LUẬN VĂN:
Hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại
NHNo&PTNT Láng Hạ_ Thực trạng và giải
pháp hoàn thiện
Lời mở đầu
“Không có đầu tư sẽ không có phát triển”, đó là chân lý đối với bất kỳ nền kinh tế
nào. Đầu tư là động lực, là nguồn gốc của tăng trưởng kinh tế. Trong một nền kinh tế, để
có đầu tư phải có quá trình chuyển tiết kiệm thành đầu tư mà NHTM chính là một trong
những trung gian tài chính thực hiện quá trình này. Thông qua hoạt động tài trợ cho các
dự án đầu tư, các NHTM đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Tài trợ dự án là
hoạt động mang lại lợi nhuận cao cho NHTM, song cũng là hoạt động chứa đựng nhiều
rủi ro (do quy mô lớn, thời gian dài,…). Để hạn chế rủi ro, hướng tới mục tiêu an toàn và
sinh lời, các NHTM ngày càng ý thức được tầm quan trọng của việc thẩm định dự án đầu
tư trước khi ra quyết định tài trợ.
Chương 1
hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư của các
Ngân hàng thương mại
1.1 Tổng quan về Ngân hàng thương mại
1.1.1 Khái niệm Ngân hàng thương mại
Trong nền kinh tế tại một thời điểm nhất định luôn có sự thặng dư vốn ở nơi này và thâm
hụt vốn ở nơi khác. Thị trường tài chính đã giúp nền kinh tế hoạt động có hiệu quả hơn
bằng cách di chuyển các luồng vốn từ nơi thừa đến nơi thiếu. Điều này được thực hiện
qua hai con đường là tài chính trực tiếp và tài chính gián tiếp. Tài chính trực tiếp là sự
tiếp xúc và chuyển nhượng vốn giữa người thặng dư vốn và người thâm hụt vốn một cách
trực tiếp trên thị trường. Tài chính trực tiếp có một số điểm hạn chế như mất thời gian tìm
kiếm đối tác có nhu cầu tương hợp, người cho vay phải tự đánh giá người vay khiến chi
phí bỏ ra trên một đồng vốn lớn,… Vì thế sự ra đời của tài chính gián tiếp giúp cho thị
- Các nghiệp vụ truyền thống: Chiết khấu thương phiếu, cho vay thương mại; Tài trợ các
hoạt động của Chính phủ.
- Các nghiệp vụ mới phát triển gần đây: Cho vay tiêu dùng; Dịch vụ thuê mua thiết bị;
Cho vay tài trợ dự án.
Qua quá trình phát triển của Ngân hàng, các nghiệp vụ tín dụng cũng ngày càng đa dạng,
đáp ứng tốt hơn những nhu cầu phong phú và những yêu cầu ngày càng cao của khách
hàng.
Các hoạt động khác
Ngoài hai nhóm hoạt động cơ bản và điển hình kể trên, các NHTM còn thực hiện một số
hoạt động cơ bản khác nhằm tận dụng các nguồn lực sẵn có, đáp ứng nhu cầu khách hàng
và tìm kiếm lợi nhuận. Các hoạt động đó là: Thực hiện trao đổi ngoại tệ; Bảo quản vật có
giá; Cung cấp dịch vụ uỷ thác; Thanh toán không dùng tiền mặt; Quản lý tiền mặt; Bán
các dịch vụ bảo hiểm; Cung cấp các kế hoạch hưu trí; Cung cấp các dịch vụ môi giới đầu
tư chứng khoán; Cung cấp dịch vụ quỹ tương hỗ và trợ cấp; Cung cấp dịch vụ Ngân hàng
đầu tư và Ngân hàng bán buôn.
1.2 thẩm định dự án đầu tư
1.2.1 Dự án đầu tư
Đầu tư là một nhu cầu thiết yếu đối với mỗi nền kinh tế. Đầu tư là hoạt động hy sinh các
nguồn lực (tiền, tài sản có sẵn, thời gian, công sức,…) vào một hoạt động nào đấy, trong
một thời gian nhất định để đạt được lợi ích (tiền, lợi ích xã hội,…). Đặc điểm của hoạt
động đầu tư là: quyết định đầu tư là một quyết định tài chính, phải được cân nhắc về tính
khả thi của nó, cân nhắc giữa những gì phải bỏ ra và những kết quả kỳ vọng; và một đặc
điểm rất quan trọng nữa là đầu tư mang tính rủi ro. Tính rủi ro của đầu tư bắt nguồn từ
bản chất của hoạt động đầu tư là hy sinh nguồn lực ở hiện tại để kỳ vọng những lợi ích ở
tương lai dài hạn. Vì thế để thực hiện đầu tư và đầu tư có hiệu quả cao nhất đòi hỏi phải
có sự chuẩn bị chu đáo, dự tính và lên kế hoạch cho các giai đoạn đầu tư cụ thể. Sự chuẩn
bị này được thực hiện thông qua việc lập các dự án đầu tư. Vậy dự án đầu tư là gì?
1.2.1.1 Khái niệm về dự án đầu tư
Hiện nay có nhiều quan điểm khác nhau trong cách định nghĩa dự án đầu tư, đó là:
ngành của họ, có giá trị nhỏ hơn hoặc bằng 10 triệu VND
- Giám đốc: quyết định đầu tư và quản lý những dự án có quy mô từ 100 triệu VND
trở xuống.
- Chủ tịch Hội đồng quản trị: quyết định đầu tư và quản lý những dự án có quy mô
trên 100 triệu VND
Cũng cần lưu ý rằng, đối với những dự án nhỏ (chẳng hạn có giá trị nhỏ hơn 10 triệu
VND) có thể không nhất thiết cần áp dụng những kỹ năng phân tích tinh vi. Nhưng đối
với những dự án lớn thì nhất thiết phải sử dụng những kỹ thuật phân tích hữu hiệu.
Phân loại theo mục đích
Sự phân loại các dự án đầu tư có thể dựa trên chức năng hay mục đích của chúng. Các dự
án đầu tư có thể được phân chia thành các loại theo các mục đích sau:
- Thay thế thiết bị hiện có.
- Đẩy mạnh tiêu thụ những sản phẩm hiện có trong những thị trường mà doanh
nghiệp đang kiểm soát.
- Tung những sản phẩm hiện có vào các thị trường mới.
- Cải tiến sản phẩm hiện có.
Trong khi lợi nhuận và chi phí của việc thay thế những thiết bị có giá trị thấp thường chỉ
được đánh giá một cách tương đối, thì đối với những dự án thuộc loại đẩy mạnh tiêu thụ,
triển khai sản phẩm mới hay chiếm lĩnh thị trường của đối thủ cạnh tranh đòi hỏi phải
được phân tích hết sức cẩn thận. Nói tóm lại, đối với những dự án lớn và quan trọng đòi
hỏi doanh nghiệp phải có sự phân tích nghiêm túc và chặt chẽ.
Phân loại theo mối quan hệ giữa các dự án
Sự phân loại các dự án đầu tư theo quy mô và mục đích nhằm xác định người sẽ ra quyết
định chấp thuận hay từ chối dự án và những nguồn thông tin cần được đưa vào phân tích.
Bên cạnh đó còn có một cách phân loại quan trọng hơn để đánh giá hiệu quả của dự án
dựa trên các mối quan hệ của chúng. Có thể phân chia chúng thành các loại sau:
- Những dự án độc lập
- Những dự án lệ thuộc vào dự án khác
- Những dự án loại trừ nhau
- Nghiên cứu khả thi (lập dự án luận chứng kinh tế kỹ thuật)
- Đánh giá và quyết định (thẩm định dự án)
* Giai đoạn thực hiện đầu tư: trong giai đoạn này vấn đề thời gian là quan trọng
hơn cả, đồng thời ở giai đoạn này 85% đến 99,5% vốn đầu tư của dự án được chi ra và
nằm khê đọng trong suốt những năm thực hiện đầu tư. Đây là quãng thời gian vốn không
sinh lời, thời gian thực hiện đầu tư càng kéo dài, vốn ứ đọng càng nhiều, tổn thất càng
lớn. Lại thêm những tổn thất do thời tiết gây ra đối với vật tư, thiết bị chưa hoặc đang
được thi công, đối với các công trình đang được xây dựng dở dang. Giai đoạn này bao
gồm các hoạt động:
- Đàm phán và ký kết các hợp đồng
- Thiết kế và lập dự toán thi công xây lắp công trình
- Thi công xây lắp công trình
- Chạy thử và nghiệm thu sử dụng
* Giai đoạn vận hành kết quả đầu tư (giai đoạn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ):
Làm tốt hai giai đoạn trên sẽ tạo thuận lợi cho quá trình tổ chức quản lý phát huy tác
dụng của các kết quả đầu tư. Giai đoạn này bao gồm các hoạt động:
- Sử dụng chưa hết công suất
- Sử dụng công suất ở mức cao nhất
- Công suất giảm dần và thanh lý
1.2.1.5 Chi phí sử dụng vốn của một dự án đầu tư
Để tiến hành bất kỳ một quá trình đầu tư, sản xuất kinh doanh nào cũng cần phải
có các yếu tố đầu vào như: vốn đầu tư, nguyên vật liệu, năng lượng, nhân công, khấu
khao, Đối với dự án đầu tư, vốn đầu tư thường được thu hút từ nhiều nguồn như: vốn tự
có, vốn vay, nguồn vốn khác.
Cũng như bất kỳ một nhân tố nào khác, để sử dụng vốn, doanh nghiệp phải bỏ ra
một khoản chi phí nhất định. Chi phí sử dụng vốn của dự án đầu tư được hình thành từ sự
tổng hợp chi phí sử dụng vốn từ tất cả các nguồn như vốn vay, vốn tự có, Có thể hiểu
chi phí vốn là chi phí cơ hội của việc sử dụng vốn, được tính bằng số lợi nhuận kỳ vọng
đạt được trên vốn đầu tư vào dự án để giữ không làm giảm số lợi nhuận dành cho chủ sở
diện, hiệu quả tài chính và hiệu quả kinh tế- xã hội của dự án.
- Đánh giá tính khả thi của dự án: đây là mục đích hết sức quan trọng trong thẩm định
dự án. Một dự án hợp lý và hiệu quả cần phải có tính khả thi. Tất nhiên hợp lý và hiệu
quả là hai điều kiện quan trọng để dự án có tính khả thi. Nhưng tính khả thi còn phải xem
xét với nội dung và phạm vi rộng hơn của dự án (xem xét các kế hoạch tổ chức thực hiện,
môi trường pháp lý của dự án, ).
Trên đây là ba mục đích cơ bản của quá trình thẩm định một dự án đầu tư, tuy nhiên
mục đích cuối cùng của việc thẩm định dự án còn tuỳ thuộc vào chủ thể thực hiện thẩm
định dự án:
- Các chủ đầu tư trong và ngoài nước thẩm đình dự án khả thi để đưa ra quyết định
đầu tư.
- Các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước (Bộ kế hoạch & Đầu tư, Bộ và các cơ
quan ngang bộ, UBND tỉnh, thành phố, ) thẩm định dự án khả thi để ra quyết định cho
phép đầu tư hoặc cấp giấy phép đầu tư.
- Các định chế tài chính (NHTM, Tổng cục đầu tư và phát triển, ) thẩm định dự án
khả thi để ra quyết định tài trợ vốn cho dự án.
* ý nghĩa của thẩm định dự án đầu tư
Thẩm định dự án đầu tư giúp cho bảo vệ các dự án tốt khỏi bị bác bỏ, ngăn chặn những
dự án tồi, góp phần đảm bảo cho việc sử dụng có hiệu quả vốn đầu tư. ý nghĩa của thẩm
định dự án được thể hiện như sau:
- Giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được phương án đầu tư tốt nhất.
- Giúp cho các cơ quan quản lý vĩ mô của Nhà nước đánh giá được tính phù hợp
của dự án với quy hoạch phát triển chung của ngành, vùng lãnh thổ và của cả nước trên
các mặt mục tiêu, quy mô, quy hoạch và hiệu quả.
- Giúp cho việc xác định được những cái lợi, cái hại của dự án trên các mặt khi nó
đi vào hoạt động, từ đó có biện pháp khai thác các khía cạnh có lợi và hạn chế các mặt có
hại.
- Giúp các nhà tài chính ra quyết định chính xác về cho vay hoặc tài trợ cho dự án
đầu tư.
1.3 Hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại ngân hàng thương mại
Là người tài trợ cho dự án, NHTM quan tâm nhiều nhất đến khả năng hoàn trả vốn
và lãi của dự án, chính vì thế thẩm định dự án về mặt tài chính luôn được Ngân hàng đặt
lên hàng đầu trong danh sách các nội dung cần thẩm định. Để tìm hiểu sâu hơn về hoạt
động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại NHTM chúng ta lần lượt tiến hành nghiên cứu
các phần sau:
- Hoạt động tài trợ dự án của NHTM;
- Sự cần thiết của hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư đối với các NHTM;
- Các phương pháp thẩm định tài chính dự án đầu tư của các NHTM;
- Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động thẩm định tài chính dự án đầu tư tại các
NHTM.
1.3.1 Hoạt động tài trợ dự án của NHTM
Tài trợ cho các dự án nằm trong nhóm hoạt động tín dụng của NHTM. đây là hoạt
động có mức độ rủi ro cao nhất trong các hoạt động của NHTM. Khoản vốn cho các dự
án vay là khoản tín dụng tài trợ cho việc xây dựng những tài sản cố định được dự tính sẽ
mang lại thu nhập trong tương lai. Một số ví dụ đáng chú ý bao gồm xây dựng nhà máy
lọc dầu, lắp đặt đường ống dẫn dầu, xây dựng nhà máy năng lượng và các phương tiện
bốc dỡ ở cảng. Có rất nhiều rủi ro quy mô lớn liên quan tới các dự án, như:
- Quy mô vốn lớn thường cần tới vài tỷ USD
- Các dự án đã được cấp vốn có thể phải bị hoãn lại do điều kiện thời tiết hoặc do
không có đủ vật liệu xây dựng;
- Quy định tại các vùng hoặc quốc gia nơi tiến hành hoạt động xây dựng có thể
thay đổi theo chiều hướng tiêu cực, gây khó khăn cho việc hoàn thiện hoặc làm tăng chi
phí của dự án;
- Lãi suất có thể thay đổi gây ảnh hưởng bất lợi tới việc thu hồi vốn của người cho
vay (phần lớn các khoản cho vay mang lãi suất cố định) hoặc gây ảnh hưởng bất lợi tới
khả năng trả nợ của dự án (nếu khoản vay mang lãi suất thả nổi).
Do quy mô và mức độ rủi ro không nhỏ nên việc cho vay những dự án lớn nhiều
khi đòi hỏi sự tham gia của nhiều tổ chức tài chính. Bên cạnh đó tài trợ dự án chứa đựng
Toàn bộ các chi phí mà dự án phải bỏ ra từ khi bắt đầu đến khi dự án chính thức đi vào
vận hành được gọi là chi phí đầu tư.
Tổng vốn đầu tư của một dự án sẽ được chia thành:
+ Vốn đầu tư vào tài sản cố định (hay còn gọi là vốn cố định)
+ Vốn đầu tư vào tài sản lưu động (hay còn gọi là vốn lưu động, thường là vốn lưu động
thường xuyên)
+ Vốn dự phòng: Khi dự án đi vào hoạt động để đảm bảo những nhu cầu chi tiêu không
dự tính trước được để dự án được thực hiện trôi chảy, chủ đầu tư phải trích riêng một
phần trong tổng vốn đầu tư làm vốn dự phòng.
Thẩm định vốn đầu tư của dự án là việc Ngân hàng xem xét, đánh giá vốn đầu tư
của dự án trên ba khía cạnh:
Việc tính toán xác định tổng vốn đầu tư
Vốn đầu tư được tính toán dựa trên việc dự trù chi phí phải bỏ ra trong quá trình đầu tư
+ Vốn đầu tư xây lắp: cán bộ thẩm định kiểm tra việc xác định nhu cầu xây dựng
hợp lý của dự án và mức độ hợp lý của đơn giá xây lắp tổng hợp được áp dụng. Để thực
hiện công việc này cán bộ thẩm định phải vận dụng những kiến thức và kinh nghiệm
được đúc kết từ các dự án hoặc loại công tác xây lắp tương tự.
+ Vốn đầu tư thiết bị: căn cứ vào danh mục thiết bị, cán bộ thẩm định kiểm tra giá
mua và chi phí vận chuyển, bảo quản theo giá thị trường hiện hành và xu thế biến động
giá. Nừu thiết bị có kèm theo chuyển giao công nghệ mới thì vốn đầu tư thiết bị còn bao
gồm cả chi phí chuyển giao công nghệ.
+ Chi phí khác: đó là các chi phí được xác định theo định mức như chi phí khảo
sát xây dựng, thiết kế,…và nhóm các chi phí xác định bằng cách lập dự toán như chi phí
cho việc điều tra, khảo sát thu thập dữ liệu phục vụ việc lập dự án, chi phí tuyên truyền
quảng cáo, chi phí đào tạo cán bộ kỹ thuật và cán bộ quản lý sản xuất của dự án. Các
khoản mục chi phí này cần được kiểm tra lại hoặc tính toán lại theo quy định hiện hành
của Nhà nước, ví dụ như chi phí quảng cáo không được vượt quá 10% tổng chi phí
chung.
+ Ngoài các yếu tố về vốn đầu tư trên, cán bộ thẩm định cần kiểm tra một số nội
của Ngân hàng cho dự án sẽ bằng tổng vốn đầu tư của dự án trừ đi phần vốn từ các nguồn
khác, theo kế hoạch nguồn vốn của Ngân hàng và trong phạm vi phán quyết của Ngân
hàng (không lớn hơn 15% vốn chủ sở hữu của Ngân hàng).
Tiến độ sử dụng vốn
Việc xem xét tiến độ sử dụng vốn của dự án sẽ giúp Ngân hàng chủ động lên kế
hoạch về nguồn vốn phù hợp với tiến độ giải ngân.
Ngân hàng yêu cầu chủ dự án cung cấp kế hoạch sử dụng vốn của dự án hoặc cán
bộ thẩm định có thể tự xây dựng một tiến trình sử dụng vốn của dự án căn cứ vào các giai
đoạn của dự án và từng loại dự án cụ thể.
1.3.3.2 Thẩm định về doanh thu, chi phí, lợi nhuận dự tính của dự án
Vì dự án được thẩm định trước khi nó đi vào hoạt động cho nên các khoản mục doanh
thu, chi phí và lợi nhuận chỉ là dự tính.
Từ những nghiên cứu về thị trường, ta có được các thông tin về giá cả, xu hướng biến
động giá cả của sản phẩm dự án; thị phần dự tính; nhu cầu thị trường, đối thủ cạnh
tranh,…
Doanh thu được xác định bằng tích giữa số lượng sản phẩm tiêu thụ và giá cả của sản
phẩm
Phân tích về doanh thu dự tính của dự án là dựa vào những thông tin có được ở trên để
kiểm tra việc ước tính doanh thu cho từng năm thực hiện dự án của chủ đầu tư xem có
hợp lý hay không, có khả thi hay không.
Chi phí của dự án cũng là chi phí được dự tính cho từng năm thực hiện dự án. Do chi phí
có ảnh hưởng lớn đến khả năng trả nợ của dự án nên thẩm định chi phí là quan trọng
nhất. Dự trù chi phí dự án cho ta biết nhiều khoản mục cụ thể về tình hình sử dụng vốn.
Các cán bộ thẩm định cũng cần chú ý đến tính chính xác và hợp lý trong từng khoản mục
chi phí dự án.
Lợi nhuận là phần doanh thu còn lại sau khi bù đắp chi phí. Qua các báo cáo tài chính dự
trù, dựa trên doanh thu và chi phí để dự tính lợi nhuận.
Khi dự án kết thúc, tài sản cố định và tài sản lưu động thường xuyên sẽ được đem thanh
lý, mang lại cho doanh nghiệp phần lợi nhuận từ hoạt động thanh lý:
n
NPV = - CF
0
+ + + … +
(1+i)
1
(1+i)
2
(1+i)
nTrong đó:
NPV: Giá trị hiện tại ròng của dự án đầu tư
CF: (Cashflow) luồng tiền ròng dự tính trong tương lai
i: tỷ lệ chiết khấu
n: số năm của dự án
Xác định chính xác tỷ lệ chiết khấu của từng dự án đầu tư là một việc làm không đơn
giản. Có thể hiểu tỷ lệ chiết khấu là phần lợi nhuận thích hợp bù đắp rủi ro.
Rõ ràng là khi rủi ro của dự án bằng với mức rủi ro của doanh nghiệp và chính sách tài
trợ của doanh nghiệp phù hợp với dự án thì tỷ lệ chiết khấu thích hợp bằng WACC (chi
phí sử dụng vốn bình quân gia quyền) của doanh nghiệp.
ý nghĩa kinh tế của NPV: NPV cho ta biết lượng lợi nhuận ròng của dự án đầu tư
tính ở thời điểm hiện tại sau khi đã hoàn đủ vốn đầu tư.
Theo đó, điều kiện để dự án được lựa chọn dựa vào chỉ tiêu NPV là:
- Đối với các dự án đầu tư là độc lập nhau, thì dự án đầu tư được lựa chọn là dự án
có NPV không âm. Dự án có NPV dương là dự án có lãi, chủ đầu tư thu được lợi nhuận
từ dự án và Ngân hàng thu hồi được vốn tài trợ dự án. Dự án có NPV = 0 cũng có thể
nhược điểm của phương pháp giá trị hiện tại ròng. Thật vậy, hai dự án đem so sánh, cùng
chịu tác động như nhau bởi lạm phát, cùng có chi phí cơ hội như nhau, nhưng hai chủ đầu
tư khác nhau nên rủi ro của hai dự án là khác nhau.
- Phương pháp NPV chỉ cho biết lợi nhuận tuyệt đối, không cho biết lợi nhuận
tương đối do đó việc đánh giá không được toàn diện
Một số cách khắc phục các nhược điểm trên của phương pháp NPV
- Để so sánh các dự án có thời gian không bằng nhau, chúng ta có thể dùng cách lặp
lại nhiều lần dự án có thời gian ngắn hơn. Chẳng hạn với ví dụ về 2 dự án 5 năm và 50
năm ở trên thì ta lặp lại dự án 5 năm 10 lần, như vậy thời gian giữa chúng sẽ trở nên
tương đương.
- Kết hợp phương pháp này với các phương pháp khác như IRR, …
1.3.4.2 Phương pháp tỷ lệ nội hoàn (IRR_ Internal Rate of Return)
Tỷ lệ nội hoàn (còn gọi là tỷ lệ hoàn vốn nội bộ) đo lường tỷ lệ hoàn vốn đầu tư của
một dự án. Về kỹ thuật tính toán, IRR của một dự án là tỷ lệ chiết khấu mà tại đó NPV=
0.
Cách tính IRR
- Trường hợp dự án đầu tư có những luồng tiền trong tương lai bằng nhau. IRR có
giá trị gần đúng như sau:
NPV
1
(i
2
– i
1
)
(1) IRR = i
1
+
NPV
1
+ So sánh, nếu giá trị hiện tại các khoản thu lớn hơn giá trị hiện tại vốn đầu tư thì ta
tiếp tục nâng mức lãi suất chiết khấu i và ngược lại, cho đến khi đạt tới sự cân bằng hoặc
sai số không đáng kể giữa hai giá trị này, khi đó lãi suất chiết khấu i chính là IRR của dự
án đầu tư.
Phương pháp tính trực tiếp:
+ Chọn hai lãi suất chiết khấu sao cho một lãi suất ứng với NPV dương, một lãi suất
ứng với NPV âm;
+ Sau đó áp dụng công thức (1) để tính IRR. Chú ý rằng khoảng cách giữa i
2
và i
1
không vượt quá 5% để kết quả có được độ chính xác cao.
Qua 2 phương pháp trên ta thấy IRR là tỷ suất nội hoàn từ những khoản thu nhập của
một dự án. Điều đó có nghĩa là nếu dự án chỉ có tỷ lệ hoàn vốn IRR bằng lãi suất chiết
khấu thì các khoản thu nhập từ dự án chỉ đủ để hoàn trả phần vón gốc và lãi đã đầu tư ban
đầu vào dự án, chủ đầu tư chưa thu được lợi.
ý nghĩa kinh tế của IRR: Cho biết tỷ lệ sinh lời hàng năm của một đồng vốn. Tức
là trong 1 năm 1 đồng vốn đem đầu tư sinh ra IRR đồng.
Điều kiện để dự án được lựa chọn dựa vào chỉ tiêu IRR:
- Nếu các dự án độc lập nhau, dự án có IRR lớn hơn chi phí vốn bình quân sẽ được
chọn. Bởi vì, IRR là tỷ lệ sinh lời của 1 đồng vốn, 1 đồng vốn sau một năm sinh ra IRR,
trong năm đó để có được 1 đồng vốn đó cần phải bỏ ra một chi phí vốn bình quân, để có
lợi thì IRR phải lớn hơn chi phí bình quân 1 đồng vốn.
- Nếu các dự án loại trừ nhau, ta chọn dự án có IRR cao nhất và cao hơn chi phí vốn.
Ưu điểm của phương pháp IRR
- Quyết định chấp thuận hay từ chối đối với các dự án độc lập phù hợp với mục tiêu
tối đa hoá lợi nhuận của chủ doanh nghiệp.
- Đo lường bằng tỷ lệ phần trăm nên dễ dàng so sánh với chi phí sử dụng vốn
Nhược điểm
Ưu điểm của phương pháp PI
- Quyết định chấp thuận hay từ chối dự án phục vụ mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
của chủ sở hữu.
- Giả định tỷ lệ tái đầu tư là do NPV tạo ra
- PI diễn đạt mối liên hệ giữa NPV với khoản tiền đầu tư ban đầu
Nhược điểm
- Không đo lường trực tiếp tác động của một dự án đối với lợi nhuận của các chủ sở
hữu.
- Xếp hạng các dự án không dựa trên mục tiêu tối đa hoá thu nhập của chủ sở hữu.
Cả 3 phương pháp trên bổ sung cho nhau và về căn bản không có gì trái ngược nhau khi
đánh giá dự án.
1.3.4.4 Phương pháp thời gian hoàn vốn (PP_ Payback Period)
Thời gian hoàn vốn (PP) của một dự án là độ dài thời gian để thu hồi đủ vốn đầu tư ban
đầu.
Điều kiện để dự án được lựa chọn theo chỉ tiêu PP
- Đối với các dự án độc lập nhau, dự án được lựa chọn nếu có PP không lớn hơn thời
gian quy định.
- Đối với các dự án loại trừ nhau, dự án được lựa chọn là dự án có PP không lớn hơn
thời gian quy định và nhỏ nhất.
Ưu điểm của phương pháp này
- Đơn giản và dễ sử dụng.
- Nếu sử dụng hợp lý nó có thể tạo ra một cái nhìn ban đầu tổng quan về dự án.
Nhược điểm
Phương pháp này có nhiều nhược điểm so với 3 phương pháp trên, đó là:
- Phần thu nhập sau thời gian hoàn vốn được bỏ qua hoàn toàn
- Yếu tố rủi ro đối với luồng tiền tương lai của dự án không được xem xét, đánh giá.
- Yếu tố thời gian của tiền tệ không được đề cập
- Xếp hạng các dự án không phù hợp với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận của chủ sở
hữu.