biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên - Pdf 26

Mục lục

Trang
Lời nói đầu
1
Chơng 1: Đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi và tác động của những đặc
điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm
hành chính đối với ngời cha thành niên
2
1.1. Khái niệm và đặc điểm ngời cha thành niên
2
1.1.1. Khái niệm 2
1.1.2. Đặc điểm
5
1.2. ảnh hởng của những đặc điểm của ngời cha thành niên đối với việc
quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
8
Chơng 2: Thực trạng pháp luật về các biện pháp xử lý hành chính đối
với ngời cha thành niên
13
2.1. Quá trình hình thành các quy định pháp luật về biện pháp xử lý
hành chính đối với ngời cha thành niên
13
2.2. Các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên
theo pháp luật hiện hành
17
2.2.1. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính 18
2.2.2. Các biện pháp xử lý hành chính khác 21
2.2.3. Các biện pháp khắc phục hậu quả, ngăn chặn vi phạm hành chính và
bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính 28
Chơng 3: Thực tiễn áp dụng, phơng hớng, giải pháp hoàn thiện các

lý vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên" với mong muốn góp phần
hoàn thiện các quy định của pháp luật, nâng cao hiệu quả áp dụng các quy định đó
trong thực tiễn. Đối tợng nghiên cứu của đề tài là ngời cha thành niên bị áp dụng
các biện pháp xử lý vi phạm hành chính và các quy định về xử lý vi phạm hành
chính đối với họ. Trong phạm vi và giới hạn cho phép, đề tài tập trung nghiên cứu
những vấn đề sau:
Thứ nhất, khái niệm ngời cha thành niên, đặc điểm ngời cha thành niên và
ảnh hởng của những đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm
hành chính đối với ngời cha thành niên.
Thứ hai, thực trạng pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối
với ngời cha thành niên.
Thứ ba, thực tiễn áp dụng, phơng hớng, giải pháp hoàn thiện các quy định
pháp luật về biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên.
Đề tài có ý nghĩa là những nghiên cứu cơ bản, bớc đầu, xuất phát từ thực
trạng quy định và thực tiễn áp dụng các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính đối với ngời cha thành niên. Trên cơ sở đó, đề xuất phơng hớng và giải pháp
cụ thể để hoàn thiện các quy định pháp luật cũng nh nâng cao hiệu quả của công
tác áp dụng các biện pháp xử lý vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên.
Chơng 1
đặc điểm tâm, sinh lí lứa tuổi và tác động của những
3
đặc điểm đó đến việc quy định các biện pháp xử lý
vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên
1.1. Khái niệm và đặc điểm ngời cha thành niên
1.1.1. Khái niệm
"Ngời cha thành niên" không phải là một khái niệm mới, nó đợc sử dụng phổ
biến, đặc biệt là trong các văn bản pháp luật. Bên cạnh khái niệm này chúng ta còn
bắt gặp các khái niệm "vị thành niên", "trẻ em".Vậy các khái niệm này có gì giống
và khác nhau? Những ngời ở độ tuổi nào thì đợc coi là ngời cha thành niên?
Theo Từ điển Tiếng Việt (Viện ngôn ngữ học, năm 2004) thì "thành niên" là

phải chịu trách nhiệm hình sự; Điều 18 Bộ luật Dân sự 2005 quy định: "Ngời từ
đủ 18 tuổi trở lên là ngời thành niên. Ngời cha đủ 18 tuổi là ngời cha thành
niên". Cũng theo quy định của Bộ luật ngời cha thành niên vẫn đợc tham gia vào
các quan hệ dân sự, mà khi đó họ phải đợc pháp luật công nhận là có khả năng "sử
dụng quyền, làm nghĩa vụ và chịu trách nhiệm"; Điều 119 Bộ luật Lao động 2002
quy định: "ngời lao động cha thành niên là ngời lao động dới 18 tuổi", theo đó
Bộ luật cũng quy định các quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của ngời lao động cha
thành niên. Nh vậy định nghĩa này là cha chính xác.
Bên cạnh đó, còn có khái niệm "trẻ em". Theo Công ớc về quyền trẻ em
1989: "Trẻ em là mọi ngời dới 18 tuổi, trừ trờng hợp pháp luật áp dụng với trẻ
em đó có quy định tuổi thành niên sớm hơn". Tại Điều 11 Quy tắc tối thiểu phổ
biến của Liên hợp quốc về bảo vệ ngời cha thành niên bị tớc quyền tự do năm
1990 đã quy định: "Những ngời cha thành niên là ngời dới 18 tuổi". Có thể thấy
qua hai văn bản pháp lý quốc tế trên, khái niệm "trẻ em" và khái niệm "ngời cha
thành niên" đều để chỉ ngời dới 18 tuổi.
Lại có ý kiến cho rằng, theo pháp luật Việt Nam thì khái niệm "trẻ em" và
khái niệm "ngời cha thành niên" có sự khác nhau với dẫn chứng Bộ luật Dân sự
Việt Nam năm 2005 quy định: "Ngời cha đủ 18 tuổi là ngời cha thành niên", còn
Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em quy định: "Trẻ em đợc quy định trong
5
Luật này là công dân Việt Nam dới 16 tuổi" (Điều 1). Theo đó, khoảng cách giữa
"trẻ em" và "ngời cha thành niên" là khoảng cách 2 năm.
Về độ tuổi của ngời cha thành niên, có rất nhiều ý kiến khác nhau nh: ngời
cha thành niên là ngời ở độ tuổi 14 đến 17 tuổi (Spranger); từ 11 đến 15 tuổi
(Bromlei); từ 12 đến 15 tuổi (J. Piagie) hay có sự phân biệt giữa nam và nữ nh:
nam là từ 14 đến 16 tuổi, nữ là 11 đến 13 (Buhler); nam 12 đến 17 tuổi, nữ là 12
đến15 tuổi (Grimn) [6, tr.60].
Có thể thấy rằng, việc xác định độ tuổi ngời cha thành niên là rất khó, không
thể đồng nhất hai khái niệm "ngời cha thành niên" và "trẻ em", cũng không nên
xem khái niệm nào có nội hàm rộng hay hẹp hơn. Nhìn chung các ý kiến đều

con ngời. Với ngời cha thành niên, họ cần có thời gian chuẩn bị về mọi mặt để
chuyển sang một giai đoạn mới: giai đoạn trởng thành (để lớn lên về cơ thể, mở
rộng quan hệ xã hội, tích luỹ tri thức, phơng thức hoạt động ). Tuổi không quy
định trực tiếp sự phát triển nhân cách. Tuổi có thể phù hợp với trình độ phát triển
tâm lí của con ngời, tuổi cũng có thể đi chậm hơn hoặc đi nhanh hơn là còn phụ
thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xung quanh. Tuy nhiên ngời cha thành niên sống
trong hoàn cảnh nào cũng có những đặc điểm chung, đặc trng cho lứa tuổi. Đó là
đặc điểm của một giai đoạn mà cách gọi thôi cũng cho thấy tính phức tạp và tầm
quan trọng của nó: "thời kì quá độ" (cha phải là ngời lớn cũng không còn là trẻ
con), "tuổi khủng hoảng" (cả về sinh lí lẫn tâm lí), "tuổi khó bảo" (các em ở độ
tuổi này trở nên bớng bỉnh và khó bảo), "tuổi bất trị"
Thứ nhất, đặc điểm sinh lí
Thời kì này, cơ thể phát triển mạnh mẽ nhng không đồng đều, biểu hiện bên
ngoài là các em lớn lên trông thấy. Tuỳ thuộc vào độ tuổi, ngay trong cùng giai
đoạn mà sự phát triển giữa nam và nữ là khác nhau, nh cùng trong giai đoạn cha
thành niên nhng ở độ tuổi 12-13, các em nữ phát triển hơn các em nam về hình
dáng thì ở độ tuổi 14-15, cơ thể các em nam lại phát triển hơn. Tuy nhiên ở cả
nam và nữ đều có những đặc điểm chung của lứa tuổi.
Sự phát triển của hệ xơng mà chủ yếu là sự phát triển của xơng tay, xơng
chân rất nhanh nhng xơng ngón tay, ngón chân lại phát triển chậm. Do đó, cơ thể
7
phát triển không cân đối khiến các em trở nên lóng ngóng, vụng về và hay làm đổ
vỡ
Sự phát triển của hệ thống tim mạch không cân đối khiến các em dễ rơi vào
tình trạng rối loạn tạm thời với những biểu hiện nh: mệt mỏi, chóng mặt, nhức
đầu. Những biểu hiện này diễn ra không lâu nhng lại thờng xuyên, làm ảnh hởng
không nhỏ đến đời sống sinh hoạt hàng ngày cũng nh tâm lý của ngời cha thành
niên.
Tuyến nội tiết bắt đầu hoạt động mạnh thờng dẫn đến sự rối loạn của hoạt
động thần kinh làm cho các em dễ xúc động, hay bực tức hay nổi nóng, do đó các

mai về hình thể dáng vẻ đi lại bên ngoài cũng gây cho các em những phản ứng
mạnh mẽ
Các em luôn muốn bộc lộ cá tính, tự khẳng định mình, muốn nhanh chóng đ-
ợc trở thành ngời lớn và cố gắng để đợc đối xử nh ngời lớn, do đó hay phóng đại
năng lực bản thân mình nh ng thực chất kết thúc giai đoạn cha thành niên các em
mới chỉ phát triển khá hoàn thiện về mặt sinh lí, còn quá trình nhận thức vẫn cha
đầy đủ. Nhận thức về xã hội, đạo đức, pháp luật còn hạn chế, đặc biệt là nhận
thức về pháp luật. Đôi khi những nhận thức quan điểm về pháp luật không đợc
hình thành hoặc có nhng bị lệch lạc theo cách hiểu chủ quan của các em.
Mặc dù sống độc lập hơn và muốn tỏ ra mình là ngời lớn nhng các em ở độ
tuổi này vẫn cần có sự quan tâm, chăm sóc của cha mẹ, bởi những khó khăn, rắc
rối về mặt tâm lí, sinh lí là không tránh khỏi. Cha mẹ phải là ngời hiểu rõ điều đó
để quan tâm cho đúng mức, sao cho các em vẫn có thể phát huy đợc tính độc lập
của mình nhng không thể tách rời sự quản lý chặt chẽ cần thiết của cha mẹ.
Khi trở thành đối tợng áp dụng các biện pháp xử lý hành chính thì những đặc
điểm tâm sinh lí trên phải đợc xem xét để pháp luật có những quy định phù hợp,
đảm bảo việc bảo vệ hiệu quả nhất những quyền lợi của đối tợng "đặc biệt" này.
1.2. ảnh hởng của những đặc điểm của ngời cha thành niên
đối với việc quy định các biện pháp xử lý vi phạm hành chính
9
Pháp luật Việt Nam nói chung, pháp luật về xử lý vi phạm hành chính nói
riêng có những quy định rất đặc thù với đối tợng là ngời cha thành niên vi phạm
pháp luật.
Tiêu biểu phải kể đến Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em, là một đạo
luật chỉ quy định những vấn đề liên quan đến trẻ em, trong đó có cả ngời cha
thành niên, gồm những quy định chung, những quy định về quyền và nghĩa vụ của
trẻ em cũng nh của những đối tợng liên quan đảm bảo mang lại cho trẻ em những
điều tốt đẹp nhất: "Các quyền của trẻ em phải đợc tôn trọng và thực hiện" (khoản
1 Điều 6); "Gia đình, Nhà nớc và xã hội có trách nhiệm bảo vê tính mạng, thân
thể, nhân phẩm, danh dự của trẻ em; thực hiện các biện pháp phòng ngừa tai

- Phần lớn ngời cha thành niên còn sống phụ thuộc vào gia đình, họ không có
tài sản riêng, quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính phải phù hợp với
những đặc điểm đó để đảm bảo tính khả thi khi áp dụng. Khoản 1 Điều 7 Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định ngời từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi vi
phạm hành chính thì bị phạt cảnh cáo, khác với trớc đây quy định là phạt tiền dến
50.000 đồng, ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi vi phạm hành chính mà bị áp dụng
hình thức phạt tiền thì mức tiền phạt đối với họ không đợc quá một phần hai mức
phạt đối với ngời thành niên. Biện pháp xử phạt với ngời cha thành niên chỉ mang
tính chất răn đe, giáo dục là chính, ở độ tuổi đủ 14 đến dới 16, việc quy định hình
thức phạt tiền là không cần thiết, bởi những ngời cha thành niên không có khả
năng để chấp hành biện pháp xử phạt này, thờng thì cha mẹ họ là những ngời có
trách nhiệm nộp thay. Điều đó sẽ không có tác dụng nhiều đến nhận thức của họ,
bởi vốn có nhận thức cha đầy đủ và sâu sắc, họ đợc cha mẹ thực hiện thay sẽ
không thể hiểu đợc mục đích chính của việc áp dụng xử phạt vi phạm hành chính
đối với họ là răn đe, giáo dục. Còn ở độ tuổi từ đủ 16 đến dới 18, các em đã có thể
có nhận thức đầy đủ hơn, việc phạt cảnh cáo với các em đôi khi lại cha đủ, cần
phải áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền.
11
- Chỉ riêng những đặc điểm tâm sinh lí cha đủ để dẫn đến những hành vi vi
phạm pháp luật, chính những yếu tố bên ngoài từ phía gia đình, bạn bè và xã hội
khi có tác động tiêu cực đến khả năng nhận thức của các em khiến các em thực
hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật cũng tính đến cả những yếu tố
này khi quy định biện pháp cỡng chế đối với ngời cha thành niên.
Trong mối quan hệ với gia đình mà cụ thể là mối quan hệ với cha mẹ, sự hiểu
biết của cha mẹ về những thay đổi tâm sinh lí của con cha thành niên có ý nghĩa
rất quan trọng. Tuy nhiên, sự hiểu biết này mới chỉ dừng lại ở những thay đổi bên
ngoài, đợc thể hiện rõ nét trong một thời gian dài; còn những thay đổi tâm sinh lí
có tính chất bên trong thì cha mẹ ít quan tâm hơn. Do đó khi ý thức của ngời cha
thành niên bị lệch lạc dẫn đến vi phạm pháp luật, cha mẹ họ thờng cho rằng
nguyên nhân là do chính bản thân chúng gây ra, họ không hề phải chịu trách

nhận thức đúng đắn cha đợc hình thành một cách vững chắc. Những lúc đó họ
thậm chí không thể nhận thức đợc hành vi của mình là đúng hay sai. Ví dụ, một
cậu bé tên Tứ, sinh năm 1991, quê ở Bình Định, khi chỉ mới vừa 14 tuổi, đã phải
vào trờng giáo dỡng cải tạo 24 tháng về tội hiếp dâm và giết ngời. Chỉ vì muốn
"thử" một hành động nh ngời lớn, Tứ đã hiếp dâm một bé gái nhà hàng xóm mới
chỉ lên 2. Với những trờng hợp đó, việc quy định và áp dụng các biện pháp cỡng
chế không thể nh với ngời thành niên, do vậy có thể hành vi của họ đã có dấu hiệu
của một tội phạm nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì căn cứ vào độ tuổi,
vào các yếu tố nhân thân, ngời cha thành niên cũng không phải chịu trách nhiệm
hình sự mà chỉ phải chịu trách nhiệm hành chính, cụ thể Pháp lệnh xử lý vi phạm
hành chính 2002 quy định: "Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 14 tuổi thực hiện hành vi
có dấu hiệu của một tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng quy
định tại Bộ luật hình sự" là một trong những đối tợng bị áp dụng biện pháp xử lí
hành chính khác là đa vào trờng giáo dỡng (điểm a khoản 2 Điều 24) hoặc chỉ áp
dụng biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn đối với "Ngời từ đủ 12 tuổi đến d-
ới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội phạm nghiêm trọng do cố ý
quy định tại Bộ luật hình sự" (điểm a khoản 2 Điều 23) mà không truy cứu trách
nhiệm hình sự với đối tợng này.
13
- Ngời cha thành niên luôn cần đợc giúp đỡ về mọi mặt, ngay cả khi họ vi
phạm pháp luật. Đôi khi họ cũng là ngời bị tổn thơng do thực hiện chính những
hành vi vi phạm của mình, "ngời bán dâm có tính chất thờng xuyên" là một ví dụ.
Với lí do đó, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 quy định biện pháp đa vào
cơ sở chữa bệnh áp dụng với ngời nghiện ma tuý từ đủ 18 tuổi trở lên và ngời bán
dâm có tính chất thờng xuyên từ đủ 16 tuổi. Đặc biệt Pháp lệnh còn quy định cơ sở
chữa bệnh phải tổ chức khu vực dành riêng cho ngời dới 18 tuổi, quy định đó là
căn cứ vào đặc điểm riêng của ngời cha thành niên là những ngời cần chăm sóc
đặc biệt hơn. Tại đây họ đợc lao động, đợc học văn hoá, học nghề và chữa bệnh.
- Cũng do những đặc điểm riêng về tâm sinh lí, những hạn chế về nhận thức,
Pháp lệnh xử lí vi phạm hành chính quy định không áp dụng một số biện pháp c-

vi phạm hành chính. Trong đó, Điều 6 quy định: "Đối với ngời dới 14 tuổi thì
giáo dục rồi báo cho cha mẹ hay ngời có trách nhiệm nuôi dạy biết, yêu cầu họ
phải thi hành trách nhiệm quản lý giáo dục con em họ. Đối với ngời từ đủ 14
đến 16 tuổi thì nặng nhất là phạt tiền, đối với ngời từ đủ 16 đến 17 tuổi không có
tài sản riêng, cha mẹ hay ngời có trách nhiệm nuôi dỡng phải nộp thay".
Nh vậy đối tợng bị phạt vi cảnh là ngời từ đủ 14 tuổi trở lên, cụ thể là: từ đủ
14 đến 16 tuổi thì có thể bị phạt cảnh cáo hoặc phạt tiền; từ đủ 16 đến 17 tuổi có
thể bị phạt cảnh cáo, phạt tiền hoặc phạt lao động công ích, phạt giam nh với ngời
lớn. Cần phải chú ý rằng, Điều lệ xử phạt vi cảnh chỉ quy định về vi phạm hành
chính và xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Với một phạm vi điều chỉnh không rộng nh vậy thì những quy định đối với ngời
cha thành niên cha nhiều và cha cụ thể.
Sau một thời gian khá dài, ngày 30/11/1989, Hội đồng Nhà nớc ban hành
Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính. Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính có
hiệu lực từ ngày 1/1/1990 đánh dấu bớc phát triển quan trọng trong quá trình xây
dựng và hoàn thiện chế định pháp luật về trách nhiệm hành chính. Lần đầu tiên
trong lịch sử pháp luật Việt Nam, việc quy định những vấn đề cơ bản mang tính
nguyên tắc về xử phạt vi phạm hành chính đợc thể hiện tập trung trong một văn
15
bản, làm cơ sở để xây dựng những văn bản quy định cụ thể hành vi vi phạm hành
chính, hình thức và mức xử phạt trong các lĩnh vực quản lý nhà nớc. Đặc biệt
những quy định đối với ngời cha thành niên cũng đợc kế thừa và phát huy. Điều 29
của Pháp lệnh quy định về xử phạt đối với ngời cha thành niên nh sau:
Ngời từ đủ 16 tuổi đến dới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm hành
chính về mọi vi phạm hành chính do mình gây ra. Ngời từ đủ 14
tuổi đến dới 16 tuổi chỉ bị phạt đối với những vi phạm hành chính
thực hiện do cố ý; hình thức và mức phạt đối với họ là cảnh cáo
hoặc phạt tiền đến 10.000 đồng. Đối với ngời dới 14 tuổi thì không
xử phạt mà áp dụng biện pháp giáo dục. Trong trờng hợp ngời cha
thành niên không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc ngời giám hộ

Cha mẹ và ngời giám hộ vẫn phải có trách nhiệm nộp phạt thay khi ngời cha thành
niên không có tiền nộp phạt. Việc quy định thêm những biện pháp xử lý hành
chính khác bên cạnh các biện pháp xử phạt hành chính nh trong Pháp lệnh xử phạt
vi phạm hành chính năm 1989 đã đạt đợc những kết quả đáng kể trong việc ngăn
chặn, phòng ngừa vi phạm hành chính, đặc biệt là vi phạm hành chính do ngời cha
thành niên gây ra. Có năm biện pháp xử lý hành chính khác nhng chỉ có hai biện
pháp đợc áp dụng đối với ngời cha thành niên là giáo dục tại xã, phờng, thị trấn và
đa vào trờng giáo dỡng. Còn các biện pháp đa vào cơ sở giáo dục; đa vào cơ sở
chữa bệnh và quản chế hành chính không đợc áp dụng đối với ngời cha thành niên.
Tiếp tục kế thừa và hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành
chính, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 ra đời thay thế cho Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 đợc Uỷ ban thờng vụ Quốc hội thông
qua ngày 02/07/2002, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 01/10/2002. Pháp lệnh
mới ra đời có ý nghĩa cả về thực tiễn và lý luận, góp phần tháo gỡ những khó khăn,
vớng mắc trong thực tế áp dụng Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 1995, ngày
càng nâng cao, phát huy hiệu quả xử lý vi phạm, có tác dụng giáo dục ý thức pháp
luật đối với những ngời có hành vi vi phạm hành chính và cả những ngời không có
hành vi vi phạm hành chính. Nhìn chung, những quy định đối với ngời cha thành
niên có nhiều điểm mới để phù hợp hơn với đối tợng này, nh quy định không áp
dụng hình thức phạt tiền với ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi vi
17
phạm hành chính, đối tợng này chỉ bị phạt cảnh cáo. Với ngời cha thành niên từ đủ
16 tuổi đến dới 18 tuổi, thì mức phạt tiền đối với họ đợc quy định cụ thể hơn là
"không quá một phần hai mức phạt đối với ngời thành niên". Về các biện pháp
xử lý hành chính khác, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính vẫn quy định có năm
biện pháp xử lý hành chính khác, trong đó có ba biện pháp đợc áp dụng với ngời
cha thành niên, gồm: giáo dục tại xã, phờng, thị trấn; đa vào trờng giáo dỡng và đa
vào cơ sở chữa bệnh thay vì chỉ có hai biện pháp đợc áp dụng với ngời cha thành
niên nh ở Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 (giáo dục tại xã, phờng,
thị trấn và đa vào trờng giáo dỡng). Đặc biệt biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị

phạm hành chính ban hành ngày 14/11/2003; Nghị định số 142/2003/NĐ-CP quy
định việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính đa vào trờng giáo dỡng ban hành
ngày 24/11/2003; Nghị định số 163/2003/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành biện
pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn ban hành ngày 19/12/2003; Nghị định số
135/2004/NĐ-CP quy định chế độ áp dụng biện pháp đa vào cơ sở chữa bệnh, tổ
chức hoạt động của cơ sở chữa bệnh theo Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và
chế độ áp dụng đối với ngời cha thành niên, ngời tự nguyện vào cơ sở chữa bệnh
ban hành ngày 10/06/2004
Khoản 1 Điều 1 Pháp lệnh quy định: "Xử lý vi phạm hành chính bao gồm xử
phạt vi phạm hành chính và các biện pháp xử lý hành chính khác". Tuy nhiên
không phải mọi biện pháp xử lý vi phạm hành chính đều đợc áp dụng với ngời cha
thành niên.
2.2.1. Các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính
Xử phạt vi phạm hành chính đối với ngời cha thành niên là hoạt động của các
chủ thể có thẩm quyền căn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành về xử phạt
vi phạm hành chính, quyết định áp dụng các biện pháp xử phạt vi phạm hành
chính đối với ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 18 tuổi thực hiện hành vi
vi phạm pháp luật.
Ngời cha thành niên khi vi phạm hành chính có thể bị áp dụng một trong
những hình thức xử phạt chính là phạt cảnh cáo và phạt tiền.
19
2.2.1.1. Phạt cảnh cáo
Điều 13 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 quy định: "Cảnh cáo
đợc áp dụng với các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính nhỏ, lần đầu, có tình
tiết giảm nhẹ hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do ngời cha thành
niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi thực hiện. Cảnh cáo đợc quyết định bằng văn
bản".
Theo quy định trên thì đối tợng ngời cha thành niên bị áp dụng hình thức
phạt cảnh cáo là ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 18 tuổi. Đối với ngời
cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi, Điều 6 của Pháp lệnh quy định: "Ng-

tình tiết giảm nhẹ, thì việc phạt cảnh cáo chỉ mang tính chất răn đe không thể phát
huy đợc hiệu quả trong việc ngăn chặn, phòng ngừa vi phạm hành chính, do đó họ
phải bị áp dụng hình thức xử phạt cao hơn là phạt tiền. "Nếu ngời cha thành niên
không có tiền nộp phạt thì cha mẹ hoặc ngời giám hộ phải nộp thay", việc quy
định nh vậy buộc cha mẹ hoặc ngời giám hộ phải có trách nhiệm nhiều hơn với
ngời cha thành niên là con hoặc là ngời đợc mình giám hộ.
Thẩm quyền ra quyết định áp dụng hình thức xử phạt tiền đợc quy định tại
chơng IV của Pháp lệnh.
Thủ tục áp dụng hình thức xử phạt tiền là thủ tục đơn giản (trong trờng hợp
phạt tiền từ 5.000 đồng đến 100.000 đồng), và thủ tục xử phạt có lập biên bản
(trong trờng hợp phạt tiền từ trên 100.000 đồng trở lên).
2.2.1.3. Các hình thức xử phạt bổ sung
Ngoài hai hình thức xử phạt chính trên thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm
ngời cha thành niên còn có thể bị áp dụng một trong những hình thức xử phạt bổ
sung: "tớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề" hoặc "tịch thu tang
vật, phơng tiện đợc sử dụng để vi phạm hành chính". Đây là những hình thức xử
phạt bổ sung, vì vậy chúng không đợc áp dụng một cách độc lập mà luôn đợc áp
dụng kèm theo với hình thức xử phạt chính. Cụ thể:
- Tớc quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề quy định tại Điều 16: "Tớc
quyền sử dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề có thời hạn hoặc không có thời
hạn đợc áp dụng đốí với cá nhân, tổ chức vi phạm nghiêm trọng quy định sử
dụng giấy phép, chứng chỉ hành nghề".
21
Ngời cha thành niên có thể là đối tợng bị áp dụng hình thức xử phạt này.
Theo quy định tại Điều 22, Bộ luật Lao động 2002: "Ngời học nghề ở cơ sở dạy
nghề ít nhất phải đợc 13 tuổi, trừ một số nghề do Bộ Lao động - Thơng binh và
Xã hội quy định và phải có đủ sức khoẻ phù hợp với yêu cầu của nghề theo học".
Sau khi học nghề họ có thể đợc cấp chứng chỉ nghề. Cần phân biệt chứng chỉ nghề
này với giấy phép, chứng chỉ hành nghề quy định tại Điều 16 Pháp lệnh vì theo
quy định hớng dẫn áp dụng tại Điều 11 Nghị định số 134/2003/NĐ-CP, trong đó

cụ thể.
2.2.2. Các biện pháp xử lý hành chính khác
Theo quy định của pháp luật hiện hành có bốn biện pháp xử lý hành chính
khác, gồm: giáo dục tại xã, phờng, thị trấn; đa vào trờng giáo dỡng; đa vào cơ sở
giáo dục và đa vào cơ sở chữa bệnh (biện pháp quản chế hành chính đã bị bãi bỏ
theo quy định của Pháp lệnh số 31/2007/PL-UBTVQH 11 ngày 08/03/2007 sửa
đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính).
Trong số bốn biện pháp trên thì có tới ba biện pháp cũng đợc quy định áp
dụng với ngời cha thành niên là giáo dục tại xã, phờng, thị trấn; đa vào trờng giáo
dỡng và đa vào cơ sở chữa bệnh.
2.2.2.1. Giáo dục tại xã, phờng, thị trấn
Giáo dục tại xã, phờng, thị trấn đợc quy định tại Điều 23, một số điều khác
trong Pháp lệnh và các văn bản hớng dẫn thi hành nh Nghị định số 163/2003/NĐ-
CP ngày 19/12/2003; Thông t số 22/2004/TT-BCA của Bộ công an; Quyết định số
1522/2005/QĐ-BCA ngày 27/10/2005
Đối tợng ngời cha thành niên bị áp dụng biện pháp này gồm:
- Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm nghiêm trọng do cố ý quy định tại Bộ luật hình sự ;
- Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 18 tuổi nhiều lần có hành vi trộm cắp vặt, lừa
đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng;
- Ngời bán dâm có tính chất thờng xuyên từ đủ 14 tuổi đến dới 18 tuổi có nơi
c trú nhất định.
Với biện pháp này ngời cha thành niên vi phạm hành chính đợc giáo dục, quản
lý tại địa phơng mà không bị cách li khỏi cộng đồng. Điều này đòi hỏi chính quyền
23
địa phơng cũng nh gia đình phải có những biện pháp phù hợp, hiệu quả, giúp đỡ họ
để họ có thể nhận thức đúng đắn hơn về những việc mình làm.
Thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn
thuộc về Chủ tịch Uỷ ban nhân dân xã, phờng, thị trấn. Chủ tịch Uỷ ban nhân dân
xã, phờng, thị trấn có thể tự mình hoặc theo đề nghị của một trong những cơ quan,

gồm:
- Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 14 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiệm trọng quy định tại Bộ luật hình sự;
- Ngời từ đủ 12 tuổi đến dới 16 tuổi thực hiện hành vi có dấu hiệu của một tội
phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng quy định tại Bộ luật hình sự mà
trớc đó đã bị áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn hoặc cha bị áp
dụng biện pháp này nhng không có nơi c trú nhất định;
- Ngời từ đủ 14 tuổi đến đới 18 tuổi nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp vặt,
lừa đảo nhỏ, đánh bạc nhỏ, gây rối trật tự công cộng mà trớc đó bị áp dụng biện
pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn hoặc cha bị áp dụng biện pháp này nhng
không có nơi c trú nhất định.
Họ là những ngời đã nhiều lần thực hiện hành vi vi phạm hành chính hoặc vi
phạm lần đầu nhng hành vi vi phạm của họ có dấu hiệu của một trong những tội
phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng
quy định tại Bộ luật hình sự. Việc xác định đối tợng đa vào trờng giáo dỡng nh
trên là phù hợp với việc phân loại tội phạm và độ tuổi phải chịu trách nhiệm hình
sự cũng nh tính chất, mức độ, nhân thân của ngời cha thành niên có hành vi vi
phạm hành chính.
Thẩm quyền ra quyết định đa vào trờng giáo dỡng thuộc về Chủ tịch Uỷ ban
nhân dân cấp huyện. Trớc đây, Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 quy
định: "Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp tỉnh quyết định đa vào trờng giáo dỡng"
(khoản 1 Điều 61). Hiện nay thẩm quyền này đã đợc phân cấp cho Chủ tịch Uỷ
ban nhân dân cấp huyện quyết định. Quy định này nhằm đề cao trách nhiệm của
Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp huyện trong việc áp dụng biện pháp đa vào trờng
giáo dỡng. Mặt khác, có thể giảm bớt công việc cho Chủ tịch Uỷ ban nhân dân cấp
25

Trích đoạn Biện pháp giáo dục tại xã, phờng, thị trấn Biện pháp đa vào trờng giáo dỡng Biện pháp đa vào cơ sở chữa bệnh
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status