Lời nói đầu
Trong những năm qua, tình hình người chưa thành niên vi phạm pháp luật ngày càng
gia tăng đòi hỏi cần có một cơ sở pháp lý rõ ràng, chặt chẽ, để vừa bảo vệ quyền và lợi ích hợp
pháp của người chưa thành niên, vừa nhằm mục đích phòng ngừa, ngăn chặn và đấu tranh có
hiệu quả chống lại những hành vi vi phạm pháp luật do người chưa thành niên thực hiện. Tuy
nhiên cho đến nay, các quy định riêng, cụ thể về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa
thành niên cũng như các công trình nghiên cứu về vấn đề này không nhiều. Do đó em chọn đề
tài "Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên" với mong muốn
góp phần hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó
trong thực tiễn. Đối tượng nghiên cứu của đề tài là người chưa thành niên bị áp dụng các biện
pháp xử lý vi phạm hành chính và các quy định về xử lý vi phạm hành chính đối với họ. Trong
phạm vi và giới hạn cho phép, đề tài tập trung nghiên cứu những vấn đề sau:
Chương I: Khái niệm người chưa thành niên, đặc điểm người chưa thành niên và ảnh
hưởng của những đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối
với người chưa thành niên.
Chương II: Thực trạng pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người
chưa thành niên.
Chương III: Thực tiễn áp dụng, phương hướng, giải pháp hoàn thiện các quy định pháp
luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên.
Đề tài có ý nghĩa là những nghiên cứu cơ bản, bước đầu, xuất phát từ thực trạng quy
định và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người
chưa thành niên. Trên cơ sở đó, đề xuất phương hướng và giải pháp cụ thể để hoàn thiện các
quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả của công tác áp dụng các biện pháp xử lý vi
phạm hành chính đối với người chưa thành niên.
Chương I
đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi và tác động của những
đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý
vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên
1. Khái niệm và đặc điểm người chưa thành niên
1.1. Khái niệm
"Người chưa thành niên" không phải là một khái niệm mới, nó được sử dụng phổ biến,
sự; Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Người từ đủ 18 tuổi trở lên là người thành niên.
Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên". Cũng theo quy định của Bộ luật người chưa
thành niên vẫn được tham gia vào các quan hệ dân sự, mà khi đó họ phải được pháp luật công
nhận là có khả năng "sử dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm"; Điều 119 Bộ luật Lao
động 2002 quy định: "người lao động chưa thành niên là người lao động dưới 18 tuổi", theo đó
Bộ luật cũng quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người lao động chưa thành niên.
Như vậy định nghĩa này là chưa chính xác.
2
Bên cạnh đó, còn có khái niệm "trẻ em". Theo Công ước về quyền trẻ em 1989: "Trẻ
em là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó có quy định tuổi
thành niên sớm hơn". Tại Điều 11 Quy tắc tối thiểu phổ biến của Liên hợp quốc về bảo vệ
người chưa thành niên bị tước quyền tự do năm 1990 đã quy định: "Những người chưa thành
niên là người dưới 18 tuổi". Có thể thấy qua hai văn bản pháp lý quốc tế trên, khái niệm "trẻ
em" và khái niệm "người chưa thành niên" đều để chỉ người dưới 18 tuổi.
Lại có ý kiến cho rằng, theo pháp luật Việt Nam thì khái niệm "trẻ em" và khái niệm
"người chưa thành niên" có sự khác nhau với dẫn chứng Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2005
quy định: "Người chưa đủ 18 tuổi là người chưa thành niên", còn Luật Bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em được quy định trong Luật này là công dân Việt Nam dưới 16
tuổi" (Điều 1). Theo đó, khoảng cách giữa "trẻ em" và "người chưa thành niên" là khoảng cách
2 năm.
Về độ tuổi của người chưa thành niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau như: người chưa
thành niên là người ở độ tuổi 14 đến 17 tuổi (Spranger); từ 11 đến 15 tuổi (Bromlei); từ 12 đến
15 tuổi (J. Piagie) hay có sự phân biệt giữa nam và nữ như: nam là từ 14 đến 16 tuổi, nữ là 11
đến 13 (Buhler); nam 12 đến 17 tuổi, nữ là 12 đến 15 tuổi (Grimn)…[6, tr.60].
Có thể thấy rằng, việc xác định độ tuổi người chưa thành niên là rất khó, không thể
đồng nhất hai khái niệm "người chưa thành niên" và "trẻ em", cũng không nên xem khái niệm
nào có nội hàm rộng hay hẹp hơn. Nhìn chung các ý kiến đều thống nhất cho rằng giới hạn độ
tuổi cao nhất của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi. Chúng tôi cho rằng không nhất thiết
phải có một khái niệm cụ thể về người chưa thành niên, chỉ cần xác định người chưa thành niên
bao gồm những người ở lứa tuổi nào? hợp lý nhất đó là những người ở độ tuổi từ đủ 12 đến
đặc điểm của một giai đoạn mà cách gọi thôi cũng cho thấy tính phức tạp và tầm quan trọng
của nó: "thời kì quá độ" (chưa phải là người lớn cũng không còn là trẻ con), "tuổi khủng hoảng"
(cả về sinh lí lẫn tâm lí), "tuổi khó bảo" (các em ở độ tuổi này trở nên bướng bỉnh và khó bảo),
"tuổi bất trị"…
1.2.1. Đặc điểm sinh lí
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhưng không đồng đều, biểu hiện bên ngoài là
các em lớn lên trông thấy. Tuỳ thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai đoạn mà sự phát triển
giữa nam và nữ là khác nhau, như cùng trong giai đoạn chưa thành niên nhưng ở độ tuổi 12-13,
các em nữ phát triển hơn các em nam về hình dáng thì ở độ tuổi 14-15, cơ thể các em nam lại
phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả nam và nữ đều có những đặc điểm chung của lứa tuổi.
Sự phát triển của hệ xương mà chủ yếu là sự phát triển của xương tay, xương chân rất
nhanh nhưng xương ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Do đó, cơ thể phát triển không
cân đối khiến các em trở nên lóng ngóng, vụng về và hay làm đổ vỡ…
Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối khiến các em dễ rơi vào tình trạng
rối loạn tạm thời với những biểu hiện như: mệt mỏi, chóng mặt, nhức đầu. Những biểu hiện này
diễn ra không lâu nhưng lại thường xuyên, làm ảnh hưởng không nhỏ đến đời sống sinh hoạt
hàng ngày cũng như tâm lý của người chưa thành niên.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh thường dẫn đến sự rối loạn của hoạt động thần
kinh làm cho các em dễ xúc động, hay bực tức hay nổi nóng, do đó các em hay có những phản
4
ứng mạnh mẽ và gay gắt về những người xung quanh, về những việc mà các em cảm thấy
không hài lòng.
Hệ thần kinh chưa có khả năng chịu được những kích thích mạnh và kéo dài, dẫn đến
cảm giác ức chế, uể oải, thờ ơ, lãnh đạm, tản mạn khiến các em đôi khi cư xử không đúng với
bản chất của mình, nghiêm trọng hơn là có những hành vi vi phạm đạo đức xã hội và đặc biệt là
vi phạm pháp luật.
Một đặc điểm sinh lí đặc trưng nữa của người chưa thành niên đó là sự phát dục, đây là
dấu hiệu cho thấy rõ ràng nhất sự lớn lên của các em. Điều này làm xuất hiện ở các em nhiều
biểu hiện mới như nhu cầu giao tiếp với bạn bè, đặc biệt là với bạn bè khác giới. Các em trưởng
thành hơn về mặt cơ thể, nhưng nhận thức vẫn còn hạn chế.
Khi trở thành đối tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì những đặc điểm
tâm sinh lí trên phải được xem xét để pháp luật có những quy định phù hợp, đảm bảo việc bảo
vệ hiệu quả nhất những quyền lợi của đối tượng "đặc biệt" này.
1.2. ảnh hưởng của những đặc điểm của người chưa thành niên đối với việc quy định các biện
pháp xử lý vi phạm hành chính
Pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói riêng có
những quy định rất đặc thù với đối tượng là người chưa thành niên vi phạm pháp luật.
Tiêu biểu phải kể đến Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, là một đạo luật chỉ
quy định những vấn đề liên quan đến trẻ em, trong đó có cả người chưa thành niên, gồm những
quy định chung, những quy định về quyền và nghĩa vụ của trẻ em cũng như của những đối
tượng liên quan đảm bảo mang lại cho trẻ em những điều tốt đẹp nhất: "Các quyền của trẻ em
phải được tôn trọng và thực hiện" (khoản 1 Điều 6); "Gia đình, Nhà nước và xã hội có trách
nhiệm bảo vê tính mạng, thân thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp
phòng ngừa tai nạn cho trẻ em" (khoản 1 Điều 26)…
Trong Bộ luật hình sự 1999, chương X là chương quy định riêng với người chưa thành
niên, gồm các quy định về nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội: "Việc truy
cứu trách nhiệm hình sự người chưa thành niên phạm tội và áp dụng các hình phạt đối với họ
được thực hiện chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào tính chất của hành vi phạm
tội, vào những đặc điểm về nhân thân và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm" (khoản 2 Điều
69), hoặc "không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội"
(khoản 5 Điều 69); hay quy định về hình phạt tiền: "mức phạt tiền đối với người chưa thành
niên phạm tội không quá một phần hai mức tiền phạt mà điều luật quy định"…
Trong Bộ luật Lao động, khi quy định về thời giờ làm việc của người lao động chưa
thành niên thì "Thời giờ làm việc của người lao động chưa thành niên không được quá bảy giờ
một ngày hoặc 42 giờ một tuần" (khoản 1 Điều 122), trong khi đối với người lao động đã thành
niên thời gian đó là "không quá 8 giờ trong một ngày hoặc 48 giờ trong một tuần" (khoản 1
Điều 68), quy định như vậy để đảm bảo tránh ảnh hưởng xấu đến sự phát triển về thể lực và trí
lực của người chưa thành niên, tránh tình trạng người chưa thành niên bị lạm dụng sức lao
động.
6
chưa thành niên.
Trong mối quan hệ với gia đình mà cụ thể là mối quan hệ với cha mẹ, sự hiểu biết của
cha mẹ về những thay đổi tâm sinh lí của con chưa thành niên có ý nghĩa rất quan trọng. Tuy
nhiên, sự hiểu biết này mới chỉ dừng lại ở những thay đổi bên ngoài, được thể hiện rõ nét trong
một thời gian dài; còn những thay đổi tâm sinh lí có tính chất bên trong thì cha mẹ ít quan tâm
7
hơn. Do đó khi ý thức của người chưa thành niên bị lệch lạc dẫn đến vi phạm pháp luật, cha mẹ
họ thường cho rằng nguyên nhân là do chính bản thân chúng gây ra, họ không hề phải chịu
trách nhiệm về điều đó, rất nhiều trong số đó bỏ mặc và không quan tâm đến đời sống của con
ở lứa tuổi này. Khi thiếu vắng tình cảm của cha mẹ, người chưa thành niên chỉ còn tìm thấy sự
cân bằng, an ủi của những người thân khác trong gia đình, họ hàng và bạn bè. Tuy nhiên điều
đó không phải lúc nào cũng có thể mang lại cảm giác thanh thản, yên ổn thật sự và có thể thay
thế tình cảm giữa cha mẹ và con cái trong gia đình. Khi đó, các em nhanh chóng tìm đến sự giải
toả tâm lí bằng những hành động thể hiện sự nông nổi, bồng bột của người chưa thành niên. Có
thể đưa ra một ví dụ về trường hợp của Trương Hữu Thân. Sinh năm 1992 tại Phong Điền
(Thừa Thiên Huế), Thân vốn là một cậu bé ngoan ngoãn sống hiếu thuận cùng gia đình. Nhưng
sau đó bố mẹ Thân chuyển vào Thành phố Hồ Chí Minh kiếm sống. Không còn sự quan tâm,
chăm sóc của bố mẹ, Thân dần bê trễ học hành và bước vào con đường ham mê cờ bạc rồi trộm
cắp vặt từ khi chưa đầy 12 tuổi. Sau đó, lại được gửi đến cho ông bà nội quản lí. Không dạy nổi
cháu, mỗi lần đi đâu vắng ông nội lại đào một cái hố rồi chôn đứng đứa cháu 12 tuổi xuống, khi về
lại đào lên. Sự việc kéo dài cho đến một đêm, thấy ông nội đã ngủ say và biết dưới gối của ông có
275.000 đồng Thân nghĩ đến chuyện lấy cắp, bị ông nội tỉnh dậy, phát hiện, tát mấy cái vào mặt,
Thân lẳng lặng bỏ đi ngủ nhưng đến 3 giờ sáng Thân đã dùng búa bổ củi bổ nhiều nhát vào mặt ông
khiến ông chết ngay tại chỗ. Hành vi của Thân là do cố ý nhưng ở độ tuổi này Thân chưa thể ý thức
được sự cố ý của mình. Chính hoàn cảnh gia đình (bố mẹ mải mê kiếm tiền, không quan tâm để ý;
ông nội ngược đãi) là nguyên nhân dẫn đến hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng của Thân. Có
rất nhiều người chưa thành niên chịu tác động tiêu cực từ chính gia đình dưới nhiều góc độ khác
nhau. Do đó, hành vi của Thân đã có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng (quy định tại
Điều 93 Bộ luật Hình sự) nhưng căn cứ vào đặc điểm nhân thân, Thân không phải chịu trách
nhiệm hình sự, thay vào đó bị áp dụng một trong những biện pháp xử lý vi phạm hành chính là
xử lí vi phạm hành chính quy định không áp dụng một số biện pháp cưỡng chế đối với người
chưa thành niên; khoản 2 Điều 25: "…Không đưa vào cơ sở giáo dục người chưa đủ 18
tuổi…", khoản 2 Điều 27: "Không áp dụng quản chế hành chính đối với người dưới 18 tuổi"
(hiện nay, theo Pháp lệnh sửa đổi một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, biện
pháp quản chế hành chính đã bị bãi bỏ).
Qua phân tích trên có thể thấy những đặc điểm về tâm sinh lí của người chưa thành niên
có ảnh hưởng rất quan trọng đến quy định pháp luật nói chung và pháp luật về xử lý vi phạm
hành chính nói riêng. Hiện tại và lâu dài, chúng ta cần phải dựa vào những đặc điểm này để xây
dựng và ngày càng hoàn thiện quy định của pháp luật, đảm bảo được mục đích của pháp luật là
phòng ngừa, ngăn chặn, giáo dục những người có hành vi vi phạm đồng thời bảo vệ quyền và
lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên.
9
Chương II
Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử lý
hành chính đối với người chưa thành niên
1. Quá trình hình thành các quy định pháp luật về biện pháp xử lý hành chính đối với
người chưa thành niên
Trải qua 40 năm kể từ khi những quy định đầu tiên về xử lý vi phạm hành chính ra đời,
pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đã và đang được xây dựng ngày càng hoàn thiện hơn về
mặt nội dung cũng như hình thức pháp lý. Tuy nhiên những quy định về xử lý vi phạm hành
chính đối với người chưa thành niên chỉ thực sự ra đời vào năm 1977 với Điều lệ xử phạt vi
cảnh được ban hành kèm theo NĐ 143/CP ngày 27/05/1977.
Trước đó, ngày 18/02/1967 Thủ tướng Chính phủ đã ra quyết định 217 TTg/NC về tổ
chức lại các trường giáo dục thiếu niên hư, trường phổ thông công nghiệp là tiền thân của
trường giáo dưỡng ngày nay. Đối tượng của quyết định này là những người chưa thành niên có
hành vi nguy hại cho xã hội và lưu manh chuyên nghiệp. Tuy nhiên đây lại là những đối tượng
phạm pháp hình sự.
Điều lệ xử phạt vi cảnh là văn bản đầu tiên quy định có hệ thống về xử phạt vi phạm
hành chính. Trong đó, Điều 6 quy định: "Đối với người dưới 14 tuổi thì giáo dục rồi báo cho
cha mẹ hay người có trách nhiệm nuôi dạy biết, yêu cầu họ phải thi hành trách nhiệm quản lý
thế cho Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính có hiệu lực từ ngày 01/08/1995. Ngoài việc quy
định về các biện pháp xử phạt, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 còn quy định về
việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác. Đây là điểm mới hoàn toàn so với những
quy định trước. Để thi hành pháp lệnh này Chính phủ đã ban hành 45 nghị định quy định cụ thể
về vấn đề xử phạt vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nước và 5 nghị định ban
hành các quy chế quy định chi tiết trình tự, thủ tục áp dụng các biện pháp xử lý hành chính
khác. Ngoài ra còn một khối lượng lớn những thông tư, chỉ thị hướng dẫn thi hành những quy
định của Pháp lệnh nhưng nhìn chung các quy định cụ thể về biện pháp xử lý vi phạm hành
chính với người chưa thành niên không nhiều. Điều 5 Pháp lệnh quy định về đối tượng bị xử lý
vi phạm hành chính, mà người chưa thành niên là một trong những đối tượng đó: "Người từ đủ
14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ chịu trách nhiệm hành chính về vi phạm hành chính do cố ý, người
từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hành chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây
ra (điểm a khoản 1). Quy định này được kế thừa từ Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm
1989. Điều 6 quy định riêng về xử lý người chưa thành niên vi phạm hành chính, trong đó mức
phạt tiền đối với người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi đã được nâng lên mức
cao hơn từ 10.000 đồng thành 50.000 đồng, mức phạt tiền đối với người chưa thành niên từ đủ
16 tuổi đến dưới 18 tuổi quy định là thấp hơn so với mức phạt đối với người thành niên mặc dù
không quy định là thấp hơn bao nhiêu. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 còn quy
định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người chưa thành niên do hành vi vi phạm hành
chính gây ra: "Người chưa thành niên khi vi phạm hành chính gây thiệt hại vật chất thì phải bồi
thường theo quy định của pháp luật" (khoản 2 Điều 6). Cha mẹ và người giám hộ vẫn phải có
trách nhiệm nộp phạt thay khi người chưa thành niên không có tiền nộp phạt. Việc quy định
11
thêm những biện pháp xử lý hành chính khác bên cạnh các biện pháp xử phạt hành chính như
trong Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính năm 1989 đã đạt được những kết quả đáng kể
trong việc ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm hành chính, đặc biệt là vi phạm hành chính do người
chưa thành niên gây ra. Có năm biện pháp xử lý hành chính khác nhưng chỉ có hai biện pháp
được áp dụng đối với người chưa thành niên là giáo dục tại xã, phường, thị trấn và đưa vào
trường giáo dưỡng. Còn các biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục; đưa vào cơ sở chữa bệnh và
quản chế hành chính không được áp dụng đối với người chưa thành niên.
2. Các Biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên theo pháp luật
hiện hành
Biện pháp xử lý vi phạm hành chính với người chưa thành niên theo pháp luật hiện
hành được quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản hướng
dẫn có liên quan.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 là kết quả của một quá trình lâu dài
không ngừng hoàn thiện các quy định của pháp luật, với mục đích "để đấu tranh phòng ngừa
và chống vi phạm hành chính, góp phần giữ vững an ninh trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ lợi ích
của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, tăng cường pháp chế xã hội chủ
nghĩa, nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước". Pháp lệnh gồm có 10 chương với 124 điều,
trong đó ngoài những quy định chung áp dụng cho cả người chưa thành niên, còn có các quy
định riêng áp dụng với đối tượng này như Điều 7- Xử lý người chưa thành niên vi phạm hành
chính, Điều 24 - Đưa vào trường giáo dưỡng. Từ khi Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm
2002 ra đời đã có rất nhiều các nghị định hướng dẫn chi tiết việc thực hiện những quy định của
Pháp lệnh, trong đó có các nghị định như Nghị định số 134/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính ban hành ngày 14/11/2003; Nghị
định số 142/2003/NĐ-CP quy định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào trường
giáo dưỡng ban hành ngày 24/11/2003; Nghị định số 163/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi
hành biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ban hành ngày 19/12/2003; Nghị định số
135/2004/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh, tổ chức hoạt
động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và chế độ áp dụng đối với
người chưa thành niên, người tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh ban hành ngày 10/06/2004…
Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh quy định: "Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi
phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác". Tuy nhiên không phải mọi biện
pháp xử lý vi phạm hành chính đều được áp dụng với người chưa thành niên.
2.1. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên là hoạt động của các chủ thể
có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt vi phạm hành chính,
quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên từ
đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
đối với họ thì mức tiền phạt không được quá một phần hai mức phạt đối với người thành niên".
Pháp lệnh quy định không áp dụng hình thức phạt tiền đối với người chưa thành niên dưới 16
tuổi. Đây là điểm mới của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 so với Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính năm 1995. Người chưa thành niên từ đủ 16 tuổi được coi là đã có khả
năng nhận thức đầy đủ hơn về hành vi của mình, khi vi phạm hành chính do họ gây ra không
phải là những "vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ", có nghĩa là họ đã nhiều
lần vi phạm, hoặc những vi phạm này gây ra hậu quả lớn mà không có tình tiết giảm nhẹ, thì
việc phạt cảnh cáo chỉ mang tính chất răn đe không thể phát huy được hiệu quả trong việc ngăn
14
chặn, phòng ngừa vi phạm hành chính, do đó họ phải bị áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là
phạt tiền. "Nếu người chưa thành niên không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc người giám hộ
phải nộp thay", việc quy định như vậy buộc cha mẹ hoặc người giám hộ phải có trách nhiệm
nhiều hơn với người chưa thành niên là con hoặc là người được mình giám hộ.
Thẩm quyền ra quyết định áp dụng hình thức xử phạt tiền được quy định tại chương IV
của Pháp lệnh.
Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt tiền là thủ tục đơn giản (trong trường hợp phạt tiền
từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng), và thủ tục xử phạt có lập biên bản (trong trường hợp phạt
tiền từ trên 100.000 đồng trở lên).
2.1.3. Các hình thức xử phạt bổ sung
Ngoài hai hình thức xử phạt chính trên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm người
chưa thành niên còn có thể bị áp dụng một trong những hình thức xử phạt bổ sung: "tước quyền
sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề" hoặc "tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để
vi phạm hành chính". Đây là những hình thức xử phạt bổ sung, vì vậy chúng không được áp
dụng một cách độc lập mà luôn được áp dụng kèm theo với hình thức xử phạt chính. Cụ thể:
- Tước quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề quy định tại Điều 16: "Tước
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không có thời hạn được áp
dụng đốí với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử dụng giấy phép, chứng chỉ
hành nghề…".
Người chưa thành niên có thể là đối tượng bị áp dụng hình thức xử phạt này. Theo quy
định tại Điều 22, Bộ luật Lao động 2002: "Người học nghề ở cơ sở dạy nghề ít nhất phải được
Thẩm quyền, thủ tục áp dụng hình thức xử phạt này được pháp luật quy định cụ thể.
2.2. Các biện pháp xử lý hành chính khác
Theo quy định của pháp luật hiện hành có bốn biện pháp xử lý hành chính khác, gồm:
giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục và đưa
vào cơ sở chữa bệnh (biện pháp quản chế hành chính đã bị bãi bỏ theo quy định của Pháp lệnh
số 31/2007/PL-UBTVQH 11 ngày 08/03/2007 sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử
lý vi phạm hành chính).
Trong số bốn biện pháp trên thì có tới ba biện pháp cũng được quy định áp dụng với
người chưa thành niên là giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo dưỡng và đưa
vào cơ sở chữa bệnh.
2.2.1. Giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Giáo dục tại xã, phường, thị trấn được quy định tại Điều 23, một số điều khác trong
Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành như Nghị định số 163/2003/NĐ-CP ngày
19/12/2003; Thông tư số 22/2004/TT-BCA của Bộ công an; Quyết định số 1522/2005/QĐ-
BCA ngày 27/10/2005…
Đối tượng người chưa thành niên bị áp dụng biện pháp này gồm:
16