Chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra - Pdf 25



1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
HUỲNH PHƢƠNG NAM

CHẾ ĐỊNH TÀI PHÁN
ĐỐI VỚI BỒI THƢỜNG THIỆT HẠI TRONG
HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ GÂY RA LUẬN VĂN THẠC SỸ LUẬT HỌC HÀ NỘI – 2012
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
HUỲNH PHƢƠNG NAM LUẬT DÂN SỰ HÀ NỘI - 2012 2
KHOA LUẬT


Chương 1: Chương 1: Khái quát chung về chế định tài phán đối với bồi
thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
6
1.1
Khái niệm, đặc điểm và vai trò của chế định tài phán đối với bồi
thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
6
1.2
Cơ sở của chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt
động tố tụng hình sự gây ra
15
1.3
Sơ lược sự hình thành và phát triển của chế định tài phán đối với
bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
19
1.4
Khái quát chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt
động tố tụng hình sự gây ra của pháp luật một số nước trên thế giới
31

Chương 2: Nội dung chế định tài phỏn đối với bồi thường thiệt
hại trong hoạt động tố tụng hỡnh sự gõy ra của phỏp luật Việt
nam hiện hành
37
2.1
Các quy định hiện hành về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho
người bị oan, sai do hoạt động tố tụng hình sự gây ra
37
2.2

77
3.2.2
Về thực hiện pháp luật
80

Kết luận
81

Danh mục tài liệu tham khảo
83 5
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

6
VKSNDTC
Viện Kiểm sát nhân dân tối cao
UBND
Ủy ban nhân dân
XHCN
Xã hội chủ nghĩa
7
MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Một trong những nguyên tắc cơ bản nhất của Nhà nước pháp quyền là
mọi chủ thể đều bình đẳng trước pháp luật, bất kể chủ thể đó là cá nhân, tổ
chức hay cơ quan Nhà nước. Điều này cũng có nghĩa là cơ quan Nhà nước
cũng phải chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do người thi hành công vụ của cơ
quan mình gây ra cho chủ thể khác trong xã hội.
Trong quá trình tiến hành tố tụng các vụ án hình sự, do nhiều nguyên
nhân khác nhau mà có thể có những vụ án oan, sai. Để khắc phục hậu quả từ
hành vi gây oan, sai đó từ phía các cơ quan tiến hành tố tụng, pháp luật Việt
nam đã có quy định riêng về vấn đề này như Nghị quyết số 388/2003/NQ-
UBTVQH11. Tuy nhiên, quá trình thực hiện đã nảy sinh nhiều hạn chế, bất
cập như hiệu lực pháp lý không cao, văn bản chưa được xây dựng trên quan
điểm coi việc bồi thường là trách nhiệm của Nhà nước nói chung mà chỉ coi
là trách nhiệm của cơ quan cụ thể có người gây thiệt hại khi thi hành công vụ.
Mặt khác, trong nhiều trường hợp, cơ quan có trách nhiệm giải quyết bồi

thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong Bộ luật dân sự” năm 1997 của tác giả
Lê Mai Anh - Trường Đại học Luật Hà nội;
- Luận án Tiến sỹ Luật học “Bồi thường thiệt hại do người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra” năm 2002 của tác giả Lê Mai
Anh - Trường Đại học Luật Hà nội;
- Luận văn Thạc sỹ Luật học “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về
trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước” năm 2006 của tác giả Lê
Thái Phương - Trường Đại học Luật Hà nội;
- Bài “Lỗi và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng” của
Tiến sỹ Phùng Trung Tập - Tạp chí Luật học số 10/2004; v.v. 9
Tuy nhiên, nội dung chủ yếu của các công trình nghiên cứu nêu trên là
nhằm làm rõ các cơ sở lý luận và thực tiễn của chế định trách nhiệm bồi
thường thiệt hại ngoài hợp đồng nói chung và trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước nói riêng. Chưa có công trình nghiên cứu nào nghiên cứu một cách
có hệ thống và toàn diện về chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại do
hoạt động tố tụng hình sự gây ra.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu đề tài nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về tài
phán trong việc bồi thường thiệt hại cho người bị xử lý oan, sai do hành vi
của người tiến hành tố tụng hình sự gây ra, làm rõ đặc điểm, nội dung và bản
chất của chế định này. Qua đó, phân tích làm rõ thực trạng pháp luật và thực
tiễn giải quyết bồi thường thiệt hại cho người bị oan, sai do người có thẩm
quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra, chỉ rõ những hạn chế, bất
cập và tìm ra các giải pháp để hoàn thiện chế định này nhằm nâng cao hiệu
quả của công tác giải quyết bồi thường cũng như việc khắc phục tốt nhất
những hậu quả của hành vi gây oan, sai trong thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử
vụ án hình sự.

quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra để làm cơ sở cho việc
nghiên cứu chế định tài phán trong việc bồi thường này.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của Chủ
nghĩa Mác- Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật, quán
triệt quan điểm của Đảng cộng sản Việt nam về cải cách tư pháp và xây dựng
Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.
Việc nghiên cứu cũng được tiến hành với các phương pháp cụ thể như
phương pháp phân tích, so sánh, thống kê, tổng hợp. Các nguồn thông tin, tư
liệu được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu đề tài này là 11
các bài viết, tham luận, báo cáo chuyên đề của các nhà khoa học pháp lý,
những người làm thực tiễn ở các cơ quan tư pháp và các cơ quan có liên quan.
6. Những điểm mới của đề tài
Đề tài này là công trình đầu tiên ở Việt Nam nghiên cứu tương đối toàn
diện và có tính hệ thống về chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại
trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Với ý nghĩa đó, việc nghiên cứu đã
làm sáng tỏ được một số vấn đề lý luận cơ bản về chế định tài phán đối với
bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra như khái niệm, đặc
điểm, vai trò và cơ sở của chế định tài phán.
Việc nghiên cứu cũng đã làm rõ được nội dung của chế định tài phán
đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra. Trên cơ sở
làm rõ luận cứ khoa học và thực tiễn thực hiện của chế định tài phán đối với
bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra, việc nghiên cứu
đề tài đã tìm ra giải pháp, kiến nghị để sửa đổi, bổ sung quy định pháp luật
hiện hành liên quan đến việc xây dựng hoàn thiện một cơ quan tài phán thực
sự độc lập và hoạt động có hiệu quả, nhằm bảo đảm việc bồi thường cho
người bị xử lý oan, sai do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng

chịu [31, tr.749] hoặc là bị quy tội không đúng, phải chịu sự trừng phạt một
cách sai trái, vô lý [63, tr.1269]; sai được hiểu là không đúng, không hợp với
lẽ phải, lẽ công bằng [52, tr.786] hoặc không phù hợp với cái hoặc điều có
thật, mà có khác đi, chệch đi so với nhau, không khớp với nhau; không phù
hợp với yêu cầu khách quan, lẽ ra phải khác; không phù hợp với phép tắc,
những điều quy định [31, tr.843]. Trong tố tụng hình sự, oan là tình trạng của
một người không thực hiện hành vi phạm tội nhưng bị các cơ quan tiến hành
tố tụng xác định họ phạm tội và thực hiện các biện pháp tố tụng bất lợi đối với
họ như khởi tố, tạm giam, truy tố, xét xử Sai trong tố tụng hình sự thì thể
hiện ở nhiều trường hợp, nhiều mức độ và nguyên nhân khác nhau. Việc điều 13
tra, truy tố, xét xử sai có cả nguyên nhân do vô ý, cố ý từ phía những người
tiến hành tố tụng, từ việc thiếu thận trọng, thiếu khách quan hay áp dụng sai
pháp luật, đánh giá sai lệch về chứng cứ hoặc sự kiện khách quan không bộc
lộ được đúng bản chất của vụ án Sai trong tố tụng hình sự có thể là quy kết
không đúng hành vi của người phạm tội hoặc tính chất, mức độ hành vi dẫn
đến việc đưa ra quan điểm xử lý, mức xử lý không phù hợp, không đầy đủ.
Tuy nhiên, sai cũng có thể là vô ý hay cố ý dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm hoặc
xử lý không đúng với bản chất hành vi, sự việc hoặc mức xử lý quá nhẹ so với
tính chất của nó. Cả oan và sai đều có thể gây thiệt hại về vật chất và tinh thần
cho đối tượng bị điều tra, truy tố, xét xử cũng như những người liên quan đến
vụ án. Nói đến đối tượng bị oan thì thường được hiểu đó là người bị pháp luật
xử lý không đúng, quá mức. Tuy nhiên, đối tượng của hành vi làm sai thì được
hiểu rộng hơn, bao gồm hầu hết mọi đối tượng liên quan đến vụ án, trong đó có
cả đối tượng bị oan. Nói cách khác, sự thiệt hại của cá nhân, tổ chức không chỉ
giới hạn khi họ vướng vào vòng tố tụng.
Theo ngôn ngữ Tiếng Anh, “bồi thường thiệt hại” và “đền bù tổn thất”
đều là “compensation”. Tuy nhiên, trong ngôn ngữ tiếng Nhật hai khái niệm

pháp lý giữa các chủ thể có yêu cầu và Toà án có thẩm quyền giải quyết theo
một trình tự tố tụng. Theo cách hiểu này thì tài phán đồng nghĩa với xét xử.
Cách hiểu thứ hai, coi tài phán là toàn bộ các hoạt động xem xét, đánh
giá và đưa ra phán quyết về một vụ việc tranh chấp pháp lý, có thể bao gồm
cả việc xem xét lại cơ chế giải quyết liên quan đến tranh chấp của cơ quan
khác trước đó (Ví dụ như việc Toà án xem xét lại quy trình và nội dung giải
quyết khiếu nại trong vụ kiện hành chính). Quyền tài phán không chỉ được
trao cho cơ quan Toà án mà còn được trao cho một số cơ quan chức năng 15
khác thực hiện theo luật định (cơ quan hành chính, thanh tra, trọng tài…).
Theo cách hiểu này thì khái niệm tài phán rộng hơn khái niệm xét xử.
Quyền tài phán thể hiện quyền năng của chủ thể được pháp luật trao
quyền giải quyết tranh chấp pháp lý. Cũng có loại quyền năng không phải do
pháp luật trực tiếp đặt ra hoặc trao quyền mà do quy phạm pháp luật cho phép
cá nhân, tổ chức liên quan thiết lập. Hiện nay, trên thế giới tồn tại các khái
niệm mô hình tổ chức tài phán điển hình như tài phán hiến pháp, tài phán
hành chính và tài phán tư pháp.
Tài phán hiến pháp được hiểu là hoạt động của cơ quan có thẩm quyền
kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của các đạo luật do cơ quan lập pháp ban
hành. Ở Mỹ và Anh, khái niệm này thường dùng thuật ngữ “jusdical review”-
nghĩa là kiểm tra tư pháp. Tuỳ theo điều kiện của từng nước mà có mô hình
tài phán bảo hiến khác nhau như có thể giao cho Toà án tư pháp xem xét văn
bản đã được ban hành khi có tranh chấp hay theo sự kiện pháp lý cụ thể
(American model) hay giao cho nghị viện phê chuẩn văn bản trước khi được
Tổng thống phê chuẩn (French model) hay thành lập cơ quan chuyên trách để
kiểm tra (European model) hoặc trao thẩm quyền hỗn hợp vừa do Toà án bảo
hiến giải quyết, cũng có thể do Toà án khác giải quyết đối với từng vụ việc cụ
thể (Mixed model) [3].

quy định pháp luật về cơ chế hoạt động của cơ quan có thẩm quyền trong việc
giải quyết yêu cầu về bồi thường thiệt hại đối với hành vi gây oan, sai của
người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại
trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
Tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự
gây ra mà nội dung của nó là tài phán trong việc BTTH cho người bị oan, sai
do người có thẩm quyền của CQTHTTHS gây ra mang tính đặc thù khác với 17
các tài phán khác bởi chủ thể tham gia tố tụng- người bị kiện chính là
CQTHTT, kể cả là Toà án- một cơ quan có chức năng tài phán. Do vậy, để
giải quyết được đúng đắn và triệt để yêu cầu của người bị thiệt hại, chế định
tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có
các đặc điểm sau:
Thứ nhất, có tính quyền lực
Hoạt động tài phán trong việc bồi thường thiệt hại do hoạt động TTHS
gây ra chỉ do các cơ quan, cá nhân có thẩm quyền theo quy định của pháp luật
tiến hành. Cơ quan tài phán phải được Nhà nước trao quyền, thể hiện ý chí,
quyền lực Nhà nước, phán quyết phải được đảm bảo thực thi bằng cưỡng chế
nhà nước, nhằm bảo vệ quyền lợi hợp pháp, chính đáng của công dân và bù
đắp những thiệt hại vật chất và tinh thần mà người bị oan, sai phải gánh chịu,
đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Trong quá trình tiến hành hoạt động
tài phán, chủ thể có thẩm quyền nhân danh quyền lực nhà nước, sử dụng
quyền lực nhà nước để ban hành ra những mệnh lệnh, quyết định có giá trị bắt
buộc các chủ thể khác có liên quan phải tôn trọng chấp hành hoặc thực hiện.
Đây là ý chí đơn phương của chủ thể tiến hành tài phán có thẩm quyền trên cơ
sở pháp luật mà không phụ thuộc vào ý chí của chủ thể khác tham gia. Đồng
thời, hoạt động tài phán này phải được tiến hành theo những điều kiện, trình

vi phạm của kẻ mạnh càng phải được xử lý trách nhiệm triệt để hơn.
Thứ tư, có tính nhân đạo
Con người luôn là vị trí trung tâm, là mục tiêu và động lực của mọi
chính sách, đường lối phát triển trong xã hội. Với nhận thức về vị thế của con
người, vấn đề đảm bảo quyền con người, quyền cơ bản của công dân cần phải
được coi trọng và đặt lên hàng đầu. Trên cơ sở nguyên tắc bảo đảm thực hiện
các quyền dân sự, chính trị của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp, rất 19
nhiều đạo luật khác được ban hành làm công cụ pháp lý quan trọng để bảo
đảm các quyền dân sự của công dân.
Trong hoạt động tiến hành tố tụng hình sự, oan, sai là hiện tượng vẫn
xảy ra với nhiều nguyên nhân khác nhau, xâm phạm đến quyền cơ bản của
công dân được pháp luật bảo hộ, ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, tinh
thần, tài sản của người bị thiệt hại. Việc giải quyết bồi thường oan, sai trong
hoạt động TTHS chính là việc khắc phục phần nào thiệt hại do hành vi làm
oan, sai gây ra, bảo đảm các quyền dân sự của công dân mà pháp luật ghi
nhận và mọi phán quyết công bằng, hợp lý, đúng pháp luật chính là nhằm bảo
vệ quyền con người.
Thứ năm, có tính chuyên môn hóa
Lý luận và thực tiễn thi hành pháp luật của các nước văn minh, tiến bộ
đã chứng minh sự độc lập trong hoạt động tư pháp là biểu hiện đặc trưng của
Nhà nước pháp quyền và nền tư pháp dân chủ, bình đẳng và công bằng và bảo
vệ hữu hiệu các quyền con người, quyền công dân [60]. Việc giải quyết yêu
cầu về BTTH do hoạt động TTHS gây oan, sai thường rất phức tạp. Vì vậy,
hoạt động giải quyết yêu cầu này của cơ quan tài phán đòi hỏi phải có tính
chuyên môn hóa và phải độc lập trong phán quyết, không chịu sự chi phối của
cơ quan, tổ chức khác và chỉ tuân theo pháp luật. Điều này đòi hỏi một cơ chế
để xây dựng mô hình, cơ cấu tổ chức tài phán và tiêu chuẩn người thực thi

bị xử lý oan, sai và gia đình họ phải gánh chịu, cũng như là cơ sở để yêu cầu
người gây thiệt hại phải hoàn trả CQTHTT. Như vậy sẽ đề cao trách nhiệm,
sự tôn trọng pháp luật, tính chịu trách nhiệm của người tiến hành tố tụng, hạn
chế sự lạm quyền và các hành vi vi phạm trong quá trình tiến hành tố tụng
hình sự, hạn chế oan, sai, đảm bảo công bằng xã hội. Từ đó cũng bảo vệ được
uy tín của Nhà nước, bảo vệ pháp chế Xã hội chủ nghĩa. 21
1.2. Cơ sở của chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong
hoạt động tố tụng hình sự gây ra
1.2.1 Cơ sở lý luận của chế định tài phán đối với bồi thường thiệt hại
trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
Lý do xác định thiệt hại do người của CQTHTTHS gây ra thuộc trách
nhiệm của CQTHTT đó vì mặc dù các hành vi tố tụng gây thiệt hại cho người
tham gia tố tụng đều do cá nhân người tiến hành tố tụng gây ra nhưng họ thực
hiện hành vi đó trong khi thi hành công vụ, nhiệm vụ mà CQTHTTHS giao,
và nhân danh CQTHTTHS trong hoạt động tố tụng. Do vậy, về mặt lý luận,
đây là loại trách nhiệm pháp lý BTTH ngoài hợp đồng mà chủ thể chịu trách
nhiệm là chủ thể đặc biệt- Nhà nước. Người bị thiệt hại là cá nhân, cơ quan,
tổ chức đã tham gia tố tụng với tư cách là bị can, bị cáo, bị hại, nguyên đơn
dân sự, bị đơn dân sự và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong các vụ
án hình sự.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 8 Ban chấp hành Trung ương Đảng khoá
VII (ngày 23/01/1995) về đổi mới hoạt động của cơ quan tư pháp khẳng định
rõ yêu cầu: “đối với việc bắt giữ, xét xử oan sai cần truy cứu trách nhiệm của
những người ra lệnh và người thừa hành, đồng thời minh oan công khai, thoả
đáng đối với người bị bắt giữ, xét xử oan sai, đảm bảo quyền công dân đúng
pháp luật.” [8]
Chỉ thị số 53-CT/TW ngày 21/3/2000 của Bộ chính trị nêu rõ: “Việc

mà còn có thể là cơ quan, tổ chức. Người bị thiệt hại không nhất thiết phải là
người tham gia tố tụng mà có thể là người khác gián tiếp chịu thiệt hại do
hành vi gây oan, sai đó gây ra (Ví dụ như: bố bị bắt oan làm con thất học, gia
đình ly tán; Giám đốc bị bắt dẫn đến hoạt động của công ty bị đình trệ, thất
thu hoặc phá sản ). 23
Mặt khác, thực tiễn cũng cho thấy có sự khác biệt rất rõ nét trong quan
niệm về tranh chấp. Người ta thường nói đến sự tranh chấp giữa công dân, tổ
chức với nhau mà ít khi coi việc xung đột quyền lợi giữa một bên là Nhà nước
với một bên là công dân, cơ quan, tổ chức là tranh chấp. Tuy nhiên, trong
quan hệ BTTH ngoài hợp đồng nói chung và BTTH do hành vi gây oan, sai
của người tiến hành tố tụng gây ra, mà bên gây thiệt hại nhân danh Nhà nước,
bên bị thiệt hại là công dân, cơ quan, tổ chức và nếu không thỏa thuận được
cách thức giải quyết và mức bồi thường thì xung đột đó chính là sự tranh
chấp. Sự nhận thức đó xuất phát từ sự mất cân bằng về địa vị xã hội của mỗi
bên, mặc dù địa vị pháp lý trong lý luận về quan hệ pháp luật BTTH ngoài
hợp đồng là ngang nhau. Và chính sự mất cân bằng đó tạo sự bất bình đẳng
trong quan hệ đối xử khi cơ quan Tòa án- cũng là cơ quan Nhà nước- phải
thực hiện nhiệm vụ phán xét, phân xử đối với CQTHTT khác hoặc đối với
chính mình.
Pháp luật do Nhà nước ban hành. Tòa án cũng do Nhà nước thành lập,
tổ chức. Thẩm phán- những người “cầm cân nảy mực” của Tòa án cũng là
người của Nhà nước do được bổ nhiệm, tuyển dụng và hưởng lương từ Ngân
sách Nhà nước. Khi xét xử họ cũng phải áp dụng các quy định của pháp luật
do Nhà nước ban hành. Như vậy, cơ quan xét xử, người thực thi nhiệm vụ xét
xử là đương nhiên phải chịu sự chi phối, ảnh hưởng của Nhà nước. Thế
nhưng, khi mà Nhà nước là bên gây thiệt hại, có trách nhiệm bồi thường với
bên bị thiệt hại là công dân, tổ chức khác thì sự chi phối này sẽ dẫn đến sự

giải các vấn đề lý luận về cơ chế, quyền tài phán về bồi thường oan, sai do
người của CQTHTTHS gây ra. Như vậy, mới có thể xây dựng một hệ thống
cơ quan tài phán và nguyên tắc tài phán đối với bồi thường thiệt hại trong
hoạt động TTHS gây ra phù hợp với đặc điểm chính trị, kinh tế Việt nam và
thông lệ quốc tế. 25
1.3. Sơ lược sự hình thành và phát triển của chế định tài phán đối
với bồi thường thiệt hại trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra
1.3.1. Giai đoạn trước năm 2003
Ở chế độ phong kiến, quân chủ chuyên chế, Nhà nước không chịu bất
kỳ loại trách nhiệm pháp lý nào đối với người dân của họ. Vua là người đứng
đầu nhà nước và có quyền quyết định tối cao và không giới hạn về mọi vấn đề
trong xã hội như chính trị, quân sự, kinh tế và tôn giáo. Quyền lực nhà nước
cũng chính là quyền lực của Nhà Vua. Dưới chế độ này, mặc dù vấn đề trách
nhiệm của nhà nước hay Vua trước hành vi sai trái của quan lại không được
đặt ra nhưng vấn đề xử lý trách nhiệm của quan lại gây oan, sai đối với dân
chúng cũng được ban hành trong từng trường hợp cụ thể hoặc bằng việc
ban hành luật lệ. Tuy nhiên, pháp luật thời kỳ này cũng chưa có sự phân
định rõ ràng giữa dân sự và hình sự, giữa cơ quan tài phán và cơ quan quản
lý hành chính.
Ngay từ thời Lê sơ (thế kỷ XV), nguyên tắc tránh gây oan sai cũng đã
được hình thành. Điều 677 Bộ luật Hồng Đức (Quốc triều hình luật- 1483)
quy định: “Khi lấy khẩu cung người phạm tội, quan tra phải xem xét kỹ tìm ra
sự thật, để cho kẻ phạm phải nhận tội, không được hỏi quá rộng đến cả người
ngoài để tìm chứng cứ bậy.” Điều 237 Bộ luật này cũng đặt ra trách nhiệm
của người làm oan, sai cho người khác mà không chịu khắc phục hậu quả:
“Những ty quan làm việc có điều lầm lỗi, sự tình đã rõ ràng mà không chịu
phục tình tạ lỗi, lại còn dối trá che đậy, xét tội nhẹ thì xử biếm hay tội đồ,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status