TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 38 (2012 – 2015)
Đề tài:
XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH ĐỐI
VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN-LÝ
LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Giảng viên hướng dẫn:
Sinh viên thực hiện:
Ths. Võ Duy Nam
Nguyễn Thị Phương
Bộ môn Luật Hành Chính
MSSV: S120065
Lớp: Luật vb2 - K38
Cần Thơ, Tháng Năm 2014
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
2.2.2 Các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên ...................... 18
2.2.2.1 Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn ................................................... 19
2.2.2.2 Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng........................................................... 21
2.2.3 Một số biện pháp ngăn chặn và đảm bảo xử lý vi phạm hành chính đối với
người chưa thành niên ............................................................................................. 23
2.3 Các biện pháp thay thế xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên.. 24
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
2.3.1 Biện pháp nhắc nhở........................................................................................... 24
2.3.2 Biện pháp quản lý tại gia đình ........................................................................ 25
CHƯƠNG 3 THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CÁC QUY
ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VỀ CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH
CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN................................................. 27
3.1 Thực tiễn xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên tại thị trấn Lấp
Vò, huyện Lấp Vò, tỉnh Đồng Tháp. .......................................................................... 27
3.2.2.2 Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng........................................................... 31
3.3 Giải pháp hoàn thiện quy định của pháp luật về xử lý hành chính đối với người chưa
thành niên ................................................................................................................... 33
3.3.1 Nguyên nhân dẫn đến tình trạng vi phạm pháp luật của người chưa thành niên
................................................................................................................................ 33
3.3.2 Giải pháp hoàn thiện nâng cao hiệu quả trong việc xử lý người chưa thành niên
vi phạm hành chính. ................................................................................................ 34
3.2.2.1 Nâng cao hiệu quả; khắc phục khó khăn, vướng mắc trong thực tiễn áp
dụng các quy định của pháp luật đối với người chưa thành niên. ............................ 34
3.3.2.2 Một số giải pháp nhằm hạn chế vi phạm pháp luật đối với người chưa thành
của người chưa thành niên. Đồng thời phòng, chống, ngăn ngừa và tuyên truyền có hiệu
quả những hành vi vi phạm của các đối tượng là người chưa thành niên. Pháp luật xử lý
hành chính được Quốc hội thông qua ngày 20 tháng 6 năm 2012, có hiệu lực ngày 01
tháng 7 năm 2013 đã mang lại lợi ích rất thiết thực trong quá trình thực thi pháp luật.
Đảm bảo quyền lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, tình trạng người chưa thanh
niên vi phạm pháp luật ngày càng gia tăng. Vì vậy đòi hỏi cần có một cơ sở pháp lý quy
định rõ ràng, phù hợp để phát huy hiệu quả cao trong quá trình áp dụng. Góp phần ngăn
ngừa, đấu tranh, phòng chống những hành vi vi phạm pháp luật do chủ thể vi phạm nói
chung và chủ thể có hành vi vi phạm pháp luật là người chưa thanh niên nói riêng.
Trước thực trạng người chưa thành niên vi phạm pháp luật hành chính ngày càng
gia tăng. Vì vậy người viết chọn đề tài Xử lý hành chính đối với người chưa thành niênLý luận và thực tiễn nhằm tuyên truyền, phổ biến cho người chưa thành niên hiểu được
những quy định của pháp luật. Qua đó trên cơ sở những quy định của pháp luật người viết
tìm hiểu các quy định riêng, cụ thể về vấn đề xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa
thanh niên vi phạm pháp luật và đề xuất giải pháp hạn chế tình trạng người chưa thành
niên vi phạm.
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
1
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
2. Mục đích nghiên cứu
Người viết nghiên cứu luận văn nhằm tuyên truyền cho người chưa thành niên
hiểu tìm hiểu những quy định của pháp luật về việc áp dụng các biện pháp xử lý hành
chính đối với người chưa thành niên. Theo quy định của pháp luật về xử lý hành chính thì
những đối tượng này bị xử lý như thế nào khi vi phạm. Đồng thời nêu lên những giải pháp
2
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆC QUY ĐỊNH CÁC BIỆN PHÁP XỬ LÝ
HÀNH CHÍNH ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
1.1 Khái niệm vi phạm hành chính, xử lý vi phạm hành chính
Pháp luật xử lý vi phạm hành chính là vấn đề quan trọng cần được quan tâm đối
với hoạt động quản lý Nhà nước. Đồng thời là cơ sở của việc xử lý vi phạm hành chính.
Để việc xử lý vi phạm hành chính có cơ sở thì phải có hành vi vi phạm hành chính được
pháp luật quy định. Vì vậy nghiên cứu về khái niệm vi phạm hành chính là rất cần thiết và
có ý nghĩa quan trọng, mang tính thực tiễn sâu sắc. Như vậy cần hiểu rõ vấn đề, xác định
các hành vi vi phạm cụ thể trong từng lĩnh vực quản lý Nhà nước, từ đó phát huy hiệu quả
và thể hiện rõ mục đích của việc xử lý vi phạm hành chính. Nhằm đảm bảo trật tự quản lý
Nhà nước, cũng như quyền và lợi ích của tổ chức, cá nhân không bị xâm hại. Góp phần
phòng ngừa vi phạm hành chính.
1.1.1 Khái niệm vi phạm hành chính
Khái niệm vi phạm hành vi phạm hành chính được định nghĩa tại Điều 1 Pháp
lệnh xử phạt vi phạm hành chính ngày 30 tháng 11 năm 1989 quy định như sau: “Vi phạm
hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm
quy tắc quản lý Nhà nước mà không phải là tội phạm hình sự và theo quy định của pháp
luật phải xử phạt vi phạm hành chính”. Bên cạnh pháp lệnh xử phạt hành chính năm 1989
thì Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995 và đến pháp lệnh xử lý hành chính năm 2002
sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) không sử dụng khái niệm vi phạm hành chính mà là xử
lý vi phạm hành chính.
Theo luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành được Quốc hội thông qua ngày
Theo pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007,
2008) thì “xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện
pháp xử lý hành chính khác”2. Như vậy bản chất của hoạt động xử lý vi phạm hành chính
là áp dụng một số biện pháp cưỡng chế hành chính do pháp luật quy định. Việc xác định
cưỡng chế hành chính Nhà nước do cơ quan hoặc người có thẩm quyền quyết định và áp
dụng theo thủ tục hành chính đối với chủ thể có hành vi vi phạm hành chính.
Vi phạm hành chính, xử phạt vi phạm hành chính, áp dụng các biện pháp hành
chính khác đều thuộc xử lý vi phạm hành chính. Xử lý vi phạm hành chính là một khái
niệm rộng bao gồm xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính.
“Xử phạt vi phạm hành chính là việc người có thẩm quyền xử phạt áp dụng
hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành vi
vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính”3 . Theo
quy định tại khoản 2 Điều 2 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 ta thấy xử phạt vi
phạm hành chính có các điểm sau:
Thứ nhất, xử phạt vi phạm hành chính là hoạt động quản lý Nhà nước, mang
tính chất quyền lực của Nhà nước do chủ thể có thẩm quyền thực hiện.Thứ hai, “ chỉ xử
phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi phạm hành chính do pháp luật quy định”4. Hay
nói cách khác điều kiện để xử phạt vi phạm hành chính thì điều kiện đầu tiên là phải có
hành vi vi phạm hành chính do luật định. Vì khi có một hành vi vi phạm pháp luật xảy ra
thì chủ thể có thẩm quyền phải xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi đó gây ra
cho xã hội. Đồng thời xem đó có phải là hành vi vi phạm hành chính hay không và việc
việc xử phạt hành chính đó phải tuân theo trình tự, thủ tục mà luật quy định.
Bên cạnh việc xử phạt vi phạm hành chính thì “Biện pháp xử lý hành chính là
biện pháp được áp dụng đối với cá nhân vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự, an toàn xã
hội mà không phải là tội phạm, bao gồm biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa
vào trường giáo dưỡng; đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc và đưa vào cơ sở cai nghiện bắt
buộc”5. Nếu xử phạt vi phạm hành chính áp dụng đối với cá nhân, tổ chức thực hiện hành
2
Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh xử lý hành chính năm 2002
phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn về quyền khởi kiện vụ án, quy định tại Điều 161
Bộ luật Tố tụng dân sự:.
“ Đối với cá nhân là người từ đủ 15 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi không mất năng
lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động
hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, thì có thể tự mình hoặc nhờ người
khác làm hộ đơn khởi kiện vụ án về tranh chấp có liên quan đến hợp đồng lao động
hoặc giao dịch dân sự đó…”; Điều 68 Bộ Luật Hình sự năm 1999 quy định: “ Người
chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội phải chịu trách nhiệm hình
sự…”. Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2003 cũng đề cập đến người chưa thành niên là
người dưới 18 tuổi. Mặc dù xác định độ tuổi của người chưa thành niên là dưới 18 tuổi
nhưng mỗi ngành luật lại có những quy định khác nhau về người chưa thành niên. Bên
cạnh đó căn cứ vào đặc điểm tâm, sinh lý và ý thức của người chưa thành niên bị điều
chỉnh bởi những quy định của từng ngành luật cụ thể khi tham gia vào các quan hệ xã
hội.
Khi nghiên cứu khái niệm người chưa thanh niên cần biệt biệt khái niệm này với
khái niệm trẻ em. Theo điều 1 Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004 quy định: “Trẻ
em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”. Khác với độ tuổi của người chưa thanh niên được
quy định tại Điều 18 Bộ luật Dân sự, Điều 68 Bộ luật Hình Sự và quy định trong Bộ luật
tố tụng Hình sự năm 2003 quy định người chưa thành niên là người dưới 18 tuổi. Vậy ta
thấy đã có sự khác biệt về độ tuổi.
Theo Công ước về quyền trẻ em năm 1989 quy định: “Trẻ em là người dưới 18
tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có quy định tuổi thành niên sớm
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
5
SVTH: Nguyễn Thị Phương
độ tuổi chỉ là yếu tố thời gian trong quá trình phát triển của con người và đối với người
chưa thanh niên đây là giai đoạn sắp bước vào ngưỡng cửa của người thành niên nhưng
chưa phải là người đã thanh niên. Đây là giai đoạn trưởng thành để cơ thể phát triển, mở
rộng mối quan hệ xã hội…
1.2.2.1 Đặc điểm sinh lý
Thời kỳ này, biểu hiện bên ngoài của các em chúng ta trông thấy tầm vóc của các
em lớn lên rất rõ rệt. Đây là giai đoạn phát triển rất mạnh mẽ nhưng không đồng đều về
mặc cơ thể. Mặc dù ở cùng giai đoạn phát triển nhưng có sự khác nhau ở nam và nữ. Đối
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
6
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
với nữ ở độ tuổi 12 đến13 tuổi thì các em nữ phát triển hơn các em nam về chiều cao,
nhưng đến độ tuổi 14 đến 15 tuổi thì các em nam phát triển hơn các em nữ.
Sự tăng trưởng của các tuyến nội tiết đã thúc đẩy phát triển các bộ phận cơ thể
trưởng thành theo một trình tự nhất định. Bên cạnh đó sự phát triển của của hệ xương và
chủ yếu là sự phát triển của xương tay, xương chân rất nhanh còn xương các ngón tay
chưa phát triển chậm. Vì thế các em ở độ tuổi này còn vụn về, chưa khóe léo và thiếu thận
trọng hay làm đổ vỡ khi làm việc.
Sự phát triển của hệ thống tim mạch cũng không cân đối. Thể tích của tim tăng
rất nhanh…Do đó có một số rối loạn về hệ tuần hoàn, tăng huyết áp, tim đập nhanh, gây
nhức đầu, chóng mặt khi làm việc…
Hệ thần kinh chưa có khả năng chịu kích thích mạnh, kéo dài… Do tác động của
những kích thích như vậy nên thường gây cho các em tình trạng bị ức chế hay bị kích
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
phát triển trong giai đoạn này sẽ khó tránh khỏi gặp khó khăn vấn đề tâm, sinh lý. Bên
cạnh đó những ảnh hưởng của môi trường xung quanh, yếu tố của xã hội mà quá trình
nhận thức của các em về xã hội, pháp luật vẫn còn hạn chế. Do đó khiến cho người chưa
thành niên không khỏi mắc những sai lầm, có thể dẫn đến việc vi phạm pháp luật.
Như vậy việc nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên giúp ta
hiểu thêm về quá trình phát triển tâm, sinh lý của con người trải qua nhiều giai đoạn phát
triển và ở mỗi giai đoạn có những đặc điểm khác nhau. Qua việc nghiên cứu những đặc
điểm tâm, sinh lý người chưa thành niên giúp ta hiểu được cở sở khoa học của việc xây
dựng những quy định của pháp luật. Luật xử lý vi phạm hành chính đề cập đến đối tượng
là người chưa thành niên và giành một chương riêng quy định về đối tượng này. Do đó
việc nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên là vấn đề rất quan trọng
liên quan đến rất nhiều lĩnh vực khác.
Tóm lại việc nghiên cứu đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên giúp ta
hiểu được những đặc điểm này có ảnh hưởng không nhỏ đến quy định của pháp luật áp
dụng riêng cho người chưa thành niên và đối với người chưa thành niên khi trở thành đối
tượng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì pháp luật có những quy định, đảm bảo
việc bảo vệ quyền lợi cho đối tượng này phù hợp, hiệu quả khi xem xét đặc điểm tâm, sinh
lý của người chưa thành niên.
1.3 Những ảnh hưởng đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên đối
với việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
Người chưa thành niên là đối tượng rất được quan tâm, vì vậy việc pháp luật quy
định về người chưa thành niên vi phạm pháp luật là vấn đề rất đặc biệt và quan trọng.
Không những riêng pháp luật Việt Nam mà cả pháp luật của các nước trên thế giới đều
quan tâm đến vấn đề này.
Theo pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật xử lý vi phạm hành chính nói
riêng, ở nước ta hiện nay đối tượng vi phạm pháp luật là người chưa thành niên ngày càng
Những quy định ở mỗi ngành luật khác nhau có những quy định cụ thể về mức độ
vi phạm. Luật xử lý hành chính cũng có những quy định đối với đối tượng là người chưa
thành niên vi phạm hành chính. Ở đây chúng ta cần phận biệt vi phạm hành chính với một
số vi phạm khác như: Vi phạm hành chính khác với vi phạm hình sự ở mức độ nguy hiểm
của hành vi vi phạm. Vi phạm hình sự được xử lý theo trình tự, thủ tục tư pháp còn vi
phạm hành chính thuộc thẩm quyền của cơ quan hành chính Nhà nước và theo thủ tục
hành chính. Vi phạm hành chính khác với vi phạm dân sự như: vi phạm hành chính xâm
phạm đến các quyền liên quan đến quản lý hành chính Nhà nước còn vi phạm dân sự xâm
phạm đến quyền của chủ thể người bị thiệt hại.
Trở lại các biện pháp xử lý hành chính đối với người chưa thành niên. Vi phạm
hành chính chỉ có thể được áp dụng khi chủ thể vi phạm có khả năng nhận thức, có khả
năng điều khiển hành vi của mình và phải đạt đến độ tuổi nhất định. Đồng thời hành vi
thực hiện là hành vi trái pháp luật.
Người chưa thành niên là người chưa phát triển hoàn toàn về thể chất và tinh
thần, phần lớn người chưa thành niên là người không có thu nhập, không có tài sản riêng
và đa số sống phụ thuộc vào gia đình. Vì vậy những quy định của pháp luật về xử lý vi
phạm hành chính phải phù hợp với những đặc điểm đặc thù của đối tượng là người chưa
thành niên. Khi áp dụng pháp luật xử lý hành chính vào thực tiễn đảm bảo tính khả thi của
những quy định do luật định.
Theo khoản 2 Điều 143 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: “Việc xử lý
người chưa thành niên vi phạm hành chính còn căn cứ vào khả năng nhận thức của người
chưa thành niên về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi vi phạm, nguyên nhân và
hoàn cảnh vi phạm để quyết định việc xử phạt hoặc áp dụng biện pháp xử lý hành chính
phù hợp”7. Ở khoản 3 Điều này cũng có quy định: “Việc áp dụng hình thức xử phạt, quyết
6
7
Khoản 3 Điều 69 Bộ luật hình sự năm 1999
Khoản 2 Điều 143 Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012
không thể tự mình đưa ra một cách giải quyết đúng đắng. Từ đó sẽ có những suy nghĩ sai
trái và hành động một cách nông nổi dẫn đến những sai lầm đáng tiếc có thể xảy ra đối với
lứa tuổi này.
Ngoài mối quan hệ với gia đình thì bạn bè và những tác động của xã hội là những
nhân tố ảnh hưởng rất nhiều đến người chưa thành niên. Tình trạng thường gặp ở lứa tuổi
này và xảy ra phổ biến hiện nay là các em thường bị bạn bè lôi kéo, rủ rê. Chỉ vì nghe theo
bạn bè mà các em có những hành động sai trái vi phạm pháp luật như: gây rối trật tự công
cộng, nghiện ma túy…Đặc biệt ở giai đoạn này các em ý thức là mình đã lớn, muốn tìm
hiểu những điều mới lạ ở xung quanh và muốn tự giải quyết vấn đề theo cách hiểu của
chính mình. Trong khi nhận thức của các em phần lớn chưa đúng bản chất của vấn đề. Vì
vậy dễ dẫn đến những suy nghĩ sai lầm và gây ra những hậu quả nghiêm trọng ảnh hưởng
đến tinh thần, thể chất của các em cũng như việc nhận thức một cách đúng đắng về mọi
việc xảy ra xung quanh các em.
8
Khoản 3 Điều 143 Luật xử lý Vi phạm hành chính năm 2012
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
10
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
Như vậy đặc điểm tâm, sinh lý của người chưa thành niên là nhân tố rất quan
trọng, ảnh hưởng rất nhiều đến việc quy định của pháp luật nói chung và Luật xử lý vi
phạm hành chính nói riêng. Vì vậy khi xây dựng pháp luật cần quan tâm đến đặc điểm
“ Đối với người dưới 16 tuổi thì giáo dục rồi báo cáo cho cha, mẹ hay người có trách
nhiệm nuôi dạy biết, yêu cầu họ phải có trách nhiệm quản lý, giáo dục con em họ. Đối với
người từ đủ 14 tuổi đến 16 tuổi thì nặng nhất là phạt tiền. Đối với người từ đủ 16 tuổi đến
17 tuổi không có tài sản riêng, cha mẹ hay người có trách nhiệm nuôi dạy phải nộp thay”.
Như vậy quy định của Điều 6 Điều lệ xử phạt Vi cảnh chỉ quy định về xử phạt vi
phạm hành chính trong lĩnh vực giữ gìn trật tự, an toàn xã hội. Đối tượng bị xử phạt ở điều
6 (Điều lệ xử phạt Vi cảnh) là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi vi phạm hành chính thì
có thể phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền, đối tượng từ đủ 16 đến 17 tuổi có thể bị phạt cảnh
cáo, phạt tiền hoặc lao động công ích, phạt giam như người lớn.
Nhìn chung Điều lệ xử phạt vi cảnh chưa có nhiều quy định đối với người chưa
thành niên, phạm vi điều chỉnh còn hạn chế. Vì vậy Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính
do Hội đồng Nhà nước ban hành ngày 30 tháng 11 năm 1989, có hiệu lực ngày 01 tháng
01 năm 1990 đã đánh dấu một bước phát triển mới trong quá trình xây dựng và hoàn thiện
chế định pháp luật trong lĩnh vực này.
Ở pháp lệnh xử phạt hành chính năm 1989 đã đưa những quy định về các vấn đề
cơ bản manh tính nguyên tắc về xử phạt vi phạm hành chính tập trung ở một văn bản cụ
thể, làm tiền đề xây dựng những văn bản quy định các hành vi vi phạm hành chính một
cách cụ thể hơn đối với hình thức cũng như mức xử phạt trong các lĩnh vực quản lý của
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
12
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
Nhà nước. Bên cạnh đó những quy định đối với người chưa thành niên cũng được kế thừa
và tiếp tục phát huy.
đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi mà chỉ phạt cảnh cáo với đối tượng này. Đồng thời với các
biện pháp xử lý hành chính khác ở pháp lệnh này vẫn kế thừa các biện pháp xử lý hành
chính khác của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995. Tuy nhiên trong các biện
pháp xử lý hành chính khác có ba biện pháp được áp dụng đối với người chưa thành niên.
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
13
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
Nếu ở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 chỉ áp dụng hai biện pháp trong các
biện pháp xử lý hành chính khác đã được quy định, thì ở pháp lệnh năm 2002 (sửa đổi bổ
sung năm 2007, 2008) bổ sung thêm một biện pháp đưa vào cơ sở chữa bệnh.
Để việc áp những quy định của pháp luật ngày càng hoàn thiện hơn trong thực
tiễn và giải quyết những vấn đề còn khó khăn vướng mắc trong quá trình thực thi pháp
luật. Ngày 20 tháng 6 năm 2012 Quốc hội thông qua Luật xử lý vi phạm hành chính năm
2012, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2013. Luật xử lý vi phạm hành chính đã giành
một chương riêng để quy định về việc xử lý hành chính đối với người chưa thành niên.
Những quy định trong Luật xử lý hành chính năm 2012 có một số điểm mới so với pháp
lệnh năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) như sau:
Luật xử lý vi phạm hành chính bỗ sung đối tượng áp dụng biện pháp giáo dục tại
xã, phường, thị trấn là người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu
của một tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự và người từ đủ 14
tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố
ý quy định tại Bộ luật hình sự. Bên cạnh đó đối với đối tượng là người chưa thành niên
không có nơi cư trú ổn định theo Luật xử lý vi phạm hành chính thì đối tượng này được
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
2.2.1.1 Các hình thức xử phạt hành chính đối với người chưa thành niên
2.2.1.1.1 Phạt cảnh cáo
Theo Điều 22 Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành: “Cảnh cáo được áp
dụng đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính không nghiêm trọng, có tình tiết giảm
nhẹ và theo quy định thì bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo hoặc đối với mọi hành vi
vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện.
Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản” 10 . Đối với Pháp lệnh xử lý hành chính năm
2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008), tại Điều 13 quy định: “Cảnh cáo được áp dụng
đối với cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình tiết giảm nhẹ hoặc đối
với mọi hành vi vi phạm hành chính do người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi thực hiện. Cảnh cáo được quyết định bằng văn bản”11.
Bên cạnh đó tại điểm a khoản 1 Điều 5 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
“Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi bị xử phạt vi phạm hành chính về vi phạm hành
chính do cố ý; người từ đủ 16 tuổi trở lên bị xử phạt vi phạm hành chính về mọi vi phạm
hành chính”12. Như vậy theo các quy định trên thì việc áp dụng hình thức phạt cảnh cáo
đối với đối tượng là người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi. Những đối
tượng ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi chỉ phạt cảnh cáo khi thỏa mãn điều kiện
như: Thực hiện hành vi vi phạm hành chính và thực hiện hành vi đó do lỗi cố ý. Vậy đối
tượng người chưa thành niên dưới 14 tuổi trong mọi trường hợp không áp dụng hình thức
phạt cảnh cáo.
Hình thức phạt cảnh cáo là hình thức khiển trách công khai đối với người chưa
thành niên vi phạm hành chính trong hoạt động quản lý của Nhà nước. Hình thức xử phạt
này không có yếu tố vật chất nhưng gây ảnh hưởng về mặt tinh thần của chủ thể vi phạm.
Với hình thức xử phạt này giúp ngăn ngừa, phòng chống những vi phạm có thể xảy ra.
Thủ tục áp dụng là thủ tục đơn giản không lập biên bản mà chỉ ra quyết định xử phạt.
Thẩm quyền xử phạt vi phạm tùy thuộc vào mức độ vi phạm và lĩnh vực quản lý của các
chủ thể có thẩm quyền. Thẩm quyền xử phạt được quy định tại chương II, phần thứ hai
của Luật xử lý vi phạm hành chính.
lường; sở hữu trí tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán;
hạn chế cạnh tranh theo quy định tại các luật tương ứng. Vậy so với pháp lệnh xử lý vi
phạm hành chính 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008) mức phạt tiền tối đa và tối thiểu
ở luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành đã nâng mức phạt tối thiểu từ 10.000 đồng lên
50.000 đồng, mức phạt tối đa từ 500.000.000 đồng lên 1.000.000.000 đồng đối với cá
nhân và 2.000.000.000 đồng đối với tổ chức.
Luật xử lý vi phạm hành chính cũng kế thừa những quy định về mức phạt tiền tối
đa trong lĩnh vực hoạt động của nhà nước. Đa số các mức phạt tối đa đều được nâng lên
cho phù hợp với tính chất và mức độ vi phạm trong các lĩnh vực: Trong lĩnh vực an ninh
trật tự mức phạt tối đa ở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung
năm 2007, 2008) là 30.000.000 đồng thì ở luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành nâng
lên 40.000.000 đồng; lĩnh vực đường thủy nội địa mức phạt từ 40.000.000 đồng nâng lên
75.000.000 đồng; giao thông đường sắt mức phạt tối đa từ 70.000.000 đồng ngâng lên
75.000.000 đồng….Mức phạt tiền tối đa trong lĩnh vực quản lý Nhà nước đối với tổ chức
bằng 2 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Trong các lĩnh vực thuế; đo lường; sở hữu trí
tuệ; an toàn thực phẩm; chất lượng sản phẩm, hàng hóa; chứng khoán; hạn chế cạnh tranh
theo quy định tại các luật tương ứng.
Đối với người chưa thành niên thì hình thức phạt tiền được quy định đối với đối
tượng từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi vi phạm hành chính thì mức tiền phạt không quá 1/2
mức tiền phạt áp dụng đối với người thành niên; trường hợp không có tiền nộp phạt hoặc
không có khả năng thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả thì cha mẹ hoặc người giám hộ
phải thực hiện thay. Như vậy ở giai đoạn này khả năng nhận thức của người chưa thành
niên còn hạn chế trong suy nghĩ và hành động. Việc người chưa thanh niên không có khả
năng nộp tiền phạt, thì cha mẹ, người giám hộ phải nộp thay. Với những quy định này
phần nào tác động đến cha mẹ hoặc người giám hộ của người chưa thành niên có trách
nhiệm hơn trong việc quan tâm dạy bảo các em tuân thủ những quy định của pháp luật.
Hình thức phạt tiền và thẩm quyền xử phạt được quy định tại Chương II, Phần II
Luật xử lý vi phạm hành chính. Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt tiền là thủ tục đơn giản.
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
những tang vật, phương tiện này bị tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước. Nếu các tang
vật và phương tiện đó không thuộc sở hữu của người chưa thành niên, các đối tượng này
có được là do chiếm đoạt, sử dụng trái phép thì cơ quan có thẩm quyền không được tịch
thu sung vào Ngân sách Nhà nước mà phải trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý,
người sử dụng hợp pháp. Bên cạnh đó việc xử lý tang vật, phương tiện vi phạm hành
chính bị tịch thu được thực hiện theo Điều 82 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định:
Tùy từng loại tang vật mà việc xử lý được luật quy định cụ thể. Việc xử lý này rất phức
tạp và mất nhiều thời gian so với hình thức phạt cảnh cáo và phạt tiền. Tại khoản 1 Điều
82 Luật xử lý vi phạm hành chính quy định: Đối với tang vật vi phạm hành chính là tiền
Việt Nam, ngoại tệ, chứng chỉ có giá, vàng, bạc, đá quý, kim loại quý thì phải nộp vào
ngân sách nhà nước; Đối với giấy tờ, tài liệu, chứng từ liên quan tới tang vật, phương tiện
vi phạm hành chính thì chuyển cho cơ quan được giao quản lý, sử dụng tài sản theo quy
định; Đối với tang vật, phương tiện vi phạm hành chính là ma túy, vũ khí, vật liệu nổ,
13
Điều 26 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
17
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
công cụ hỗ trợ, vật có giá trị lịch sử, giá trị văn hoá, bảo vật quốc gia, cổ vật, hàng lâm sản
quý hiếm, vật thuộc loại cấm lưu hành và tài sản khác thì chuyển giao cho cơ quan quản lý
nhà nước chuyên ngành để quản lý, xử lý theo quy định của pháp luật; Đối với tang vật,
phương tiện vi phạm hành chính đã được cấp có thẩm quyền ra quyết định chuyển giao
2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007, 2008).
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
18
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
Luật xử lý vi phạm hành chính hiện hành có bốn biện pháp xử lý hành chính gồm
các biện pháp sau:
Một là, Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Hai là, Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng
Ba là, Biện pháp đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc
Bốn là, Biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc
Tuy nhiên việc áp dụng các biện pháp xử lý hành chính khác này với đối tượng là
người chưa thành niên vi phạm thì theo quy định của luật chỉ có hai biện pháp được áp
dụng: Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và Biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng.
2.2.2.1 Biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn
Đối tượng giáo dục tại xã, phường, thị trấn được áp dụng đối với người chưa
thành niên được quy định tại khoản 1, khoản 2 và khoản 3 Điều 90 Luật xử lý vi phạm
hành chính:
1. Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
2. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự.
3. Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng có hành vi
cha mẹ người giám hộ quản lý, trường hợp không có nơi cư trú ổn định thì phải ở tại cơ sở
bảo trợ xã hội hoặc cơ sở trợ giúp trẻ em.
Vậy với biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn thì, đối tượng là người chưa
thành niên vi phạm hành chính không bị cách li với cộng đồng mà được địa phương giáo
dục quản lý. Vì vậy chính quyền địa phương phải có những biện pháp giáo dục phù hợp và
việc hỗ trợ từ phía gia đình của các đối tượng vi phạm cũng rất quan trọng trong việc giáo
dục, giúp đỡ các em nhận thức, đúng đắn hơn về những việc làm của mình. Để từ đó các
em tự khắc phục sửa chữa những sai lầm.
Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn do
chủ tịch UBND xã có thẩm quyền quyết định áp dụng Biện pháp giáo dục tại xã, phường,
thị trấn (khoản 1 Điều 105 Luật xử lý vi phạm hành chính).
Thủ tục lập hồ sơ đề nghị và quyết định áp dụng Biện pháp giáo dục tại xã,
phường thị trấn được quy định tại Điều 97, 98 Luật xử lý vi phạm hành chính: Trưởng
Công an cấp xã nơi người vi phạm thuộc đối tượng quy định của Luật này cư trú hoặc nơi
họ có hành vi vi phạm pháp luật tự mình hoặc theo đề nghị của Chủ tịch Uỷ ban Mặt trận
Tổ quốc cấp xã hoặc đại diện cơ quan, tổ chức, đơn vị dân cư ở cơ sở lập hồ sơ đề nghị áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn; Trong trường hợp người vi phạm do cơ
quan Công an cấp huyện hoặc Công an cấp tỉnh trực tiếp phát hiện, điều tra, thụ lý trong
các vụ vi phạm pháp luật, nhưng chưa đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự mà thuộc đối
tượng này thì cơ quan Công an đang thụ lý vụ việc tiến hành xác minh, thu thập tài liệu và
lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn đối với người đó.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định, cơ quan đã lập hồ sơ phải gửi cho
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã, đồng thời thông báo cho người bị áp dụng và cha mẹ
hoặc người giám hộ về việc lập hồ sơ. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ
đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã
giao công chức tư pháp - hộ tịch kiểm tra hồ sơ và tổ chức cuộc họp tư vấn.
Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp xã chủ trì cuộc họp tư vấn với sự tham gia của
Trưởng Công an cấp xã, công chức tư pháp - hộ tịch, đại diện Ủy ban Mặt trận Tổ quốc
Việt Nam và một số tổ chức xã hội cùng cấp có liên quan, đại diện dân cư ở cơ sở. Người
bị đề nghị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn và cha mẹ hoặc người đại
phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự mà trước đó đã bị áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi 02 lần trở lên trong 06 tháng thực hiện hành
vi trộm cắp, lừa đảo, đánh bạc, gây rối trật tự công cộng mà chưa đến mức truy cứu trách
nhiệm hình sự và trước đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn.
Luật xử lý vi phạm hành chính cũng kế thừa pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính
đối với Biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng áp dụng đối với người chưa thành niên.
Việc áp dụng biện pháp này xuất phát từ lợi ích của đối tượng là người chưa thành niên có
hành vi vi phạm pháp luật. Việc áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng nhằm cách
ly các em khỏi môi trường xã hội trong một thời gian nhất định để quản lý, giáo dục và tạo
dựng cho các em một môi trường mới, giúp các em sửa chữa những sai phạm của mình.
Qua đó cũng tạo cho các em có điều kiện học văn hoá, giáo dục pháp luật, hướng nghiệp,
dạy nghề và sinh hoạt lành mạnh.
So với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (sửa đổi bổ sung năm 2007,
2008). Đối tượng đưa vào trường giáo dưỡng tại điều 24 của Pháp lệnh này thì Luật xử lý
vi phạm hành chính quy định một số điểm mới hơn đối với đối tượng là người chưa thành
niên bị áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo dưỡng như:
Luật xử lý vi phạm hành chính không áp dụng biện pháp đưa vào trường giáo
dưỡng đối với người đủ 12 tuổi đến dưới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
21
SVTH: Nguyễn Thị Phương
Đề tài: “Xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên-Lý luận và thực tiễn”
phạm rất nghiêm trọng quy định tại Bộ luật hình sự; Người từ đủ 12 tuổi đến dưới 16 tuổi
trường giáo dưỡng đối với người đó.
Sau khi hoàn thành việc lập hồ sơ đề nghị quy định cơ quan đã lập hồ sơ phải
thông báo cho người bị đề nghị áp dụng, cha mẹ hoặc người đại diện của họ về việc lập hồ
sơ. Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận được thông báo. Sau khi người bị áp dụng,
GVHD: Ths. Võ Duy Nam
22
SVTH: Nguyễn Thị Phương