Đề án môn học 1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Với vai trò cung cấp thông tin tài chính làm nền tảng cho việc ra quyết
định kinh doanh, kế toán là một lĩnh vực gắn liền với hoạt động kinh tế tài
chính, trở thành một bộ phận cấu thành quan trọng trong hệ thống công cụ
quản lí, điều hành và kiểm soát các hoạt động kinh tế. Trong những năm gần
đây, cùng với quá trình đổi mới nền kinh tế, hệ thống kế toán Việt Nam đã
không ngừng được hoàn thiện và phát triển.
Đối với các nhà quản trị, để doanh nghiệp có thể phát triển ổn định và
chủ động về tài chính thì vai trò của công tác kế toán là điều vô cùng quan
trọng. Tuy nhiên, trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế hiện nay, xuất hiện
ngày càng nhiều các công ty và tập đoàn kinh tế mới trong nước và nước
ngoài, sự biến động ngày càng phức tạp của thị trường đòi hỏi các doanh
nghiệp luôn phải đề phòng những rủi ro có thể xảy ra. Do vậy, việc thực hiện
chính sách hạch toán các khoản dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng trong
doanh nghiệp là điều rất quan trọng. Việc lập dự phòng có thể giúp doanh
nghiệp nắm thế chủ động trong việc xử lí rủi ro xảy ra đồng thời có kế hoạch
sản xuất kinh doanh hợp lí để có thể đứng vững trong môi trường cạnh tranh
gay gắt hiện nay.
Chính vì lí do trên nên trong khuôn khổ đề án môn học, em đã chọn đề
tài:
“Bàn về hạch toán dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng trong các doanh
nghiệp ở Việt Nam hiện nay”
2. Mục đích nghiên cứu của đề tài:
Mục đích nhằm làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về dự phòng phải trả
và nợ tiềm tàng. Trên cơ sở đó nghiên cứu chế độ kế toán dự phòng phải trả
trong các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh ở Việt Nam. Từ đó đưa ra những
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 2
giải pháp và kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện phương pháp hạch toán các
nghiệp ngày càng trở nên phức tạp. Công tác kế toán nói chung và kế toán dự
phòng nói riêng cũng gặp không ít khó khăn. Để có thể nắm bắt được nội
dung kế toán dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng trong các doanh nghiệp ta cần
phải tìm hiểu các khái niệm cơ bản sau:
1.1.1. Vấn đề dự phòng trong kế toán
1.1.1.1. Khái niệm về dự phòng
Dự phòng là việc xác nhận về phương diện kế toán, sự giảm giá trị của
một tài sản hay sự gia tăng công nợ, xác thực về bản chất nhưng mang tính
ước tính về mặt giá trị. Việc thiết lập dự phòng thường dựa trên bằng chứng
xác thực xảy ra xung quanh thời điểm khóa sổ kế toán.
Như vậy có thể nói, đặc điểm chủ yếu của dự phòng là một ước tính của
kế toán, nó vừa mang tính chất dự đoán, vừa mang tính chất tạm thời. Việc lập
dự phòng là do nguyên tắc thận trọng trong kế toán, khi có những vấn đề chưa
rõ ràng, cần phải xét đoán thận trọng để không làm tài sản và thu nhập bị thổi
phồng, cũng như nợ phải trả và chi phí bị giấu bớt.
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 4
1.1.1.2. Vai trò của dự phòng
Việc lập các khoản dự phòng có thể làm tăng chi phí của doanh nghiệp
do vậy dẫn tới làm giảm thu nhập ròng của niên độ báo cáo. Tuy nhiên vai trò
của các khoản dự phòng là rất đáng kể
Thứ nhất là các khoản dự phòng cho phép doanh nghiệp luôn thực hiện
được nguyên tắc hạch toán tài sản theo giá phí, lại có thể ghi nhận trên các
báo cáo tài chính của mình giá trị thực tế của tài sản. Nhờ vậy bảng cân đối kế
toán của doanh nghiệp phản ánh chính xác hơn giá trị thực tế của tài sản.
Thực chất, các khoản dự phòng là một nguồn tài chính của doanh nghiệp khắc
phục trước mắt những thiệt hại có thể xảy ra trong kinh doanh.
Thứ hai là dự phòng và những lợi ích kinh tế của nó được nhìn nhận như
một đối sách tài chính cần thiết để duy trì và phát triển ổn định doanh nghiệp,
vừa tạo thu lâu dài vào ngân sách nhà nước vừa tạo cơ sở tín nhiệm cho doanh
loại thành các nội dung dự phòng căn bản sau:
a. Dự phòng phải trả bảo hành sản phẩm, công trình xây lắp
b. Dự phòng phải trả tái cơ cấu doanh nghiệp.
Là dự phòng khi có những thay đổi quan trọng về phạm vi hoạt động
kinh doanh hoặc phương thức hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
c. Dự phòng phải trả đối với hợp đồng có rủi ro lớn mà trong đó những
chi phí bắt buộc phải trả cho các nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng vượt quá
những lợi ích kinh tế dự tính thu được từ hợp đồng đó.
d. Dự phòng phải trả khác
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 6
1.1.3. Nợ tiềm tàng
1.1.3.1. Khái niệm nợ tiềm tàng
Nợ tiềm tàng như trong chuẩn mực kế toán 18 đã định nghĩa là:
Nghĩa vụ nợ có khả năng phát sinh từ các sự kiện đã qua và sự tồn tại
của nghĩa vụ nợ này sẽ chỉ được xác nhận bởi khả năng hay xảy ra hoặc
không hay xảy ra của một hoặc nhiều sự kiện không chắc chắn trong tương lai
hoàn toàn không nằm trong phạm vi kiểm soát của doanh nghiệp; hoặc
Nghĩa vụ nợ hiện tại phát sinh từ các sự kiện đã qua nhưng chưa được
ghi nhận vì: không thể chắc chắn có sự giảm sút về lợi ích kinh tế do việc
phải thanh toán nghĩa vụ nợ; hoặc giá trị của nghĩa vụ nợ đó không được xác
định một cách đáng tin cậy.
1.1.3.2. Điều kiện ghi nhận nợ tiềm tàng
Doanh nghiệp không được ghi nhận một khoản nợ tiềm tàng.
Các khoản nợ tiềm tàng có thể xảy ra không theo dự tính ban đầu, do đó
chúng phải được ước tính thường xuyên để xác định xem liệu sự giảm sút về
lợi ích kinh tế có xảy ra hay không. Nếu sự giảm sút về các lợi ích kinh tế
trong tương lai có thể xảy ra mà liên quan đến một khoản mục trước đây là
một khoản mục nợ tiềm tàng, thì phải ghi nhận một khoản dự phòng vào các
báo cáo tài chính của niên độ mà khả năng thay đổi đó có thể xảy ra (Ngoại
- Chúng đều là một khoản Nợ phải trả
- Chúng đều là khoản nợ tiềm tàng
Khác
nhau
- Một khoản dự phòng là khoản nợ
phải trả không chắc chắn về giá trị
hoặc thời gian.
- Một khoản dự phòng chỉ được ghi
nhận khi thoả mãn các điều kiện
- Nợ tiềm tàng có thể là:
+ Nghĩa vụ nợ có khả năng phát
sinh từ các sự kiện đã xảy ra và
sự tồn tại của nghĩa vụ nợ này sẽ
chỉ được xác nhận bởi khả năng
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 8
sau:
- Doanh nghiệp có nghĩa vụ nợ
hiện tại (nghĩa vụ pháp lý hoặc
nghĩa vụ liên đới) do kết quả từ
một sự kiện đã xảy ra;
- Sự giảm sút về những lợi ích kinh
tế có thể xảy ra dẫn đến việc yêu
cầu phải thanh toán nghĩa vụ nợ;
- Đưa ra được một ước tính đáng
tin cậy về giá trị của nghĩa vụ nợ
đó.
hay xảy ra hoặc không hay xảy
ra của một hoặc nhiều sự kiện
không chắc chắn trong tương lai
cho các khoản nợ không thoả
mãn điều kiện để ghi nhận là
một khoản nợ phải trả thông
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 9
vụ về nợ phải trả hiện tại và chắc
chắn sẽ làm giảm sút các lợi ích
kinh tế để thanh toán các nghĩa vụ
về khoản nợ phải trả đó.
- Các khoản dự phòng cần phải
được xem xét lại vào mỗi ngày lập
bảng tổng kết tài sản và được điều
chỉnh để phản ánh cách đánh giá
tốt nhất theo giá trị hiện tại
thường vì các khoản nợ phải trả
thường xảy ra, còn khoản nợ
tiềm tàng thì chưa chắc chắn xảy
ra.
- Các khoản nợ tiềm tàng
thường xảy ra không theo dự
kiến ban đầu . Do đó chúng phải
được ước tính thường xuyên để
xác định xem liệu sự giảm sút
kinh tế có xảy ra hay không
- Có thể ước tính nghĩa vụ nợ một
cách đáng tin cậy thì lập dự phòng
- Không thể ước tính nghĩa vụ
nợ một cách đáng tin cậy, thì
khoản nợ hiện tại không được
ghi nhận và trình bày như một
giảm sút lợi ích kinh tế là khó xảy ra thì không phải trình bày.
1.2.2. So sánh với VAS 18
IAS 37 đã được ban hành và có hiệu lực từ ngày 01/7/1999, trong đó đề
cập các quy tắc chung nhất khi hạch toán các khoản dự phòng phải trả, tài sản
tiềm tàng, nợ tiềm tàng. Cũng dựa trên những quy định chung đó trong IAS
37, Bộ tài chính đã nghiên cứu, xây dựng, và ban hành chuẩn mực kế toán
Việt Nam số 18 quy định hạch toán “các khoản dự phòng, tài sản và nợ tiềm
tàng”
a. Giống nhau:
Do được xây dựng dựa trên IAS 37 nên VAS 18 về căn bản thì đều thống
nhất với IAS 37 những nội dung sau
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 11
Cả hai chuẩn mực đều quy định Nguyên tắc ghi nhận giá trị và Xác định
giá trị các khoản dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng giống nhau và như đã
trình bày ở phần trên.
b. Khác nhau
Bảng 1.2 So sánh IAS 37 và VAS 18
Các vấn
đề kế
toán
VAS 18 các khoản dự phòng,
tài sản và nợ tiềm tàng
IAS 37 các khoản dự phòng, tài
sản và nợ tiềm tàng
Xác
định giá
trị
khoản
dự
pháp lí của những thông tin
Qua việc so sánh hai chuẩn mực kế toán trên giúp ta thấy rằng giữa
những quy định về hạch toán dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng của Việt Nam
và Quốc tế không có sự khác biệt quá lớn. Song do chuẩn mực này mới được
ban hành và những thông tư hướng dẫn chưa có sự thống nhất nên đã gây
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 12
không ít khó khăn trong công tác hạch toán dự phòng phải trả và nợ tiềm tàng
tại các doanh nghiệp hiện nay.
SV: Vũ Thị Phượng
Đề án môn học 13
PHẦN II: PHƯƠNG PHÁP KẾ TOÁN CÁC KHOẢN DỰ
PHÒNG PHẢI TRẢ TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
2.1. Các văn bản hướng dẫn về hạch toán các khoản dự phòng phải trả
hiện nay
Trong những năm gần đây, cùng với quá trình đổi mới của nền kinh tế,
hệ thống kế toán Việt Nam đã không ngừng được hoàn thiện và phát triển.
Cùng với sự phát triển của hệ thống kế toán Việt Nam, vấn đề trích lập và
hạch toán dự phòng ngày càng hoàn thiện. Sau quyết định 1141TC/QĐ/CĐKT
ngày 1/11/1995 của Bộ Tài chính ban hành hệ thống chế độ kế toán danh
nghiệp, lần lượt các thông tư 64TC/TCDN 15/9/1997, 107/2001/TT- BTC
cũng được ban hành nhằm hướng dẫn việc trích lập dự phòng giảm giá hàng
tồn kho, dự phòng giảm giá đầu tư ngắn hạn và dài hạn, dự phòng nợ phải thu
khó đòi. Những văn bản này chỉ quy định về loại dự phòng giảm giá tài sản
chứ chưa đề cập tới dự phòng phải trả, một loại dự không còn là mới ở các
nước trên thế giới. Do vậy, ngày 28/12/2005 Bộ Tài chính đã ban hành quyết
định số 100/2005/QĐ-BTC công bố 4 chuẩn mực kế toán đợt 5, trong đó có
Chuẩn mực kế toán Việt Nam số 18 – “Các khoản dự phòng, tài sản và nợ
tiềm tàng”. Để hướng dẫn chuẩn mực này, Bộ Tài chính đã ban hành thông tư
số 21/2006/TT-BTC ngày 20/03/2006 hướng dẫn chi tiết kế toán các khoản dự
Đối với dự phòng phải trả về bảo hành công trình xây lắp được lập cho
từng công trình xây lắp và được lập vào cuối kỳ kế toán năm hoặc cuối kỳ kế
SV: Vũ Thị Phượng