Bài Tập Nhóm Tháng Số 02 Luật Chứng Khoán
MỤC LỤC
LỜI MỞ ĐẦU
Để đảm bảo cho thị trường chứng khoán vận hành một cách an toàn,
hiệu quả, công khai, công bằng, bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của các
chủ thể tham gia thị trường và duy trì được sự cạnh tranh lành mạnh trên thị
trường, từ đó góp phần thúc đẩy thị trường ngày càng phát triển hơn nữa thì
mọi quan hệ phát sinh trên thị trường phải được pháp luật dự liệu hay nói
cách khác, cần có sự can thiệp của pháp luật vào hoạt động của thị trường,
nhất là các hành vi xâm hại đến quy tắc hoạt động của thị trường.
Nhận rõ được vai trò quan trọng của thị trường chứng khoán đối với
nền kinh tế của đất nước, các nhà làm luật đã ban hành rất nhiều văn bản
pháp luật về chứng khoán và thị trường chứng khoán nói chung và văn bản
pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực chứng khoán nói riêng,
cũng như sửa đổi, bổ sung các văn bản cũ cho phù hợp với diễn biến của thị
trường. Tuy nhiên, các quy định hiện hành về xử lý vi phạm pháp luật trong
lĩnh vực chứng khoán đã phù hợp với điều kiện thực tế chưa, chế tài đã đủ
mạnh chưa? Để làm rõ vấn đề này tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài “Tìm
hiểu về chế tài áp dụng khi xử lý vi phạm pháp luật chứng khoán, nhận xét và
đề xuất pháp lý của nhóm” sẽ giải quyết những vấn đề cơ bản nhất về vấn đề
này.
NỘI DUNG CHÍNH
1. Khái quát chung về chế tài áp dụng khi xử phạt vi phạm pháp
luật chứng khoán
Thông thường trong lĩnh vực chứng khoán, pháp luật các nước thường
quy định các loại vi phạm pháp luật là: vi phạm hành chính, vi phạm dân sự
và vi phạm hình sự. Tương ứng với mỗi hành vi vi phạm và mức độ nguy
hiểm của mỗi hành vi, chủ thể thực hiện sẽ bị xử lý hành chính, xử lý dân sự
và xử lý hình sự.
Xử lý hành chính thường được áp dụng bởi cơ quan quản lý nhà nước
về chứng khoán và thị trường chứng khoán. Hình thức xử phạt chính thường
hành vi vi phạm hành chính trên thị trường chứng khoán phải chịu một trong
hai hình thức xử phạt hành chính là cảnh cáo và phạt tiền. Điều này hoàn toàn
phù hợp với quy định tại Điều 12 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
2.1.1. Hình thức cảnh cáo
Hình thức cảnh cáo được áp dụng đối với tổ chức, cá nhân khi có đủ
hai điều kiện sau: Một là, hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện
được văn bản pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực chứng khoán và
thị trường chứng khoán quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh
cáo; Hai là, việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân
vi phạm hành chính về chứng khoán chỉ được thực hiện khi đó là vi phạm
nhỏ, lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ.
Có thể nói, cảnh cáo là hình thức xử phạt mang tính giáo dục đối với
cá nhân, tổ chức vi phạm. Khác với hình phạt cảnh cáo, đối tượng bị áp dụng
hình thức xử phạt cảnh cáo không bị coi là có án tích và không bị ghi vào lý
lịch tư pháp.
2.1.2. Hình thức phạt tiền
Phạt tiền là hình thức xử phạt chính được quy định tại điểm b khoản 1
Điều 6 Nghị định 85/2010/NĐ-CP. Nhìn chung, các tổ chức, cá nhân thực
hiện hành vi vi phạm hành chính về chứng khoán nếu không thuộc trường
hợp bị xử phạt cảnh cáo thì sẽ bị xử phạt bằng hình thức phạt tiền. Mức phạt
tiền cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực chứng
khoán và thị trường chứng khoán là mức trung bình của khung phạt tiền đối
Nhóm thực hiện: 01 Lớp: KT33B
2
Bài Tập Nhóm Tháng Số 02 Luật Chứng Khoán
với hành vi đó. Nếu vi phạm có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm
thấp hơn nhưng không được giảm quá mức tối thiểu của khung phạt tiền. Nếu
vi phạm có tình tiết tăng nặng thì mức phạt có thể tăng cao hơn nhưng không
được tăng quá mức tối đa của khung phạt tiền. Đối với trường hợp vi phạm
hành chính có cả tình tiết tăng nặng lẫn giảm nhẹ thì tùy theo tính chất, mức
tài khoản thu tiền mua chứng khoán hoặc tiền đặt cọc tại thời điểm bị xử phạt
vi phạm hành chính, trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu
của nhà đầu tư (khoản 5 Điều 7 Nghị định 85/2010/NĐ-CP). Công ty đại
chúng có hành vi vi phạm quy định về hồ đăng ký công ty đại chúng thì có
thể bị áp dụng một hoặc cả hai biện pháp khắc phục hậu quả sau: 1. buộc
chấp hành đúng quy định về đăng ký công ty đại chúng; 2. buộc hủy bỏ, cải
chính thông tin đối với trường hợp hồ sơ đăng ký công ty đại chúng có thông
tin sai lệch (khoản 4 Điều 9 Nghị định 85/2010/NĐ-CP)…
Nhóm thực hiện: 01 Lớp: KT33B
3
Bài Tập Nhóm Tháng Số 02 Luật Chứng Khoán
2.2. Các chế tài hình sự
Cũng giống như pháp luật hình sự của nhiều nước trên thế giới, Bộ luật
hình sự Việt Nam quy định hai hình phạt chính áp dụng đối với cá nhân thực
hiện tội phạm về chứng khoán là phạt tiền và phạt tù có thời hạn.
Đối với tội cố ý công bố thông tin sai lệch hoặc che giấu sự thật trong
hoạt động chứng khoán, Điều 181a Bộ luật hình sự quy định hai khung hình
phạt:
Khung cơ bản có mức phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng,
phạt cải tạo không giam giữ đến 2 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 2 năm.
Khung tăng nặng có mức hình phạt tù từ 1 năm đến 5 năm được áp
dụng cho trường hợp phạm tội có một trong các tình tiết sau:
- Có tổ chức;
- Thu lợi bất chính lớn;
- Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;
- Tái phạm nguy hiểm.
Đối với tội sử dụng thông tin nội bộ để mua bán chứng khoán và tội
thao túng giá chứng khoán, Điều 181 b và Điều 181c Bộ luật hình sự đều quy
định hai khung hình phạt:
Khung cơ bản có mức phạt tiền từ 100 triệu đồng đến 500 triệu đồng,
chứng khoán còn lại chưa được phân phối hết của tổ chức phát hành hoặc hỗ
trợ tổ chức phát hành trong việc phân phối chứng khoán ra công chúng”. Như
vậy, hoạt động bảo lãnh phát hành chứng khoán chỉ có ý nghĩa là tổ chức bảo
lãnh phát hành bao tiêu chứng khoán cho tổ chức phát hành, không bao hàm
việc tổ chức bảo lãnh phát hành thực hiện các nghĩa vụ đối với người đầu tư
thay cho tổ chức phát hành. Tuy nhiên, khái niệm bảo lãnh trong dân sự lại
có ý nghĩa khác. Điều 361 Bộ luật dân sự quy định: “Bảo lãnh là việc người
thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên có quyền (sau đây gọi là
bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện nghĩa vụ thay cho bên có nghĩa vụ (sau đây
gọi là bên được bảo lãnh), nếu khi đến thời hạn mà bên được bảo lãnh không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ…”.
Hay như trong quy định về hoạt động lưu ký chứng khoán, trước khi
bán chứng khoán, nhà đầu tư phải tiến hành lưu ký chứng khoán đó tại thành
viên lưu ký, sau đó thành viên lưu ký đem chứng khoán đó tái lưu ký tập
trung tại Trung tâm Lưu ký Chứng khoán Việt Nam (VSD), tạo cơ sở cho
việc chuyển nhượng thông qua ghi sổ chứng khoán. Về mặt hình thức, mối
quan hệ giữa nhà đầu tư với VSD là mối quan hệ hợp đồng gửi giữ chứng
khoán, theo đó, VSD nhận bảo quản chứng khoán cho khách hàng và thu phí
theo số lượng chứng khoán nhận bảo quản. Tuy nhiên, so với đặc điểm
truyền thống của hợp đồng gửi giữ quy định tại Bộ luật dân sự, việc gửi giữ
chứng khoán tại VSD có những điểm khác biệt. Điều 559 Bộ luật dân sự quy
định: “Hợp đồng gửi giữ tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên
giữ nhận tài sản của bên gửi để bảo quản và trả lại chính tài sản đó cho bên
gửi khi hết thời hạn hợp đồng, còn bên gửi phải trả tiền công cho bên giữ…”.
Còn trong trường hợp lưu ký chứng khoán tại VSD, thì VSD không có nghĩa
vụ trả lại chính chứng khoán đã được gửi giữ, mà chỉ phải trả lại các chứng
chỉ chứng khoán với các quyền giống như các chứng khoán đã được lưu ký.
Khách hàng gửi chứng khoán cũng không thể yêu cầu rút các chứng chỉ
chứng khoán giống như chứng khoán mà mình đã lưu ký.
3. Thực tiễn thực hiện và một số nhận xét