Thuế là nguồn thu chủ yếu của ngân sách nhà nước, phản ánh bản
chất củas chế độ xã hội. Do vậy để đảm bảo nguồn thu cho ngân sách, đồng
thời động viên được sự đóng góp của toàn dân trong việc tạo ra một nguồn
lực tài chính đủ mạnh để phát triển kinh tế, xây dựng đất nước đòi hỏi phải
thực hiện vấn đề quản lý thuế một cách hiệu quả.Trong những vấn đề về
quản lý thuế thì thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật về thuế có
tầm quan trọng đặc biệt trong việc đảm bảo nguồn thu chủ yếu của ngân
sách nhà nước. Vì thanh tra, kiểm tra là hoạt động tất yếu của quản lý nhà
nước nói chung và quản lý về thuế nói riêng. Thanh tra, kiểm tra thuế có
mục tiêu đánh giá mức độ tuân thủ pháp luật thuế của người nộp, phát hiện
những hành vi vi phạm pháp luật thuế của người nộp thuế trên cơ sở đócó
biện pháp xử lý kịp thời, nghiêm minh các trường hợp vi phạm pháp luật
thuế. Thực tiễn cho thấy nếu họat động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm
pháp luật thuế được thực hiện một cách nghiêm túc, có hiệu quả sẽ làm tăng
tính tự giác tuân thủ pháp luật của người nộp thuế. Ngược lại, nếu hoạt
động này lỏng lẻo, không được coi trọng sẽ là điều kiện làm lan nhanh sự
không tuân thủ pháp luật, hậu quả không chỉ thiệt hại đến ngân sách nhà
nước mà còn tạo ra sự bất công đối với người chấp hành tốt nghĩa vụ thuế.
Do đó, nhận định về thực trạng cũng như những vấn đề cần hoàn thiện ở
Việt Nam hiện nay là một nội dung cần được quan tâm một cách nghiêm
túc..
I; THỰC TRẠNG VỀ THANH TRA, KIỂM TRA VÀ XỬ LÝ VI PHẠM
PHÁP LUẬT THUẾ Ở VIỆT NAM HIỆN NÀY.
1)Thực trạng pháp luật về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật
thuế ở Việt Nam hiện nay
Vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế được quy định
tại Luật quản lý thuế năm 2006 ( Chương X và Chương XII) và hướng dẫn thi
hành tại Nghị định của chính phủ số 85/2007/NĐ-CP ngày 25/5/2007 quy định
chi tiết một số vấn điều của luật quản lý thuế.
Trước đây, việc kiểm tra, thanh tra thuế ở nước ta được thực hiện
trên cơ sở các quy định của pháp luật về thanh tra, kiểm tra nói chung. Do
Thứ hai, pháp luật quản lý thuế đã có sự phân biệt giữa việc thanh tra
và kiểm tra thuế. Theo đó, kiểm tra thuế là công việc thường xuyên mang
tính nghiệp vụ của cơ quan quản lý thuế được thực hiện ngay tại trụ sở của
cơ quan quản lý thuế hoặc tại trụ sở của người nộp thuế. Nội dung của kiểm
tra thuế là kiểm tra sự đầy đủ,chính xác của các thông tin, tài liệu trong hồ
sơ thuế nhằm đánh giá sự tuân thủ pháp luật về thuế của người nộp thuế.
Thanh tra thus là kiểm tra đối tượng nộp thuế ở mức độ cao hơn, toàn diện
hơn. Thanh tra thuế được thực hiện định kỳ đối với người nộp thuế lớn,
ngành nghề kinh doanh đa dạng, quy mô lớn và phức tạp hoặc đối với người
nộp thuế có dấu hiệu vi phạm pháp luật thuế và thanh tra để giải quyết các
khiếu nại, tố cáo về thuế hoặc theo yêu cầu của thủ trưởng cơ quan quản lý
thuế các cấp hoặc bộ trưởng Bộ tài chính.
Thứ ba, Luật quản lý thuế xác định một cách rõ ràng, minh bạch
quyền, nghĩa vụ của đối tượng thanh tra, kiểm tra thuế và nhiệm vụ, quyền
hạn của các chủ thể có thẩm quyền. Điều này tạo cơ sở quan trọng cho hoạt
động thanh tra, kiểm tra có hiệu quả
Thứ tư, pháp luật thuế quy định rõ về nội dung của công tác kiểm tra
thuế. Cụ thể bao gồm kiểm tra tại trụ sở cơ quan thuế và kiểm tra tại trụ sở
của người nộp thuế (quy định chi tiết tại Điều 77, 78 Luật quản lý thuế
2006). Đồng thời vấn đề về những nội dung thanh tra thuế cũng được Luật
quản lý thuế quy định khá chi tiết và hợp lý bao gồm chỉ rõ đối tượng thanh
tra thuế, có sự phân tách hai loại thanh tra thuế là thanh tra thuế theo kế
2
hoạch và thanh tra thuế không theo kế hoạch với các đối tượng được xác
định rõ.
Thứ năm, Luật quản lý thuế còn quy định rõ các biện pháp áp dụng
trong thanh tra đối với trường hợp có dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế. Khi
có người nộp thuế có đủ dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế liên quan đến tổ
chức, cá nhân khác hoặc khi dấu hiệu trốn thuế, gian lận thuế có tính chất
phức tạp thì người có thẩm quyền có quyền áp dụng các biện pháp sau: Thu
thức cử lý đối với các đối tượng có thẩm quyền, Ngân hàng thương mại, tổ chức
tín dụng khác, người bảo lãnh tiền nộp thuế; tổ chức,cá nhân có liên quan cũng
được xác định khá rõ ràng
3
+ Vấn đề về thẩm quyền xử phạt, thời hiệu xử phạt và miễn xử phạt
cũng được đề cập đến và quy định khá hợp lý.
Như vậy, về cơ bản có thể thấy vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật thuế được quy định khá đầy đủ, cụ thể, đáp ứng được yêu cầu
pháp lý đặt ra đối với vấn đề này.Tuy nhiên, vẫn còn tồn tại một số quy định
chưa thực sự hợp lý và cần phải làm rõ hơn. Pháp luật về thanh tra, kiểm tra
và xử lý vi phạm thuế vẫn có những lỗ hổng nhất định cần được hoàn thiện.
Điều này bộc lộ rõ trong quá trình áp dụng pháp luật trong vấn đề này trong
thời gian qua
2) Thực trạng triển khai thanh tra, kiểm tra và sử lý vi phạm pháp luật thuế ở
Việt Nam hiện nay
Trong thời kỳ trước khi Luật quản lý thuế năm 2006 được thông qua, do cơ
sở pháp lý cho hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế bộc
lộ nhiều vấn đề “yếu kém” nên họat động này thực sự chưa phát huy được vai
trò, hiệu quả của nó, chưa thể là công cụ hữu hiệu để ngăn ngừa các hành vi vi
phạm pháp luật thuế như các hành vi trốn thuế, lậu thuế…Chỉ nhìn số liệu thống
kê từ năm 1999 đến năm 2005 chỉ phát hiện 30% số vụ có trốn lậu thuế trong
tổng số 915.993 vụ thanh tra, kiểm tra có thể thấy được thực trạng công tác này
trong thời kỳ trước. Hiện nay, với cơ sở pháp lý cho họat động thanh tra, kiểm
tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế được hoàn thiện so với thời kỳ trước và nhiều
yếu tố tích cực khác thực trạng triển khai việc thanh tra, kiểm tra và xử lý vi
phạm pháp luật về thuế ở Việt Nam hiện nay đã có những cải thiện đáng kể, thực
sư phát huy được phần nào vai trò của hoạt động này trong quản lý thuế. Cụ thể:
Chỉ sau một năm Luật quản lý thuế có hiệu lực, theo đánh giá của các
chuyên gia vấn đề thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp luật thuế đã đạt
được một số kết quả nhất định như: Ý thức của người nộp thuế trong việc kê
khẩu, thuế thu nhập doanh nghiệp nhưng chưa thực hiện được điều kiện ưu đãi
như đã đăng ký; Một số doanh nghiệp được cấp Giấy phép ưu đãi đầu tư miễn
thuế, giảm thuế TNDN cao hơn mức quy định; Có doanh nghiệp xác định chưa
đúng điều kiện ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp dẫn đến thất thu NSNN.
Thứ hai, việc hướng dẫn xác định khoản phí bản quyền để xác định trị giá
hải quan đối với hàng hoá nhập khẩu và thực hiện tính thuế nhập khẩu chưa cụ
thể, rõ ràng dẫn đến các doanh nghiệp chưa kê khai và nộp NSNN.
Thứ ba, một số mặt hàng được phân phối đến người tiêu dùng thông qua các
hộ kinh doanh áp dụng cơ chế thuế khoán, đồng thời chưa có cơ chế quản lý giá
của các doanh nghiệp đầu mối dẫn đến các hộ kinh doanh tăng giá bán nhưng kê
khai doanh thu thấp làm thất thu NSNN.
Thứ tư, việc ban hành giá tính thuế tài nguyên theo thẩm quyền của UBND
các tỉnh, thành phố nhiều bất cập. Có địa phương đã ban hành quyết định để
doanh nghiệp thực hiện, có địa phương chưa ban hành quyết định dẫn đến các
doanh nghiệp áp dụng giá tạm tính; giá tính thuế tại các địa phương cao, thấp
khác nhau, đối với địa phương chưa ban hành quyết định giá chính thức có tình
trạng mỗi doanh nghiệp khai giá tạm tính khác nhau.
Họat động thanh tra, kiểm tra được thực hiện một cách hiệu quả, từng
bước xác định đúng đối tượng thanh tra, kiểm tra để tránh các phiền hà có thể
đem lại. Kết quả này thể hiện rõ qua con số: năm 2007, tổng số doanh nghiệp
toàn ngành đã tiến hành thanh tra và kiểm tra tăng khoảng 25% so với năm 2006
nhưng số thuế truy thu tăng gấp 1,3 lần so với cùng kỳ năm 2006.( Theo số liệu
tại />chung-tay.html#ixzz1eAksVIGn)
Xây dựng được các kế hoạch thanh tra, kiểm tra nhằm định hướng,
khoanh vùng cho hoạt động thanh tra, kiểm tra có hiệu quả.
5