm pháp luật thuế.
công tác thanh tra thuế được đưa ra một khái niệm như sau : “ Thanh tra thuế là
kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức cao hơn, toàn diện hơn. Thanh tra thuế được
thực hiện theo định kì đối với người nộp thuế lớn, ngành nghề kinh doanh đa
2
dang, quy mô lớn và phức tạp; hoặc đối với người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm
pháp luật thuế và thanh tra để giải quyết các khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo
yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lí thuế các cấp hoặc Bộ trưởng Bộ tài
chính”.
- Nếu như thanh tra thuế là một họat động quản lí mang tính chất trực diện
trên phạm vi nhất định thì kiểm tra thuế lại là họat động mang tính chất rộng
hơn, thoe pháp luật thuế hiện hành, kiểm tra thuế được hiểu là một họat động
thường xuyên, là việc xem xét các các chủ thể chấp hành chính sách pháp luật
về thuế đúng hay không, kiểm tra việc thực hiện các chính sách về thuế do Nhà
nước ban hành. Vì vậy có thể hiểu khái niệm về kiểm tra thuế : “ Kiểm tra thuế
là hoạt động do cơ quan thuế tiến hành nhằm xem xét tính đầy đủ, chính xác
của thông tin, tài liệu trong hồ sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật của
người nộp thuế. Kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang tính chất nghiệp
vụ của cơ quan thuế. Kiểm tra thuế được thực hiện theo hai phương thức: Kiểm
tra thuế được tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra thuế được tiến hành ở trụ sở
của người nộp thuế ”.
- Xử lý vi phạm pháp luật thuế: Vi phạm pháp luật thuế là hành vi
làm trái các qui định của pháp luật thuế, do các tổ chức, cá nhân thực hiện một
cách cố ý hoặc vô ý gây thiệt hại đến lợi ích của nhà nước, lợi ích công cộng.
Xử lý vi phạm pháp luật thuế chính là việc cơ quan có thẩm quyền tiến hành các
hoạt động nhất định để áp dụng chế tài đối với các chủ thể vi phạm pháp luật
thuế. Trong thực tiễn pháp lí, các hành vi vi phạm pháp luật thuế diễn ra rất đa
dạng, tinh vi và phức tạp với nhiều dạng thức khác nhau. Tuy nhiên, về phương
diện bản chất, mỗi vi phạm đó đều thuộc về một trong các loại hành vi vi phạm
luật thuế; Theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp, theo yêu
cầu của Bộ trưởng bộ tài chính; Thanh tra thuế để giải quyết khiếu nại, tố cáo.
Hình thức , trình tự thủ tục thanh tra thuế: Dựa theo quy định tại Điều 81 luật
QLT, có hai loại thanh tra thuế là : Thanh tra thuế theo kế hoạch và thanh tra
thuế không theo kế hoạch.
Thanh tra thuế theo kế hoạch: Thanh tra thuế theo kế hoạch chỉ áp dụng
đối với các doanh nghiệp có nghành nghề kinh doanh đa dạng, phạm vi kinh
doanh rộng. Thanh tra định kỳ một năm không quá một lần và được thực hiện
căn cứ vào kế hoạch thanh tra hàng năm đã được phê duyệt.
Thanh tra không theo kế hoạch: Thanh tra không theo kế hoạch sẽ áp
dụng cho các đối tượng sau:
Người nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế ; Thanh tra theo yêu
cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế các cấp, theo yêu cầu của Bộ trưởng Bộ
tài chính và Thanh tra để giải quyết khiếu nại tố cáo.
Việc thanh tra thuế được thực hiện khi có quyết định thanh tra. Số lần
thanh tra thuế và thời gian thanh tra trong mỗi lần phải thực hiện theo kế hoạch
thanh tra đã được thủ trưởng cơ quản lý thuế phê duyệt ( qui định tại điều 37
nghị định số 85/2007/NĐ-CP) .
Đặc biệt, Luật QLT dành mục 4 chương X để qui định các biện pháp áp
dụng trong thanh tra thuế đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận
thuế. Cụ thể: Khi người nộp thuế có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan
đến các cá nhân , tổ chức khác hoặc có dấu hiệu trốn thuế , gian lận thuế có tính
chất phức tạp, người có thẩm quyền có thể áp dụng các biện pháp sau: Thu nhập
4
thông tin liên quan đến hành vi trốn thuế , gian lận thuế; Tạm giữ tài liệu tang
vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế; Khám nơi cất giấu tài liệu ,
tang vật liên quan đến hành vi trốn thuế, gian lận thuế.
1.2 Quy định của pháp luật về kiểm tra thuế.
người nộp thuế chỉ được tiến hành khi thuộc các trường hợp qui định tại khoản 1
Điều 78 Luật QLT, cụ thể gồm: Hết thời hạn theo thông báo của cơ quan thuế
mà người nộp thuế không giải trình , bổ sung thông tin hoặc không khai bổ sung
5
hồ sơ thuế và cơ quan thuế không đủ căn cứ ấn định số thuế phải nộp, cơ quan
thuế ra quyết định kiểm tra tại trụ sở người nộp thuế ; kiểm tra sau thông quan.
Việc kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế chỉ thực hiện khi có quyết
định kiểm tra thuế tại trụ sở người nộp thuế do thủ trưởng cơ quan thuế ban
hành.
Trình tự, thủ tục kiểm tra thuế tại trụ sở của người nộp thuế được qui định
cụ thể tại khoản 2 Điều 78.
1.3 Quy định của pháp luật về xử lí vi phạm pháp luật thuế.
Đối tượng bị xử lí vi phạm pháp luật thuế:
Theo Điều 1 Nghị định 98/2007, đối tượng bị xử lí vi phạm pháp luật về
thuế bao gồm: người nộp thuế có hành vi vi phạm pháp luật về thuế; cơ quan
thuế, công chức quản lí thuế vi phạm pháp luật về thuế; người có thẩm quyền và
trách nhiệm xử lí vi phạm pháp luật về thuế; cơ quan nhà nước, tổ chức, cá nhân
khác liên quan đến việc xử lí vi phạm pháp luật về thuế.
Người nộp thuế bị xử lí vi phạm pháp luật thuế khi có các hành vi:chậm
nộp hồ sơ đăng ký thuế, chậm thông báo thay đổi thông tin so với thời hạn quy
định; khai không đầy đủ các nội dung trong hồ sơ thuế; chậm nộp hồ sơ khai
thuế so với thời hạn quy định; vi phạm các quy định về cung cấp thông tin liên
quan đến xác định nghĩa vụ thuế; vi phạm quy định về chấp hành quyết định
kiểm tra, thanh tra thuế, cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế và vi
phạm chế độ hoá đơn, chứng từ đối với hàng hoá vận chuyển trên đường; chậm
nộp tiền thuế; khai sai dẫn đến thiếu số tiền thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế
được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế.
Theo Điều 16 Nghị định 98/ 2007/ NĐ- CP, cơ quan quản lí thuế, công
hình sự , do các tổ chức, cá nhân thực hiện một cách cố ý , xâm hại đến các lợi
ích phát sinh từ quan hệ nộp thuế được Bộ luật hình sự năm 1999( sửa đổi bổ
sung năm 2009) bảo vệ.(2)
Điều kiện, trình tự, thủ tục xử lý vi phạm pháp luật thuế:
* Đối với xử lý vi phạm hành chính thuế: văn bản pháp luật điều chỉnh xử phạt
vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuế là nghị định số 98/2007/NĐ-CP, Nghị
định số 13/2009/NĐ-CP .
Điều kiện để xử phạt vi phạm hành chính thuế : Tổ chức, cá nhân chỉ bị
xử phạt hành chính thuế khi :
- Thực hiện các hành vi qui định ở điều 103 Luật quản lý thuế ( vi phạm
các quy định về thủ tục thuế; chậm nộp tiền thuế; Khai sai dẫn đến thiếu số tiền
thuế phải nộp hoặc tăng số tiền thuế được hoàn; trốn thuế, gian lận thuế.)
- Có lỗi khi thực hiện hành vi: có thể là lỗi cố ý hoặc vô ý.
- Hành vi vi phạm chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự theo Bộ
Luật hình sự năm 1999.
Chủ thể có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính thuế: Nhân viên thuế
đang thi hành công vụ; Trạm trưởng Trạm Thuế, Đội trưởng đội Thuế; Chi cục
trưởng Chi cục Thuế; Cục trưởng Cục Thuế; chủ tịch UBND các cấp.
Cách thức xử lý vi phạm hành chính thuế: Người vi phạm hành chính thuế
sẽ bị áp dụng các chế tài hành chính thuế: phạt cảnh cáo, phạt tiền . Ngoài ra,
1
2
7
còn có thể bị áp dụng hình thức phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện
được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về thuế.
* Đối với xử lý vi phạm hình sự thuế.
thanh tra , kiểm tra ký kết luận thanh tra, biên bản kiểm tra . Điều này là mâu
thuẫn với khoản 1 Điều 135 nghị định 41 /2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm
2005 của chính phủ qui định huớng dẫn thi hành một số điều của luật thanh tra
năm 2004.
8
III Thực tiễn thi hành pháp luật thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp
luật thuế.
1. Những hạn chế, vướng mắc trong thực tiễn và nguyên nhân của nó.
Từ phân tích ở trên có thể thấy tác động của họat động thanh tra, kiểm tra và
xử lí vi phạm pháp luật thuế mang lại nhiều lợi ích cho quá trình của quản lí của
các cơ quan chức năng, tuy nhiên bên cạnh đó thực tiễn thi hành, áp dụng lại
đang gặp nhiều khó khăn vướng mắc.
Thứ nhất : Luật QLT đã có qui định là việc thanh tra được thực hiện căn cứ
vào kế hoạch thanh tra ( trừ trường hợp thanh tra không theo kế hoạch). Việc lập
kế hoạch thanh tra phải dựa trên những phân tích cơ bản về người nộp thuế , từ
đó phát hiện và lập danh sách những người nộp thuế có dấu hiệu bất thường
trong việc thực hiện nghĩa vụ nộp thuế. Các cơ quan có chức năng khi tiến hành
thanh tra, còn gặp nhiều khó khăn do có sự trùng lặp về văn bản thi hành, chủ
yếu là các văn bản có hiệu lực pháp lí thấp, quy trình thủ tục trong quản lí thuế ở
các sắc thuế không thống nhất gây khó khăn cho việc thực hiện và làm cho hệ
thống thuế phức tạp, khó hiện đại hóa công tác thanh tra, kiểm tra thuế, các quy
định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế còn
mang tình trạng thừa và thiếu và yếu. Không rõ ràng và thiếu tính khả thi, chưa
phù hợp với các chuẩn mực quốc tế….
Thứ hai : Công tác thanh tra, kiểm tra thuế thoe phương thức mới dựa trên cơ
sở dự liệu thông tin tổng hợp và kỹ thuật quản lý rủi ro hạn chế. Kể từ khi
chuyển sang phương pháp thanh tra, kiểm tra mới còn rất nhiều nơi đặc biệt là ở
cấp chi cục việc áp dụng phương pháp này còn rất lúng túng do vậy kết quả còn
vẫn còn diễn ra ở nhiều loại thuế và ở nhiều địa phương trong cả nước. Tình
trạng trốn thuế, gian lận thuế ngày càng tinh vi, trá hình, trong khi đó công tác
thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm pháp luật thuế của cơ quan quản lý thuế vẫn
còn một số hạn chế và chưa lường hết được các thủ thuật của người nộp thuế.
IV Phương hướng và những kiến nghị hoàn thiện pháp luật thanh tra, kiểm
tra và xử lí vi phạm pháp luật thuế ở nước ta hiện nay
1. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lí vi
phạm pháp luật thuế.
Thứ nhất, bổ sung các quy định về thanh tra, kiểm tra thuế trong Luật quản lý
thuế 2006. Bổ sung quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại do cơ quan
thuế, công chức thuế gây ra. Quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi
xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại về hành vi trái pháp luật do lỗi cùa
người thì hành công vụ gây ra; có thiệt hại thực tế do người thi hành công vụ
gây ra đối với người bị thiệt hại; có quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại
và thiệt hại. Và quy định rõ về các trình tự thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại.
Bổ sung thêm quy định về phối hợp điều tra thuế nhằm nâng cao hơn nữa
hiệu quả công tác kiểm tra, thanh tra thuế kịp thời phát hiện các hành vi vi phạm
pháp luật có tính chất phức tạp, tinh vi. Quy định về điều tra thuế nên theo
hướng xác định điều tra thuế là chỉ điều tra hành chính, đồng thời với quy định
về điều tra thuế cần bổ sung các quy định rõ về trách nhiệm của cơ quan thuế,
công chức thuế trước các quyết định của mình.
Bổ sung quy định về thanh tra đột xuất: tiến hành thanh tra đột xuất khi có
dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế hoặc giải quyết khiếu nại, tố cáo. Quy định phải
làm rõ được dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế đến mức độ nào thì cơ quan thuế
10
mới có quyền tiến hành thanh tra đột xuất; phải làm rõ được việc giải quyết
khiếu nại, tố cáo phải được xác minh và xác định chính xác như thế nào thì cơ
quan thuế mới tiến hành thanh tra đột xuất.
11
KẾT LUẬN
Qua bài làm vừa phân tích như trên, ta có thể thấy chính sách về thuế và
luật thuế về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm về Luật thuế đã có những bước
thay đổi, những dấu hiệu đáng mừng, vì về cơ bản, qua quá trình sửa đổi bổ
sung luật đã làm tăng cao hơn tính hiệu quả, tính chặt chẽ, trong thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế, giảm tối thiểu các trường hợp chốn thuế, lậu
thuế, đồng thời cũng nâng cao được ý thức tự giác, ý thức cá nhân độc lập làm
việc đối với đội ngũ cán bộ, nhân viên, thực hiện công tác,thanh tra, kiêm tra và
xử lý vi phạm pháp luật thuế…vv
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt mạnh đó, cũng song song tồn tại, những bất
cập chưa giải quyết được trong nghành thuế nói chung và trong công tác thanh
tra, kiểm tra thuế nói riêng, vì thế yêu cầu bức thiết là Đảng và Nhà nước ta cần
nâng cao, đẩy mạnh hơn nữa pháp luật về thuế, đặc biệt là thanh tra, kiểm tra và
xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm pháp luật thuế.
12
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Trường Đại Học Luật Hà Nội, Giáo Trình Luật Thuế Việt Nam, Nxb Công
An Nhân Dân
2. Nguyễn tiến Lâm, Khóa Luận tốt nghiệp. Hệ thống chế tài xử lý vi phạm
pháp luật về thuế ở Việt Nam và phương hướng hoàn thiện, Hn 2002
3. Quyết định 1166/QĐ-TCT ngày 31 tháng 10 năm 2005 của tổng cục thuế về
quy trình thanh tra, kiểm tra Doanh Nghiệp.
4. Nghị định 41 /2005/NĐ-CP ngày 25 tháng 3 năm 2005 của chính phủ qui
định huớng dẫn thi hành một số điều của luật thanh tra năm 2004.