Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
A. MỞ BÀI
Trách nhiệm bồi thường của nhà nước không phải phát sinh trong mọi lĩnh
vực của đời sống xã hội mà trách nhiệm đó chỉ giới hạn trong một số lĩnh vực
nhất định, cụ thể là trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước, hoạt động tố
tụng bao gồm tố tụng dân sự, tố tụng hình sự, tố tụng hành chính và trong lĩnh
vực thi hành án. Bài viết sau đây sẽ đề cập đến trách nhiệm bồi thường của nhà
nước trong hoạt động tố tụng hình sự, cụ thể là vấn đề “Xác định phạm vi trách
nhiệm bồi thường của nhà nước trong hoạt động tố tụng hình sự. Cho ví dụ minh
họa”.
B. NỘI DUNG
I- Khái quát chung về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt
động tố tụng hình sự.
1, Khái niệm
Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được hiểu là trách nhiệm pháp lý
trong đó Nhà nước bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi
hành công vụ gây ra trong một số lĩnh vực hoạt động của Nhà nước. Trách nhiệm
bồi thường của Nhà nước chỉ phát sinh trong một số lĩnh vực nhất định, cụ thể là
trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước, trong hoạt động tố tụng dân sự, tố
tụng hình sự, tố tụng hành chính và trong hoạt động thi hành án.
Trong đó thì trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố
tụng hình sự có thể hiểu là trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi người thi
hành công vụ có hành vi gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức trong quá trình thực
hiện các hoạt động tố tụng hình sự.
2, Đặc điểm
Ở nước ta, quyền được bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của
cơ quan tiến hành tố tụng hình sự gây ra được ghi nhận tại điều 72 Hiến pháp
1992. Đồng thời, Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã cụ thể hóa quy định của
Hiến pháp về vấn đề này tại các điều luật như điều 29 và điều 30 của Bộ luật tố
tụng hình sự 2003. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố
sự đã gây ra thiệt hại cho người bị thiệt hại.
+ Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm bồi thường đối với các quyết định, hành vi của
những người tiến hành hoạt động tố tụng hình sự thuộc phạm vi trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước được quy định tại Điều 26 của Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước 2009.
+ Các quyết định, hành vi của những người tiến hành tố tụng hình sự chỉ phát
sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước khi được xác định trong bản án,
quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình
sự. Tức là cá nhân, tổ chức muốn Nhà nước bồi thường thiệt hại cho mình do
người tiến hành hoạt động tố tụng hình sự gây ra thì phải có bản án, quyết định
của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị
thiệt hại thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.
II- Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự. Ví dụ minh họa.
Nông Văn Chấn - 351842
Page 2
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
1, Cơ sở pháp lý của phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong
hoạt động tố tụng hình sự.
Điều 26 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009, quy
định [1]. Như vậy, Điều 26 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm
2009 đã liệt kê các trường hợp Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do
người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động tố tụng hình sự.
2, Phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng
hình sự.
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
+ Có quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ của cơ quan có thẩm quyền
trong hoạt động tố tụng hình sự.
+ Việc tạm giữ đã gây ra thiệt hại cho người bị tạm giữ.
Ví dụ: Công an quận Hoàng Mai( Hà Nội) đã ra quyết định tạm giữ đối
với anh Hà Văn An ( 27 tuổi) vì anh Hà Văn An đã ra tự thú rằng anh đã trộm
chiếc xe máy của chị Nguyễn Thị Hoa trú tại quận Cầu Giấy- Hà Nội. Tuy
nhiên, qua quá trình điều tra thì cơ quan điều tra đã xác minh rằng anh Hà Văn
An ra tự thú là do bị anh Nguyễn Văn Tài ép buộc và đe dọa rằng nếu anh An
không ra tự thú thì anh Tài sẽ làm cho anh An không thể tiếp tục kinh doanh
đồng thời, tại thời điểm chiếc xe máy của chị Hoa bị trộm cắp thì anh Hà Văn
An đang tham dự hội nghị về kinh nghiệm kinh doanh tại quận Thanh Xuân( Hà
Nội). Do đó, cơ quan điều tra đã ra quyết định hủy bỏ quyết định tạm giữ đối
với anh Hà Văn An. Trong trường hợp này, anh Hà Văn An được bồi thường
thiệt hại do thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định
tại Khoản 1 Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009.
2.2, Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành
hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người
đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm
quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện
hành vi phạm tội.
Tạm giam là biện pháp ngăn chặn của tố tụng hình sự do các cơ quan điều
tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với những người đã bị khởi tố về hình sự
hoặc người đã bị tòa án quyết định đưa vụ án xét xử để đảm bảo thuận lợi cho
việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Tuy nhiên, biện pháp tạm
giam không phải áp dụng cho tất cả bị can, bị cáo mà nó chỉ được áp dụng trong
một số trường hợp như: bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội
rất nghiêm trọng; bị can, bị cáo phạm tội nghiệm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng
mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên 2 năm và có căn cứ cho rằng người
- Thứ nhất, không có sự việc phạm tội: Đây là trường hợp người bị thiệt
hại không thực hiện bất cứ hành vi vi phạm pháp luật nào. Có thể hiểu đây là
trường hợp mà họ đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự áp dụng các biện
pháp ngăn chặn hoặc họ đã bị khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án oan.
Ví dụ 1: Cơ quan điều tra phát hiện hành vi của B có dấu hiệu của tội “
trộm cắp tài sản” và đã ra quyết định khởi tố vụ án hình sự đối với B đồng thời
tạm giam 2 tháng đối với B và trong thời giam bị tạm giam B bị thiệt hại về sức
khỏe. Viện kiểm sát đã ra quyết định truy tố bị can đối với B. Tuy nhiên, Tòa án
cấp sơ thẩm tuyên B không phạm tội “ trộm cắp tài sản”. Đây được xem là
trường hợp không có sự việc phạm tội. Chính vì vậy mà Nhà nước có trách
nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị giam oan, cụ thể trong trường hợp này
người được Nhà nước bồi thường chính là B.
Ví dụ 2:, Anh D bị Tòa án nhân dân tỉnh M kết án về tội “giết người” và tuyên
hình phạt tử hình. Sau đó, anh D kháng cáo và Tòa án nhân dân tối cao xử hủy
bản án sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh M tuyên D không phạm tội “giết
người”vì trên thực tế anh D không thực hiện hành vi phạm tội và đình chỉ vụ án.
Nông Văn Chấn - 351842
Page 5
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
Do vậy, đây là trường hợp mà người bị kết án tử hình và sau đó có bản án, quyết
định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người
đó không thực hiện hành vi phạm tội mà việc không thực hiện hành vi phạm tội
ở đây được hiểu là không có sự việc phạm tội. Do đó, anh D được Nhà nước bồi
thường thiệt hại do bị tuyên hình phạt tử hình oan.
- Thứ hai, hành vi vi phạm không cấu thành tội phạm: Có thể hiểu trong
Page 6
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó
không thực hiện hành vi phạm tội (Khoản 3 Điều 26 Luật trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước năm 2009): Đây là trường hợp một người tuy không bị áp
dụng các biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam hoặc không bị kết án phạt
tù có thời hạn nhưng họ đã bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án hay nói cách
khác họ đã bị các cơ quan tiến hành tố tụng bằng các quyết định đặc trưng của
mình khẳng định họ là người có tội và có thể đã buộc họ phải chịu hình phạt như
cảnh cáo, phạt tù cho hưởng án treo, hình phạt cải tạo không giam giữ, hình phạt
trục xuất, quản chế hoặc cấm cư trú, hình phạt tiền hoặc tịch thu tài sản. Vì vậy,
khi có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng
hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì trách nhiệm bồi
thường của Nhà nước được đặt ra.
Ví dụ 1: Anh Nguyễn Văn Thành bị Tòa án nhân dân huyện D kết án về
tội “ kinh doanh trái phép” và tuyên phạt 2 năm tù. Sau đó, Tòa án cấp phúc
thẩm hủy bản án sơ thẩm và tuyên Nguyễn Văn Thành không phạm tội “kinh
doanh trái phép”. Như vậy, trong trường hợp này theo quy định của pháp luật
thì anh Nguyễn Văn Thành được Nhà nước bồi thường do không thực hiện hành
vi phạm tội.
Ví dụ 2: Chị H bị Tòa án nhân dân huyện K kết án về tội “ lạm dụng tín
nhiệm chiếm đoạt tài sản” và tuyên hình phạt với chị H là 10 năm tù. Chị H
kháng cáo, tòa án cấp phúc thẩm xử hủy bản án của Tòa án nhân dân huyện K
và tuyên chị H không phạm tội “lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Như
vậy, theo quy định tại điều 26 của Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước
2009, cụ thể là theo khoản 3 điều 26 thì chị H được Nhà nước bồi thường do chị
H không thực hiện hành vi phạm tội.
và tội “ cố ý gây thương tích cho người khác”với hình phạt là 10 tháng tù giam.
A đã chấp hành được 2 năm tù giam. A kháng cáo và tòa án cấp phúc thẩm
tuyên A chỉ phạm tội “gây rối trật tự công cộng” và tội “cố ý gây thương tích
cho người khác” mà không phạm tội “đua xe trái phép”. Như vậy thì tổng hình
phạt của A đối với 2 tội trên là 1 năm 10 tháng tù giam, tuy nhiên A lại chấp
hành 2 năm tù giam. Do vậy, trong trường hợp này A sẽ được Nhà nước bồi
thường thiệt hại tương ứng với 2 tháng chấp hành hình phạt tù vượt quá so với
hình phạt 2 năm tù mà A phải chấp hành.
- Thứ ba, trường hợp người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong
một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết
định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người
đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại
ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời
gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà
người đó phải chấp hành (Khoản 5 Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của
Nhà nước năm 2009).
Ví dụ: Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương, tuyên Vi Văn Lai phạm 3 tội là tội “
giết người” với hình phạt tử hình, tội “ cưỡng đoạt tài sản” với hình phạt 2 năm
tù và tội “ chống người thi hành công vụ” với hình phạt 3 năm tù và tổng hợp
Nông Văn Chấn - 351842
Page 8
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
hình phạt đối với Vi Văn Lai là tử hình. Tuy nhiên, Vi Văn Lai kháng cáo nên
Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao xét xử phúc thẩm tuyên Vi Văn Lai
không phạm tội “giết người” và tội “chống người thi hành công vụ” mà chỉ
Nông Văn Chấn - 351842
Page 9
Bài tập lớn học kỳ - Luật bồi thường nhà nước
2.4, Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên,
tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2
và 3 Điều 26 Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 thì được
bồi thường.
Trong quá trình tiến hành các hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan cũng như
những người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự có thể thu giữ thư
tín, điện tín, bưu kiện, bưu phẩm theo Điều 144 BLTTHS-2003; tạm giữ đồ vật,
tài liệu khi khám xét theo quy định tại Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự; kê biên
tài sản theo Điều 146 BLTTHS; tịch thu tài sản theo Điều 267 BLTTHS nếu có
căn cứ cho rằng đây là các chứng cứ liên quan trực tiếp đến vụ án, để bảo đảm
thi hành án hình sự hoặc để đảm bảo việc thi hành các bản án, quyết định hình
sự. Tuy nhiên, khi có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt
động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thì
việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý tài sản của các cơ quan tiến hành tố
tụng hình sự đã gây thiệt hại đối với các tài sản của cá nhân, tổ chức. Như vậy,
trong trường hợp này những thiệt hại về tài sản do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên,
tịch thu, xử lý được Nhà nước bồi thường.
Ví dụ : Anh T- Giám đốc của công ty trách nhiệm hữu hạn An Lộc bị
Tòa án nhân dân huyện N kết án về tội “ kinh doanh trái phép” và bị tòa án
tuyên phạt 2 năm tù giam. Anh T kháng cáo, tòa phúc thẩm xử hủy bản án của
tòa cấp sơ thẩm, tuyên anh T không phạm tội “ kinh doanh trái phép” vì thực tế
hành vi của anh T không cấu thành tội “kinh doanh trái phép” và trả tự do cho
anh T ngay tại tòa. Do bị Tòa án nhân dân huyện N kết án về tội “ kinh doanh