TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
BỘ MÔN LUẬT TƯ PHÁP
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP CỬ NHÂN LUẬT
KHÓA 2012-2014
Đề tài:
NGHIÊN CỨU MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG
TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM
CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN-THỰC TIỄN
ÁP DỤNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN
GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN:
NGUYỄN CHÍ HIẾU
SINH VIÊN THỰC HIỆN:
LÊ MINH NGỌC
MSSV: S120050
LỚP: LUẬT HÀNH CHÍNH-K38
Cần Thơ, tháng 11/2014
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
...............................................................................................................................................
1.2.3. Vai trò của Người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự.............18
CHƯƠNG 2 MỘT SỐ HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ ĐỐI VỚI NGƯỜI LÀM
CHỨNG CHƯA THÀNH NIÊN-THỰC TIỄN ÁP DỤNG VÀ HƯỚNG HOÀN
THIỆN...............................................................................................................................21
2.1 Quy định pháp Luật về một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên ..................................................................................................................21
2.1.1 Quy định hoạt động lấy lời khai đối với người làm chứng chưa thành niên ....21
2.1.2 Quy định hoạt động nhận dạng đối với người làm chứng chưa thành niên
.....................................................................................................................................25
2.1.3 Quy định hoạt động đối chất đối với người làm chứng chưa thành niên .........27
2.1.4 Quy định hoạt động tham gia xét xử đối với người làm chứng chưa thành niên
.....................................................................................................................................28
2.1.5. Dẫn giải người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình sự .................30
2.2 Thực tiễn hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa thành niên và
hướng hoàn thiện ...............................................................................................................32
2.2.1 Thực tiễn người làm chứng chưa thành niên khi tham gia hoạt động Tố tụng
hình sự ........................................................................................................................32
2.2.2. Thực tiễn về bảo đảm quyền của người làm chứng chưa thành niên trong tố
tụng hình sự ................................................................................................................33
2.2.3 Thực tiễn về sự tham gia của người đại diện hợp pháp của người làm chứng
chưa thành niên ..................................................................................................................37
2.2.4 Cần xây dựng hệ thống tư pháp thân thiện với người làm chứng chưa thành
niên ....................................................................................................................................39
2.2.5 Cần hoàn thiện cơ chế Trợ giúp pháp lý cho người làm chứng chưa thành niên
trong Tố tụng hình sự.........................................................................................................42
KẾT LUẬN.......................................................................................................................45
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
đứng ra nói lên sự thật, khách quan nhất để bảo vệ sự công bằng của pháp luật, để
từ đó mọi người có cách đối xử, ứng xử thích hợp nhất để người làm chứng chưa
thành niên mạnh dạn tham gia vào các hoạt động Tố tụng hình sự để bảo vệ sự thật,
vì vậy cần có nhiều cơ chế hơn để bảo vệ người làm chứng, các chế độ bồi dưỡng
thích hợp nhằm hỗ trợ cho họ điều kiện tốt nhất để tham gia tố tụng.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
1
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
Qua đó pháp luật cần phải có những giải pháp hoàn thiện hơn về các quy
định cụ thể, rõ ràng và các chế độ đối với người làm chứng, đặc biệt là người làm
chứng chưa thành niên để họ đủ tự tin, đủ điều kiện và an tâm nhất để đứng ra nói
lên sự công bằng khách quan của pháp luật.
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu của việc nghiên cứu đề tài này hiểu rõ hơn về người làm chứng
chưa thành niên được quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 ở Việt
Nam và các văn bản pháp luật có liên quan bao gồm:
Nghiên cứu cơ sở lý luận về khái niệm, đặc điểm và vai trò; những quy định
của pháp luật về một số hoạt động Tố tụng hình sự của người làm chứng chưa thành
niên theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 và các văn bản pháp luật
có liên quan.
Phân tích, đánh giá tính khả thi của pháp luật về chế định người làm chứng
chưa thành niên trong thực tiễn, từ đó nêu lên những bất cập tồn tại trong quy định
của Luật cũng như trong quá trình áp dụng pháp Luật và nêu lên một số giải pháp
hoàn thiện về chế định người làm chứng chưa thành niên trong hoạt động Tố tụng
Lời mở đầu
Chương 1. Lý luận chung về người làm chứng và người làm chứng chưa
thành niên trong Tố tụng hình sự
Chương 2. Một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng chưa
thành niên-Thực tiễn áp dụng và hướng hoàn thiện.
Kết luận
Danh mục tài liệu tham khảo
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
3
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
CHƯƠNG 1
LÝ LUẬN CHUNG VỀ NGƯỜI LÀM CHỨNG VÀ NGƯỜI LÀM CHỨNG
CHƯA THÀNH NIÊN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Để hiểu rõ hơn về người làm chứng và người làm chứng chưa thành niên
trong Tố tụng hình sự Việt Nam trong chương này người viết nêu khái quát về khái
niệm người làm chứng, về quyền và nghĩa vụ cũng như lược sử hoàn thiện chế định
người làm chứng trong pháp Luật Tố tụng hình sự Việt Nam. Từ đó giúp mọi người
có cái nhìn tổng quát hơn về người làm chứng được quy định trong pháp Luật Tố
tụng hình sự là như thế nào. Qua đó làm tiền đề nghiên cứu về người làm chứng
chưa thành niên như khái niệm, đặc điểm và vai trò của người làm chứng chưa
thành niên khi tham gia hoạt động Tố tụng hình sự có vai trò hết sức to lớn trong
phòng chống tội phạm ra sao. Trước tiên tác giả tập trung nghiên cứu khái quát
người làm chứng trong Tố tụng hình sự Việt Nam.
Tố tụng dân sự, đó là: “Người biết các tình tiết liên quan đến nội dung vụ án và có
thể được Toà án triệu tập tham gia tố tụng, người làm chứng là người phải có năng
lực hành vi dân sự”.1
Nói tóm lại người làm chứng là người đã chứng kiến, trông thấy hoặc nghe
thấy toàn bộ hoặc một phần nào đó những tình tiết liên quan đến vụ án cần phải
được triệu tập cho lời khai để làm rõ nội dung vụ án một cách khách quan nhất
nhằm mục đích làm sáng tỏ nội dung vụ án.
1.1.2 Quyền và nghĩa vụ của người làm chứng
Người làm chứng đóng vai trò rất lớn trong quá trình Tố tụng hình sự. Chính
vì vậy để đảm bảo địa vị pháp lý cho người làm chứng Bộ luật Tố tụng hình sự. Khi
tham gia tố tụng người làm chứng phải trực tiếp tham gia tố tụng để trình bày những
thông tin mà mình biết về vụ án. Theo khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự
năm 2003 đã quy định cụ thể cho người làm chứng những quyền và nghĩa vụ như
sau:
* Quyền của người làm chứng:
Thứ nhất: Người làm chứng có quyền yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ
tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình khi tham gia tố tụng. Khi người làm chứng tham gia vào quá trình
Tố tụng hình sự họ thường bị đe doạ, mua chuộc và dụ dỗ, thậm chí còn bị xâm
phạm bởi tính mạng, sức khoẻ và danh dự làm người làm chứng cảm thấy lo lắng,
vì vậy Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 cũng có quy định hẳn hoi như trên khi Cơ
quan nào triệu tập người làm chứng đến để làm chứng thì phải đảm bào an toàn cho
họ về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền và lợi ích
khác của người làm chứng.
1
Bộ Luật Dân sự năm 2005.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
Điều 307 và Điều 308 Bộ Luật hình sự quy định việc chịu trách nhiệm của
người làm chứng như sau:
Điều 307 quy định về trách nhiệm hình sự khi khai báo gian dối hoặc cung
cấp tài liệu sai sự thật
“ Điều 307 Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật
1. Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào mà kết luận, dịch, khai
gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh
cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
6
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến
ba năm:
a) Có tổ chức;
b) Gây hậu quả nghiêm trọng.
3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù
từ ba năm đến bảy năm.
4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm
công việc nhất định từ một năm đến năm năm”
Điều 308 Bộ Luật hình sự quy định về trách nhiệm hình sự khi từ chối khai
báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu
“ Điều 308 Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp
tài liệu
1. Người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2
hình sự năm 2003 là “Người nào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự
thì đều có thể triệu tập đến làm chứng”2 thì theo đó người làm chứng được hiểu là
người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án hình sự chẳng hạn như thời gian,
địa điểm xảy ra vụ án, động cơ, mục đích, người thực hiện tội phạm và được các Cơ
quan tiến hành tố tụng như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án được triệu tập
đến để làm chứng, khai báo sự thật tất cả những gì mình biết, tất cả những gì liên
quan đến vụ án với các cơ quan có thẩm quyền nhằm góp phần làm sáng tỏ nội
dung vụ án đó.
Như vậy, Tại khoản 1 Điều 55 Bộ Luật Tố tụng năm 2003 quy định: “Người
nào biết được các tình tiết liên quan đến vụ án đều có thể triệu tập đến làm chứng”.
Người làm chứng là người biết được các tình tiết liên quan đến vụ án, nhận thức của
người làm chứng về các tình tiết của vụ án có thể trực tiếp hoặc gián tiếp nhìn thấy,
nghe thấy hay nghe người khác kể lại. Những tình tiết mà người làm chứng biết
được có thể liên quan đến chứng cứ được quy định tại Điều 64 Bộ Luật Tố tụng
hình sự năm 2003 hoặc các tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án có ý
nghĩa chứng minh. Việc họ biết được các tình tiết vụ án là một thực tế khách quan,
không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan hay của các cơ quan tiến hành tố tụng.
Theo quy định của Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 1988 người làm chứng
không được hưởng bất kỳ một quyền dân sự nào trong khi phần lớn những chủ thể
tham gia tố tụng khác tùy theo mức độ đều được Bộ Luật này quy định quyền và
những bảo đảm cho việc thực hiện quyền của họ trong Tố tụng hình sự. Trong khi
Bộ Luật quy định họ phải thực hiện một loạt các nghĩa vụ như: phải có mặt khi
được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập và phải khai đúng sự thật, nếu khai báo
gian dối hoặc trốn tránh việc khai báo mà không có lý do chính đáng thì có thể phải
2
Bộ Luật TTHS năm 2003.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
Thứ hai: Tuy pháp Luật quy định nhiều nguồn chứng cứ trong Tố tụng hình
sự nhưng theo ý nghĩa nguyên thủy của chứng cứ thì có hai loại chứng cứ quan
trọng đó là vật chứng và nhân chứng (người làm chứng). Người làm chứng có vị trí,
vai trò đặc biệt có ý nghĩa trong quá trình chứng minh tội phạm, đôi khi lời khai của
họ còn có tác dụng hơn cả vật chứng trong quá trình điều tra tội phạm. Do đó việc
bảo đảm pháp luật các quyền Tố tụng của người làm chứng sẽ góp phần giúp các cơ
quan tiến hành tố tụng xác định sự thật của vụ án hình sự một cách khách quan, toàn
3
Bộ Luật TTHS năm 1988.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
9
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
diện, đầy đủ. Theo nghĩa rộng, quyền con người của người làm chứng trong Tố tụng
hình sự là khả năng được hưởng, được làm trong Tố tụng hình sự. Còn theo nghĩa
hẹp là quyền của người làm chứng được làm những gì mà Bộ Luật Tố tụng hình sự
quy định. Quyền của người làm chứng thể hiện trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm
2003 (khoản 3 Điều 55) bao gồm quyền Hiến định và quyền Luật định.
Quyền Hiến định: Xuất phát nguyên tắc có tính chất Hiến định“ Ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự,
kinh tế, văn hóa và xã hội được tôn trọng, thể hiện ở các quyền công dân và được
quy định trong Hiến pháp và Luật”( Điều 3, Hiến pháp 2013 “Nhà nước bảo đảm và
phát huy quyền làm chủ của nhân dân; công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
hình sự nguyên tắc bảo hộ tính mạng sức khỏe danh dự, nhân phẩm tài sản của công
dân, được quy định tại Điều 7 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 như sau: “ Người
bị hại, người làm chứng và người tham gia tố tụng khác cũng như người thân thích
của họ mà bị đe dọa đến tính mạng, sức khỏe, bị xâm phạm danh dự, nhân phẩm, tài
sản thì Cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải áp dụng những biện pháp cần
thiết để bảo vệ theo quy định của pháp luật”. Việc Bộ Luật Tố tụng hình sự năm
2003 xác định rõ quyền của người làm chứng được yêu cầu cơ quan triệu tập bảo vệ
tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm, tài sản và các quyền, lợi ích hợp pháp
khác của mình khi tham gia tố tụng và cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng có
trách nhiệm phải áp dụng những biện pháp cần thiết để bảo vệ theo quy định của
pháp luật là một đòi hỏi khách quan, thể hiện thái độ trách nhiệm của Nhà nước đối
với dân để nhân dân có thể tin tưởng và an tâm tham gia đấu tranh phòng, chống tội
phạm. Đây còn là sự đánh dấu lần đầu tiên trong hoạt động Tố tụng hình sự vấn đề
bảo vệ nhân chứng được quy định trong Luật, đó còn là dấu hiệu thể hiện pháp
Luật Tố tụng hình sự Việt Nam đang xích gần với Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực
này. Về quyền “Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm
quyền tố tụng” quy định tại điểm b, khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm
2003 là sự cụ thể hóa một trong những quyền Hiến định cơ bản của công dân thuộc
nhóm quyền về chính trị quy định tại Điều 30 Hiến pháp năm 2013 là công dân có:
“Mọi người có quyền khiếu nại, tố cáo với cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền
về những việc làm trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân”. Theo Điều 15 Hiến
pháp năm 2013 thì “Quyền và nghĩa vụ của công dân do Hiến pháp và Luật quy
định”.
Quyền Luật định (quy định trong Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003): Ngoài
việc cụ thể hóa các nguyên tắc cơ bản của công dân, Bộ Luật Tố tụng hình sự năm
2003 còn quy định thêm quyền của người làm chứng như: “Được cơ quan triệu tập
thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật” (điểm
c, khoản 3, Điều 55 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003). Quy định này được coi là
Ngay tại Điều 1 của Luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004 đã
khẳng định: “Trẻ em là công dân Việt Nam dưới 16 tuổi”5; dự thảo Luật Trẻ em đã
tăng độ tuổi trẻ em lên 18 tuổi và chúng ta đã có Luật Thanh niên năm 2005 và
Thanh niên là từ đủ 16 tuổi đến 30 tuổi. Như vậy, chúng ta đã có tên để gọi cho
từng đối tượng. Tuy nhiên, trong dự thảo Luật trẻ em thiếu sự thống nhất trong sử
dụng các thuật ngữ, sử dụng không mang tính pháp lý, chưa căn cứ vào các luật
đang có hiệu lực để xưng tên một cách thống nhất như tại chương IV dự thảo Luật,
tên gọi là “Tư pháp thân thiện với trẻ em” nhưng từ Điều 83 trở đi thì sử dụng thuật
ngữ “Người chưa thành niên” khái niệm người chưa thành niên khác với khái niệm
trẻ em. Về mặt pháp lý, để xác định con người trong giai đoạn nào đó người ta dựa
5
Luật Bảo vệ chăm sóc và Giáo dục trẻ em năm 2004.
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
12
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
vào độ tuổi. Khái niệm người chưa thành niên dựa vào sự phát triển về mặt thể chất
và tinh thần của con người. Hiện nay, khái niệm này được hiểu một các đa nghĩa và
còn gây nhiều tranh luận. Trong nhiều văn bản pháp luật hiện hành, khi điều chỉnh
những lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội đã có những quy định không giống
nhau về khái niệm, độ tuổi và phạm vi áp dụng Luật. Trong quá trình Tư pháp, về
thực tế và tâm lý, khi nói đến trẻ em thì con người nói chung, người tham gia tố
tụng nói riêng cũng sẽ dành tình cảm cho trẻ em cao hơn, nhưng khi nó đến cụm từ
hai thuật ngữ “Nhân chứng” và thuật ngữ “Người làm chứng” có thể được sử dụng
tương đương6.
* Các văn bản Pháp Luật liên quan về người làm chứng, người làm
chứng chưa thành niên.
Công ước Quốc tế về quyền trẻ em được Chính phủ Việt Nam ký vào năm
1997 và các văn kiện quốc tế bổ sung Tư pháp về người chưa thành niên bao gồm:
Bản quy tắc về các chuẩn mực tối thiểu của Liên hiệp quốc về quản lý tư pháp
người chưa thành niên; quy tắc Bắc Kinh; Hướng dẫn của Liên hiệp quốc về hành
động đối với trẻ em trong hệ thống Tư pháp hình sự; Hướng dẫn về Tư pháp đối với
trẻ em là người bị hại và người làm chứng của tội phạm năm 2003 của Cơ quan
Quốc tế về quyền trẻ em; Quy tắc Liên hiệp quốc về bảo vệ người chưa thành niên
bị tước đoạt quyền tự do năm 1990; các ngyên tắc cơ bản dành cho nạn nhân của tội
ác và lạm dụng quyền lực năm 1985; Hướng dẫn của Liên Hiệp Quốc về tư pháp
trong các vấn đề liên quan đến nạn nhân và nhân chứng của tội ác năm 2005, nhằm
để bảo vệ và thúc đẩy các quyền trẻ em, người chưa thành niên khi tham gia vào các
thủ tục xét xử của Toà án.
* Pháp luật Việt Nam:
Các thủ tục Tố tụng hình sự đối với người chưa thành niên được quy định
chung trong Bộ Luật Tố tụng hình sự và một số văn bản pháp luật khác có liên quan
so với Quốc tế chúng ta chưa có văn bản pháp luật riêng về thủ tục Tố tụng đối với
người chưa thành niên đặc biệt đối với người làm chứng chưa thành niên cụ thể: chỉ
có chương XXXII từ điều 301-310 Bộ Luật Tố tụng hình sự năm 2003 có quy định
thủ tục đối với người chưa thành niên là người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị
cáo là người chưa thành niên chưa có quy định đối với bị hại và nhân chứng chưa
thành niên.
Tuy nhiên trong Thông tư số 01/2011/TTLT-VKSTC-TANDTC-BCA-BTPBLDTBXH ngày 12/7/2011 có một số quy định về người làm chứng chưa thành
6
Tài liệu tập huấn “Người chưa thành niên phạm tội, nạn nhân và nhân chứng”, Vụ
minh và ăn nói lưu lót, nhưng có thể cảm thấy sợ hải khi được lấy lời khai ở đồn
công an khiến các em không thể cung cấp được các thông tin hữu ích. Để tiếp tục
vụ việc và truy tố thành công người phạm tội trong các vụ án có liên quan đến
người làm chứng chưa thành niên thì Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán
cần điều chỉnh phương pháp tiếp cận của mình nhằm làm giảm sự lo lắng hồi hộp
của người làm chứng chưa thành niên để các em có thể tham gia đầy đủ vào quá
trình tố tụng. Việc làm giảm những chấn thương tâm lý có thể xảy ra với người
chưa thành niên sẽ giúp tăng độ chính xác và đầy đủ trong lời khai của người làm
chứng chưa thành niên, tăng khả năng có được một kết quả thành công của thủ tục
Tố tụng hình sự. Thông thường các tội ác gây ra đặc biệt là đối với người chưa
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
15
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
thành niên như hiếp dâm hoặc xâm hại tình dục thường diễn ra trong bí mật, ít
người chứng kiến và ít bằng chứng hỗ trợ điều tra. Chính vì vậy lời khai và sự hợp
tác của người làm chứng chưa thành niên là điều cần thiết giúp cho quá trình tố tụng
diễn ra nhanh chóng và kịp thời.
Thứ ba: Người làm chứng chưa thành niên là người chưa phát triển toàn diện
về thể chất và tinh thần là người luôn phải chịu những thiệt thòi về sức khỏe, học
tập, tinh thần dễ bị tổn thương, làm gián đoạn và ảnh hưởng đến sự phát triển bình
thường của các em về sau. Vì vậy cần được chia sẻ, đồng hành và chăm sóc về mặt
tâm lý, xã hội của các em là vô cùng thiết yếu nhằm giúp các em tạo được sự cân
bằng, ổn định về mặt tinh thần, vững vàng, tự tin hơn trong các giai đoạn của quá
trình tố tụng. Hỗ trợ tâm lý có thể giúp trẻ giảm bớt sự lo lắng, căng thẳng và để
Người phạm tội hoặc thân nhân của họ trực tiếp hoặc thông qua người thứ ba
cố ý gây ra những thiệt hại về thể chất, tinh thần hoặc tài sản cho người làm chứng
chưa thành niên hoặc người thân thích của họ do việc họ đã hợp tác với cơ quan có
thẩm quyền, cung cấp thông tin, tài liệu có liên quan đến hành vi phạm tội của đối
tượng.
Đối với người làm chứng chưa thành niên thì nguy cơ bị kẻ phạm tội đe dọa,
khống chế càng cao hơn so với người đã thành niên. Người làm chứng chưa thành
niên chưa hoàn thiện về tâm lý, nhận thức, tình cảm, ý chí, tính cách, có sự nhận
thức xã hội nói chung, sự hiểu biết về pháp luật nói riêng còn non nớt, khả năng tự
đề phòng và tự bảo vệ mình hạn chế, khả năng ứng phó với những tình huống gây
cấn, phức tạp chưa cao và chưa biết cách tìm kiếm sự giúp đỡ của của người thân,
của những người, những cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bảo vệ công dân nên bị kẻ
phạm tội đe dọa, khống chế hơn người đã trưởng thành. Chính vì vậy, làm chứng
chưa thành niên đã không dám hợp tác, hoặc hợp tác không tích cực với các cơ
quan tiến hành tố tụng trong việc phát hiện, điều tra, xử lý các vụ án hình sự.
Thứ sáu: Người làm chứng chưa thành niên trong các vụ án hình sự, đặc biệt
là trong các vụ xâm hại tình dục, bị buôn bán, bị cưỡng bức, bạo hành có nguy cơ bị
miệt thị và phân biệt đối xử và ảnh hưởng rất lớn tới cuộc sống hiện tại cũng như
tương lai của các em. Thường dẫn đến tình trạng giấu diếm, không muốn tiết lộ thân
phận của mình vì sợ bị cười chê, bị xã hội khinh thường nên không dám đứng ra tố
cáo tội phạm như:
Người làm chứng chưa thành niên và người thân, gia đình họ, đặc biệt là
những vụ án mang tính nhạy cảm, thường giấu diếm tình trạng của mình và vì vậy
họ khó tiếp nhận được sự hỗ trợ cần thiết của các cơ quan chức năng, khó tiếp cận
được với các dịch vụ y tế, dịch vụ xã hội.
Người làm chứng chưa thành niên có xu hướng không muốn tiết lộ thân
phận của mình, khiến họ luôn lo lắng, căng thẳng, tự cô lập mình, cảm thấy tuyệt
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
thành niên.
1.2.3 Vai trò của người làm chứng chưa thành niên trong Tố tụng hình
sự
Trong sự phát triển không ngừng của xã hội, quyền tự do dân chủ của nhân
dân ngày càng được tôn trọng và phát huy trong mọi lĩnh vực của đời sống, đòi hỏi
cả pháp Luật nội dung và pháp Luật tố tụng phải có điều chỉnh phù hợp. Vấn đề dân
chủ bình đẳng và bảo vệ quyền con người trong Tố tụng hình sự luôn là động lực và
GVHD: Nguyễn Chí Hiếu
SVTH: Lê Minh Ngọc
18
Nghiên cứu một số hoạt động Tố tụng hình sự đối với người làm chứng
chưa thành niên-Thực tiễn áp dụng và giải pháp hoàn thiện
thước đo của tiến bộ xã hội là yêu cầu tôn trọng, bảo vệ hiệu quả quyền con người
nói chung và quyền tự do dân chủ quyền bình đẳng của các bên trong hoạt động Tố
tụng hình sự nói riêng. Do đó việc bảo đảm quyền cuả người làm chứng đặc biệt là
người làm chứng chưa thành niên trong hoạt động Tố tụng hình sự để bảo đảm hơn
nữa quyền của người làm chứng nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho người làm
chứng đứng ra nói lên sự thật góp phần ý nghĩa lớn trong hoạt động cải cách Tư
pháp trong các quá trình tố tụng hiện nay ngày càng được áp dụng mạnh mẽ hơn.
Người làm chứng trong vụ án hình sự nhất là người làm chứng chưa thành niên có ý
nghĩa đặc biệt quan trọng góp phần làm sáng tỏ sự thật khách quan, tạo cơ sở cho
Tòa án ra phán quyềt đúng người đúng tội, đảm bảo nguyên tắc “Không để lọt tội
phạm và không làm oan người vô tội”, do người làm chứng chưa thành niên có vai
trò thật quan trọng trong tất cả các quá trình tố tụng nhằm đảm bảo nói lên sự công
bằng trong vụ án. Do đặc điểm tâm lý người làm chứng chưa thành niên chưa phát
triển toàn diện, chưa hoàn thiện về thể chất và tinh thần, chưa có đầy đủ các quyền