luận văn luật pháp luật đất đai trong việc xử lý vi phạm pháp luật đối với người quản lý đất đai - Pdf 24



LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đất đai là quà tặng vô cùng quý giá của thiên nhiên dành cho con người
nhưng đất đai không phải là vô tận và nếu việc quản lý, sử dụng không hợp lý thì
con người sẽ phải trả giá cho những hành động của mình. Việc quản lý đất đai ở
nước ta trong những năm qua còn tồn tại rất nhiều vấn đề bất hợp lý gây nhiều phản
ứng gay gắt trong nhân dân và là nỗi trăn trở của các nhà lãnh đạo. Hiện tượng vi
phạm pháp luật của người quản lý đất đai ở Việt Nam hiện nay còn khá phổ biến,
nhất là tham nhũng, tiêu cực, suy thoái về phẩm chất đạo đức là tương đối nghiêm
trọng. Các vi phạm pháp luật không giới hạn ở một lĩnh vực, một ngành, một địa
phương mà xảy ra trên phạm vi rộng, xảy ra ngay trong bộ máy các cơ quan bảo vệ
pháp luật.
Trong năm năm qua, “ có khoản 1334 cán bộ các cấp đã bị khởi tố do tham
nhũng đất đai”
(1)
. Tiêu cực đất đai là “địa chỉ nóng” cần đánh mạnh. Vừa qua hàng
loạt các vụ án lớn liên quan đến quản lý đất đai như vụ Đồ Sơn, Phú Quốc. Hiện
tượng Đồ Sơn không còn là cá biệt. Tuy mức độ cụ thể có thể khác nhau nhưng
chúng ta có thể khẳng định rằng không nơi nào không có hiện tượng tham nhũng về
đất đai, không có nơi nào cán bộ có chức, có quyền không được giao đất với giá rẻ.
Luật đất đai 2003 ra đời lần đầu tiên đã quy định quyền khởi kiện vụ án
hành chính đối với quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản
lý đất đai, quy định cụ thể việc xử lý vi phạm đối với trường hợp cán bộ công chức
nhà nước có hành vi vi phạm pháp luật đất đai hoặc vi phạm về thực hiện trình tự,
thủ tục hành chính trong quản lý và sử dụng đất.
Đồng thời, vấn đề xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai vẫn là vấn đề
khá mới mẻ đối với các công trình nghiên cứu. Trước đây, chủ yếu nghiên cứu về
xử lý vi phạm nói chung và xử lý vi phạm đối với người sử dụng đất. Chưa có
nghiên cứu nào đi sâu vào vấn đề xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai.

pháp luật trong việc xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai.
4. Kết cấu luận văn
Luận văn gồm ba chương:
Chương I: Những vấn đề chung về vi phạm và xử lý vi phạm pháp luật đất
đai đối với người quản lý đất đai.
Chương II: Các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm pháp luật đất đai
đối với người quản lý.
Chương III: Một số kiến nghị góp phần áp dụng có hiệu quả và hoàn thiện
các quy định của pháp luật về xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý đất đai.
Đây là một vấn đề khá mới mẻ và đòi hỏi kiến thức tổng hợp giữa lý luận và
đánh giá thực tiễn. Là sinh viên lần đầu tham gia vào nghiên cứu và còn thiếu kiến
thức thực tế nên sẽ không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận được thông
cảm và những ý kiến chỉ bảo của các thầy cô để em có thể rút ra kinh nghiệm và
hoàn thiện hơn về đề tài này.
Em xin gửi lời chân thành cảm ơn đến các thầy cô, Ban Lãnh đạo Khoa và
đặc biệt là cô Nguyễn Thị Thanh Xuân đã tận tình hướng dẫn và tạo điều kiện giúp
đỡ em hoàn thành khoá luận này.
Trân trọng kính chào !

1.1.2. Hệ thống các cơ quan hành chính nhà nước về đất đai
Với chức năng quản lý nhà nước về đất đai, Chính phủ và Ủy ban nhân dân
các cấp có vai trò quan trọng trong việc thực hiện các nội dung của chế độ quản lý
nhà nước về đất đai. Có thể khái quát chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của hệ thống
cơ quan có thẩm quyền như sau:
Thứ nhất, thống nhất việc quản lý đất đai ở trung ương và ở từng địa phương
Thứ hai, tổ chức chỉ đạo và thực hiện các nội dung cụ thể của chế độ quản lý
nhà nước về đất đai.
1.1.3. Hệ thống các cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai

2
Khoản 1 Điều 26 Luật đất đai
3
Khoản 6 Điều 25 Luật đất đai Cơ quan chuyên ngành quản lý đất đai đã trải qua ba thời kỳ, Tổng cục quản
lý ruộng đất năm 1979 đến năm 1994, Tổng cục quản lý ruộng đất năm 1994 đến
năm 2002 và hiện nay là Bộ tài nguyên và môi trường.
Bộ tài nguyên và mội trường: Là cơ quan giúp việc cho Chính phủ trong việc
quản lý đất đai trên phạm vi cà nước.
Sở tài nguyên và môi trường: là cơ quan giúp việc cho Ủy ban nhân dân cấp
tỉnh trong vấn đề quản lý đất đai.
Phòng tài nguyên và môi trường: Là cơ quan chuyên môn trực thuộc Ủy ban
nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, có chức năng quản lý nhà nước
về đất đai và môi trường.
Cán bộ địa chính xã là người giúp việc cho Ủy ban nhân dân xã, phường, thị
trấn trong công tác quản lý đất đai.
Ngoài ra, còn có các tổ chức dịch vụ công trong lĩnh vực quản lý và sừ dụng
đất như: Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất, Tổ chức phát triển quỹ đất, Tổ

đất đai.
Các quan hệ pháp luật đất đai rất đa dạng về chủ thể, mục đích, về phương
thức thực hiện. Đó có thể là mối quan hệ giữa Nhà nước mà đại diện là các cơ quan
quản lý đất đai với các chủ thể sử dụng đất trong quá trình giao đất, cho thuê đất,
cho phép chuyển mục đích sử dụng đất, thu hồi đất… Đó cũng có thể là mối quan
hệ giữa những chủ thể sử dụng đất với nhau trong các giao dịch dân sự về đất đai.
Trong quá trình thực hiện các mối quan hệ về đất đai các chủ thể đã không thực
hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai hoặc thực hiện
những điều pháp luật đất đai cấm, đó chính là các vi phạm pháp luật đất đai.
Vi phạm pháp luật đất đai là hành vi trái pháp luật, được thực hiện một cách
cố ý hoặc vô ý, xâm phạm tới quyền lợi của Nhà nước, với vai trò là đại diện của
chủ sở hữu, quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất, cũng như các quy
định về chế độ sử dụng các loại đất.
1.2.1.3. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật đất đai
Vi phạm pháp luật là hành vi (hành động hoặc không hành động) trái pháp
luật và có lỗi do chủ thể có trách nhiệm pháp lý thực hiện, xâm hại các quan hệ xã
hội được pháp luật xã hội chủ nghĩa bảo vệ. Vi phạm pháp luật có bốn dấu hiệu sau:
là hành vi xác định của con người, hành vi đó trái với các quy định của pháp luật,
chứa đựng lỗi của chủ thể thực hiện hành vi đó và chủ thể thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật có năng lực chịu trách nhiệm pháp lý.
Khác với căn cứ truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm
trong các quan hệ xã hội khác, đối với một hành vi vi phạm pháp luật đất đai, trong
đa số các trường hợp chỉ cần hai dấu hiệu là hành vi trái pháp luật và có lỗi là đủ
căn cứ để truy cứu trách nhiệm pháp lý mà không cần phải có những yếu tố như: có
thiệt hại thực tế xảy ra, có mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả. Bởi vì, Luật đất đai
điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trực tiếp từ quan hệ sở hữu, quản lý và sử dụng đất đai. Đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu, mọi
hành vi nhằm xâm hại đến quyền sở hữu đó đều là những hành vi vi phạm pháp

1.2.2.2. Dấu hiệu của vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai
1.2.2.2.1. Có hành vi trái pháp luật C.Mác đã nói: “Ngoài hành vi của mình ra tôi hoàn toàn không tồn tại đối
với pháp luật, hoàn toàn không phải là đối tượng của nó”
(4)
Pháp luật được ban
hành để điều chỉnh hành vi của con người. Hành vi trái pháp luật của người quản lý
đất đai là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng những quy định của
pháp luật về quản lý đất đai. Theo lý luận chung về nhà nước và pháp luật, vi phạm
pháp luật trong quản lý đất đai không chỉ là hành vi xác định của con người hoặc là
hoạt động của cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội mà hành vi đó phải trái với các
quy định của pháp luật đất đai, xâm hại tới khách thể được Luật đất đai bảo vệ và
gây nguy hiểm hoặc có khả năng gây nguy hiểm cho xã hội.
Hành vi đó có thể bằng hành động hoặc không hành động nhưng phải được
biểu hiện ra bên ngoài hiện thực khách quan, nghĩa là có thể nhìn thấy, nghe thấy,
nhận thức được hành động hay không hành động đó.
Một hành vi chỉ bị coi là trái pháp luật đất đai khi hành vi đó không phù hợp
hoặc trái ngược với các quy định của pháp luật đất đai.
Hành vi vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai có thể là hành vi không
thực hiện hoặc thực hiện không đúng các quy định của pháp luật đất đai trong quá
trình thực hiện việc quản lý đất đai. Đây chính là điểm khác nhau cơ bản giữa vi
phạm pháp luật đất đai của người sử dụng đất và người quản lý đất đai vì vi phạm
pháp luật của người sử dụng đất là những hành vi trái pháp luật đất đai trong quá
trình sử dụng đất còn vi phạm pháp luật đất đai của người quản lý là trong quá trình
thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai.
Hành vi vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai không thực hiện những
quy định của pháp luật đất đai như: không công bố hoặc chậm công bố quy hoạch
sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không thông

ngờ Nhưng đối với chủ thể vi phạm là người quản lý đất đai thì vấn đề không
nhận thức được hành vi của mình là không thể xảy ra. Xét yếu tố lỗi một cách chính
xác sẽ xác định được hình thức xử lý phù hợp nhất đối với một hành vi vi phạm.
1.2.2.3. Cấu thành của vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai
* Mặt khách quan:
Mặt khách quan của vi phạm pháp luật của người quản lý đất đai là những
biểu hiện ra bên ngoài của vi phạm pháp luật. Khác với căn cứ để truy cứu trách
nhiệm pháp lý đối với một hành vi vi phạm pháp luật khác thì đối với hành vi vi
phạm pháp luật đất đai nói chung, với hành vi vi phạm của người quản lý đất đai nói
riêng trong đa số trường hợp không bắt buộc phải có dấu hiệu hậu quả gây thiệt hại
của hành vi và quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của nó. Nói cách khác chỉ
cần tồn tại “dấu hiệu hình thức” của nó là đủ căn cứ để áp dụng biện pháp xử lý
hành chính. Ngoài ra còn có các dấu hiệu như: thời gian, địa điểm, phương tiện vi
phạm…

* Mặt chủ quan:
Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp luật đất đai là những biểu hiện tâm
lý bên trong của chủ thể vi phạm pháp luật. Mặt chủ quan của hành vi vi phạm pháp
luật của người quản lý đất đai thể hiện ở yếu tố lỗi. Lỗi là dấu hiệu bắt buộc của vi phạm pháp luật đất đai. Một hành vi trái pháp luật không đồng nghĩa với vi phạm
pháp luật nếu chưa xác định yếu tố lỗi. Hành vi vi phạm pháp luật đất đai của người
quản lý được thực hiện với lỗi cố ý hoặc vô ý như: Cắm mốc địa giới hành chính sai
vị trí trên thực địa; thu hồi đất không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng,
không đúng quy hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt…
* Chủ thể:
Chủ thể của vi phạm pháp luật là cá nhân hoặc tổ chức có năng lực chịu
trách nhiệm pháp lý. Chủ thể của vi phạm pháp luật đất đai chính là các chủ thể có
thẩm quyền trong việc quản lý đất đai như: Người đứng đầu tổ chức, Thủ trưởng cơ

vi vi phạm trong quản lý đất đai thì càng phải xử lý thích đáng, đúng pháp luật.
Những cán bộ, công chức quản lý đất đai là những người nắm trong tay
quyền lực Nhà nước, được sử dụng quyền lực Nhà nước trong quá trình thực hiện
công vụ. Tuy nhiên, một số người lại lợi dụng quyền lực Nhà nước để làm những
việc trái pháp luật và có tính nguy hiểm rất cao, có thể gây ra những hậu quả
nghiêm trọng. Do đó xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai là vấn đề nóng
bỏng, đang được dư luận toàn xã hội quan tâm.
Theo giáo trình Luật đất đai 2005 của trường Đại học Luật Hà Nội: “Xử lý
vi phạm pháp luật đất đai là việc áp dụng các hình thức trách nhiệm pháp lý đối với
người vi phạm nhằm mục đích buộc họ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý do
hành vi và hậu quả của hành vi vi phạm gây ra”.
Khi một tổ chức hay cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật đất đai, về
nguyên tắc Nhà nước sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định.
Trong khoa học pháp lý “trách nhiệm pháp lý” được hiểu là hậu quả bất lợi (sự
trừng phạt) đối với chủ thể vi phạm phạm pháp luật. Các quy phạm pháp luật xác
lập và điều chỉnh mối quan hệ giữa Nhà nước và chủ thể vi phạm, trong đó chủ thể
vi phạm pháp luật phải chịu những hậu quả bất lợi, những biện pháp cưỡng chế
được quy định ở chế tài các quy phạm pháp luật.
(6)
Chỉ những cơ quan Nhà nước, nhà chức trách có thẩm quyền hay các chủ thể
được trao quyền thì mới có quyền truy cứu trách nhiệm pháp lý đối với tổ chức, cá
nhân nào đó. Nó thể hiện ở việc các cơ quan Nhà nước, nhà chức trách hay các chủ
thể có thẩm quyền theo trình tự thủ tục luật định yêu cầu chủ thể bị truy cứu trách
nhiệm pháp lý giải thích rõ về hành vi vi phạm pháp luật đất đai của mình và buộc
các chủ thể vi phạm đó chịu những thiệt hại nhất định.
Xử lý vi phạm pháp luật là nhằm mục đích ngăn ngừa và trừng phạt những
hành vi vi phạm đồng thời giáo dục ý thức chấp hành pháp luật, bảo vệ những quan
hệ, những giá trị được pháp luật ghi nhận. Đó cũng là vấn đề có tính quyết định để
duy trì trật tự kỷ cương và nâng cao hiệu quả trong hoạt động quản lý đất đai ở nước
ta hiện nay.

Các hành vi vi phạm của người quản lý đất đai phải là hành vi được thực
hiện trong khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai thường gắn với lợi
dụng hoặc lạm dụng chức vụ quyền hạn. Đây chính là những điểm khác biệt đối với
việc xử lý vi phạm hành chính đối với người sử dụng đất vi phạm pháp luật đất đai
bởi vì cơ sở của xử lý vi phạm hành chính là vi phạm hành chính trong quá trình sử
dụng đất và đối tượng xử lý chính là những người sử dụng đất.
Thứ hai, xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai được thể hiện bằng
quyết định xử lý kỷ luật thực hiện theo quy định chung về phân cấp quản lý cán bộ
hoặc bản án hình sự của Tòa án nếu có hành vi cấu thành tội phạm.
Việc xử lý cán bộ công chức có hành vi vi phạm trong khi thực hiện chức
năng quản lý Nhà nước về đất đai do người đứng đầu cơ quan quản lý công chức có
hành vi vi phạm xử lý kỷ luật. Nếu người đứng đầu cơ quan, đơn vị vi phạm kỷ luật thì người đứng đầu cơ
quan đơn vị quản lý cấp trên trực tiếp ra quyết định kỷ luật.
Đối với người quản lý có hành vi vi phạm đất đai đã bị xử lý kỷ luật mà tái
phạm hoặc gây hậu quả nghiêm trọng thì sẽ bị xử lý hình sự thể hiện qua bản án
hình sự. Hoạt động xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải tiến hành theo
trình tự, thủ tục pháp luật quy định. Và kết quả của quá trình điều tra, tìm hiểu được
thể hiện bằng quyết định xử lý kỷ luật và bản án hình sự nếu có dấu hiệu cấu thành
tội phạm.
Khi tiến hành xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai cơ quan Nhà nước,
cán bộ Nhà nước có thẩm quyền xử lý đều phải tuân theo trình tự, thủ tục do pháp
luật quy đinh. Trình tự xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai cũng mang
những nét đặc thù khác biệt so với thủ tục hành chính trong xử lý vi phạm đối với
người sử dụng đất. Trình tự xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai sẽ tuân theo
quy định tại Nghị định số 54/2005/NĐ-CP ngày 19/4/2005 của Chính Phủ về chế độ
thôi việc đối với cán bộ công chức và Nghị định số 97/1998/NĐ-CP ngày
17/11/1998 của Chính Phủ về xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất đối với cán bộ

quản lý đất đai
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải thể hiện được bản chất
Nhà nước của dân, do dân, vì dân, phải thể hiện công chức là công bộc của nhân
dân.
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải bảo đảm sự bình đẳng
trước pháp luật giữa cán bộ, công chức quản lý và người sử dụng đất khi vi phạm
pháp luật.
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải hướng tới bảo vệ quyền
và lợi ích hợp pháp của công dân, đấu tranh không khoan nhượng với những biểu
hiện độc đoán, chuyên quyền, quan liêu, cửa quyền, tham nhũng và sách nhiễu của
đội ngũ cán bộ, công chức quản lý đất đai.
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải mang tính khả thi và được
đảm bảo thực hiện trên thực tế.
- Việc xây dựng chế định về xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai cần
được sự tham gia, đóng góp của rộng rãi nhân dân.
- Xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai phải đảm bảo tính công khai,
minh bạch, dễ tiếp cận.
1.3.3. Các hình thức xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai
Theo nguyên tắc mọi vi phạm pháp luật phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý
kịp thời, việc xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất phải được tiến hành nhanh
chóng, công minh, triệt để; mọi hậu quả do vi phạm gây ra phải được khắc phục
theo quy định của pháp luật thì việc xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai
phải được tiến hành theo đúng trình tự và nguyên tắc mà pháp luật quy định. Tuỳ
theo tính chất, mức độ của từng loại vi phạm mà người quản lý đất đai có hành vi vi phạm sẽ phải chịu những hình thức trách nhiệm như: trách nhiệm kỷ luật, trách
nhiệm hình sự và trách nhiệm dân sự.
1.3.3.1. Trách nhiệm kỷ luật
Trách nhiệm kỷ luật là hình thức trách nhiệm cơ bản nhất của cán bộ, công

- Cảnh cáo: được áp dụng đối với người quản lý đất đai đã bị khiển trách về
hành vi vi phạm pháp luật đất đai mà còn tái phạm hoặc vi phạm ở mức độ nhẹ
nhưng khuyết điểm có tính chất thường xuyên hoặc tuy mới vi phạm lần đầu nhưng
có tính chất tương đối nghiêm trọng.
- Hạ bậc lương: áp dụng đối với người quản lý đất đai có hành vi vi phạm
nghiêm trọng trong khi thực hiện chức năng quản lý Nhà nước về đất đai.
- Hạ ngạch: áp dụng đối với người quản lý đất đai có hành vi vi phạm
nghiêm trọng, xét thấy không đủ phẩm chất đạo đức và tiêu chuẩn nghiệp vụ
chuyên môn của ngạch đang đảm nhiệm.
- Cách chức: áp dụng đối với người quản lý đất đai có chức vụ mà hành vi vi
phạm pháp luật nghiêm trọng xét thấy không thể tiếp tục đảm nhận chức vụ được
giao.
-Buộc thôi việc: đây là hình thức kỷ luật nặng nhất áp dụng đối với người
quản lý đất đai khi có hành vi vi phạm nghiêm trọng pháp luật đất đai.
1.3.3.2. Trách nhiệm hình sự
Trách nhiệm hình sự là trách nhiệm nghiêm khắc nhất trong các loại trách
nhiệm pháp lý. Cơ sở pháp lý của truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người quản
lý đất đai là Điều 138 Luật đất đai và Điều 174 Bộ luật hình sự.
* Đối tượng chịu trách nhiệm hình sự:
Trách nhiệm hình sự được áp dụng đối với người quản lý đất đai thực hiện
hành vi phạm tội trong khi thi hành công vụ hoặc đã bị xử lý kỷ luật mà còn vi
phạm hoặc vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng.
* Thẩm quyền áp dụng trách nhiệm hình sự:
Các cơ quan tiến hành tố tụng sẽ áp dụng trách nhiệm hình sự đối với người
có hành vi vi phạm pháp luật đất đai bị coi là tội phạm theo quy định của Bộ luật
hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự . Viện kiểm sát nhân dân sẽ truy tố trước tòa và
Tòa án xét xử theo quy định của pháp luật hình sự.
* Khung hình phạt được áp dụng:
Đối với tội vi phạm các quy định về quản lý đất đai, pháp luật quy định ba
khung hình phạt:

cho người bị thiệt hại.
* Đối tượng chịu trách nhiệm dân sự:
Là người có trách nhiệm quản lý đất đai có hành vi vi phạm pháp luật đất đai
gây thiệt hại cho Nhà nước, người khác.

* Nguyên tắc xử lý:
Việc bồi thường thiệt hại trong trách nhiệm dân sự được áp dụng theo
nguyên tắc ngang giá, toàn bộ và kịp thời. Nghĩa là người gây thiệt hại tới đâu thì
phải bồi thường đến đó, việc bồi thường phải đầy đủ và thực hiện nhanh chóng.

7
Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
8
Khoản 2 Điều 174 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
9
Khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009
Khác với các hình thức trách nhiệm khác, trong trách nhiệm dân sự có một đặc điểm
nổi bật là các bên có thể tự thỏa thuận với nhau về việc bồi thường thiệt hại. Nếu
không thỏa thuận được về mức bồi thường thiệt hại thì bên bị thiệt hại có quyền
khởi kiện yêu cầu tòa án giải quyết.
Trên đây là các hình thức xử lý vi phạm đối với người quản lý đất đai. Tuy
nhiên, khi quyết định các biện pháp xử lý đối với hành vi vi phạm trên cơ sở quy
định của pháp luật còn phải căn cứ vào thái độ, ý thức chấp hành pháp luật và trình
độ hiểu biết pháp luật của người vi phạm để giải quyết. Thông qua đó mà tăng
cường tính giáo dục, thuyết phục, tính cưỡng chế của pháp luật đối với các quan hệ
pháp luật đất đai.


trọng vấn đề này. Cụ thể được quy định tại Điều 167 Nghị định 181:
- Mọi vi phạm phải được phát hiện, đình chỉ, xử lý kịp thời. Việc xử lý kỷ
luật và trách nhiệm vật chất phải được tiến hành nhanh chóng, công minh, triệt để,
mọi hậu quả do vi phạm gây ra phải được khắc phục theo quy định của pháp luật.
- Hình thức kỷ luật được áp dụng độc lập, biện pháp xử lý trách nhiệm vật
chất được áp dụng kèm theo hình thức kỷ luật đối với những hành vi vi phạm có
quy định biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất.
Hình thức, mức độ kỷ luật được xác định căn cứ vào tính chất, mức độ, hậu
quả của hành vi vi phạm, nhân thân người có hành vi vi phạm.
- Các hành vi vi phạm pháp luật về đất đai của cán bộ, công chức khi thực
hiện công vụ có liên quan đến quản lý đất đai mà không thuộc các trường hợp quy
định tại Mục 2 của Chương XIII Nghị định 181 thì bị xử lý kỷ luật và trách nhiệm
vật chất theo quy định của pháp luật có liên quan.
- Việc xử lý kỷ luật và trách nhiệm vật chất phải do người có thẩm quyền
quyết định.
- Một hành vi vi phạm chỉ áp dụng một hình thức kỷ luật. Nhiều người cùng
thực hiện một hành vi vi phạm thì từng người vi phạm đều phải bị xử lý. Một người
cùng một lúc thực hiện nhiều hành vi vi phạm thì bị xử lý về từng hành vi vi phạm
và chịu hình thức kỷ luật cao hơn một mức so với hình thức kỷ luật tương ứng với
hành vi vi phạm nặng nhất.
- Thời hạn xử lý kỷ luật trong lĩnh vực quản lý đất đai là ba tháng kể từ ngày
phát hiện ra hành vi vi phạm; trường hợp hành vi vi phạm có những tình tiết phức
tạp cần có thời gian để thẩm tra, xác minh thì thời hạn được xem xét kéo dài nhưng
không quá sáu tháng, trừ trường hợp quy định tại Khoản 4 Điều 9 Nghị định 97/1998/NĐ-CP ngày 17 thàng 11 năm 1998 của Chính phủ về xử lý kỷ luật và
trách nhiệm vật chất đối với công chức.
Trong thời hạn xử lý kỷ luật mà cá nhân có hành vi vi phạm mới thuộc các
hành vi quy định trong Nghị định 181 hoặc cố tình trốn tránh, cản trở việc xử lý kỷ


nhiệm vụ họ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để thực hiện hành vi vi
phạm.
- Làm trái với các quy định của pháp luật đất đai: Làm trái có nghĩa là pháp
luật quy định phải thực hiện một số hành vi nhất định nhưng không thực hiện hoặc
thực hiện không đúng với quy định của pháp luật. Trong hoạt động quản lý đất đai,
người quản lý đã làm trái với các quy định của pháp luật trong giao đất, cho thuê
đất, thu hồi đất, chuyển mục đích sử dụng đất, chuyển quyền sử dụng, thực hiện quy
hoạch, kế hoạch sử dụng đất, xác định nhiệm vụ tài chính về đất đai, quản lý hồ sơ
địa chính, ra quyết định hành chính trong quản lý đất đai. Do đó, họ phải chịu trách
nhiệm về hành vi sai trái của mình.
- Thiếu trách nhiệm trọng quản lý đất đai để xảy ra vi phạm pháp luật về đất
đai. Cán bộ, công chức Nhà nước hưởng lương từ ngân sách Nhà nước và có nhiệm
vụ nhất định trong quản lý Nhà nước và như vậy nếu họ thiếu trách nhiệm trong
công việc của mình thì đương nhiên họ phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình.
- Có hành vi khác gây thiệt hại đối với tài nguyên đất đai, quyền và nghĩa vụ
của người sử dụng đất.
Trên đây chính là những dấu hiệu chung nhất về hành vi vi phạm pháp luật
đất đai của người quản lý. Những cán bộ, công chức có những hành vi trên sẽ bị xử
lý theo đúng pháp luật. Nhưng cụ thể đối tượng bị xử lý vi phạm là ai? Điều 166
Nghị định 181 đã quy định cụ thể về đối tượng bị xử lý vi phạm:
- Người đứng đầu tổ chức, thủ trưởng cơ quan có thẩm quyền quyết định về
quản lý đất đai mà có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
- Cán bộ, công chức thuộc cơ quan quản lý đất đai các cấp và cán bộ địa
chính xã, phường, thị trấn có hành vi vi phạm các quy định về trình tự, thủ tục hành
chính trong quản lý đất đai.
- Người đứng đầu, cán bộ, công chức, viên chức, nhân viên của tổ chức được
Nhà nước giao để quản lý trong các trường hợp sau mà có hành vi vi phạm pháp
luật về đất đai đối với đất được giao để quản lý:
+ Tổ chức được giao quản lý các công trình công cộng mà Nhà nước giao đất

cũng rất đa dạng và phức tạp. Nghị định 181 đã dành riêng Mục 2 Chương XIII quy
định về các hành vi vi phạm và hình thức xử lý vi phạm đối với người quản lý đất
đai. Đó là những hành vi sau:
2.1.3.1. Vi phạm quy định về hồ sơ và mốc giới địa giới hành chính
10

Vi phạm về hồ sơ và mốc địa giới hành chính bao gồm các hành vi sau: Làm
sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành chính; cắm
mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa.
Với những hành vi trên hình thức trách nhiệm kỷ luật được áp dụng là: có
hành vi làm sai lệch sơ đồ vị trí, bảng tọa độ, biên bản bàn giao mốc địa giới hành
chính do thiếu trách nhiệm thì bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị

10
Điều 169 Nghị Định 181 về hướng dẩn thi hành Luật đất đai 2003 cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố ý thì hạ ngạch. Có hành vi cắm
mốc địa giới hành chính sai vị trí trên thực địa do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo,
tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch; tái phạm do
cố ý thì bị cách chức hoặc thôi việc.
2.1.3.2. Vi phạm quy định về quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
11

Vi phạm quy định về quy hoạch sử dụng đất bao gồm các hành vi sau:
Không công bố hoặc chậm công bố quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch
sử dụng đất chi tiết đã được xét duyệt; không công bố hoặc chậm công bố việc điều
chỉnh hoặc hủy bỏ kế hoạch sử dụng đất; làm mất, làm sai lệch bản đồ quy hoạch sử
dụng đất chi tiết. Nếu có hành vi trên do thiếu trách nhiệm thì bị khiển trách, tái
phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố

hoặc cách chức; do cố ý thì bị cách chức; tái phạm do cố ý thì bị buộc thôi việc.
2.1.3.4. Vi phạm quy định về thu hồi đất
13

Khi tiến hành thu hồi đất mà không thông báo trước cho người có đất bị thu
hồi theo quy định của Luật đất đai; không công khai phương án bồi thường, tái định
cư do thiếu trách nhiệm thì bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh
cáo, cố ý thì bị hạ bậc lương; tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch.
Nếu có hành vi thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức
bồi thường cho người có đất bị thu hồi; làm sai lệch hồ sơ thu đất; xác định sai vị trí
diện tích đất bị thu hồi trên thực địa do thiếu trách nhiệm thì bị khiển trách hoặc
cảnh cáo, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; cố ý thị
bị hạ ngạch hoặc cách chức, tái phạm do cố ý thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc.
Việc thu hồi đất không đúng thẩm quyền; không đúng đối tượng; không
đúng với quy hoạch sử dụng đất chi tiết, kế hoạch sử dụng đất chi tiết đã được xét
duyệt do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ bậc lương; tái phạm do thiếu
trách nhiệm thì bị cảnh cáo hoặc hạ ngạch; cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức, tái
phạm do cố ý thì bị buộc thôi việc.
2.1.3.5. Vi phạm quy định về trưng dụng đất
14

Trường hợp thực hiện bồi thường không đúng đối tượng, diện tích, mức bồi
thường, thời hạn bồi thường cho người có đất bị trưng dụng do thiếu trách nhiệm thì
bị khiển trách, tái phạm do thiếu trách nhiệm thì bị cảnh cáo; cố ý thì bị hạ bậc
lương, tái phạm do cố ý thì bị hạ ngạch hoặc cách chức.
Nếu trưng dụng đất không đúng các trường hợp bị trưng dụng theo Luật đất
đai do thiếu trách nhiệm thì bị hạ bậc lương; cố ý thì bị hạ ngạch; tái phạm do cố ý
thì bị cách chức hoặc buộc thôi việc.
2.1.3.6. Vi phạm quy định về quản lý đất được Nhà nước giao để quản


áp dụng biện pháp xử lý trách nhiệm vật chất nếu gây thiệt hại cho Nhà nước, cho
người khác. Và trong quá trình xem xét kỷ luật cán bộ, công chức mà phát hiện có
dấu hiệu tội phạm, người có thẩm quyền xử lý kỷ luật đề nghị cơ quan có thẩm
quyền truy cứu trách nhiệm hình sự.
Với những quy định của pháp luật đất đai về xử lý vi phạm đối với người
quản lý đất đai về cơ bản đã tạo ra hệ thống pháp luật tương đối đầy đủ, giải quyết
tốt các mối quan hệ đất đai, bước đầu đáp ứng được cho công tác xử lý vi phạm.
Tuy nhiên, pháp luật đất đai hiện hành vẫn bộc lộ một số tồn tại chủ yếu như: chưa
quy định cụ thể trách nhiệm pháp lý liên đới của công chức lãnh đạo khi công chức
thuộc quyền vi phạm. Về trách nhiệm hình sự của công chức, mặc dù đã được quan
tâm hoàn thiện trong những năm gần đây, tuy nhiên những quy định như: “đã bị xử
phạt kỷ luật” hoặc “gây hậu quả nghiêm trọng” chưa được cụ thể hóa. Đồng thời,
chế tài xử lý người quản lý đất đai có hành vi vi phạm pháp luật đất đai còn chưa đủ
mạnh, tính răn đe chưa cao. 2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật trong xử lý vi phạm đối với
người quản lý đất đai
2.2.1. Thực trạng chung

16
Điều 175 Nghị Định 181 về hướng dẩn thi hành Luật đất đai 2003

Trích đoạn Vấn đề quy hoạch treo, dự án treo Nguyên nhân của tình trạng vi phạm pháp luật đất đai của cán bộ quản lý ngày Một số kiến nghị góp phần áp dụng có hiệu quả và hoàn thiện các quy định của
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status