Kiểm toán nhà nớc
Hội đồng khoa học
đề tài nghiên cứu khoa học cấp cơ sở
C S Lí LUN V THC TIN
QUY NH BIN PHP X PHT VI PHM HNH
CHNH I VI T CHC, C NHN Cể HNH VI VI
PHM LUT KIM TON NH NC Chủ nhiệm đề tài:
ThS. Đặng Văn Hải, Phó vụ trởng
Vụ Pháp chế
Th ký:
CN. Lan Hng, chuyờn viờn
Vụ Pháp chế 9409
kiệm, chống lãng phí và Luật Phòng, chống tham nhũng, góp phần thực hiện
nghiêm chỉnh Luật kiểm toán nhà nớc và nâng cao chất lợng, hiệu lực và hiệu
quả hoạt động kiểm toán của Kiểm toán Nhà nớc.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Hệ thống hoá những vấn đề lý luận chung về vi phạm hành chính và xử
phạt vi phạm hành chính.
- Phân tích, đánh giá thực trạng quy định của pháp luật hiện hành về vi
phạm hành chính và thực trạng vi phạm hành chính trong lĩnh vực KTNN.
- Đề xuất những giải pháp cơ bản bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kiểm toán nhà nớc.
3. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy định biện pháp xử phạt vi
phạm hành chính đối với đơn vị đợc kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên quan
có hành vi vi phạm Luật Kiểm toán nhà nớc.
4. Phơng pháp nghiên cứu
Dựa trên phơng pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ
nghĩa Mác - Lênin, luận văn đã sử dụng các phơng pháp nghiên cứu cụ thể nh:
lịch sử - cụ thể, phân tích - tổng hợp, thống kê, so sánh.
5. Đóng góp của đề tài
Đề xuất những giải pháp cơ bản bảo đảm xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực kiểm toán nhà nớc. Xác định rõ: hành vi vi phạm hành chính
trong lĩnh vực KTNN; đối tợng vi phạm, hình thức xử phạt, mức phạt, thẩm
quyền xử phạt và thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực KTNN.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận, đề tài đợc trình bày thành 2 chơng:
Chơng 1: Tổng quan về vi phạm hành chính và thực trạng vi phạm hành
phạm hành chính năm 2002 (đã đợc sửa đổi, bổ sung năm 2007, năm 2008).
Cùng với Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính, Chính phủ đã ban hành hàng loạt
các nghị định quy định cụ thể về việc xử lý vi phạm hành chính trên các lĩnh vực
khác nhau của quản lý hành chính nhà nớc.
Để xác định rõ tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của loại vi phạm
này đặc biệt là việc xác định ranh giới giữa vi phạm hành chính và tội phạm, tạo
cơ sở cần thiết để quy định, xử lý cũng nh đấu tranh phòng, chống một cách có
hiệu quả đối với các vi phạm hành chính, cần thiết phải đa ra một định nghĩa
chính thức về vi phạm hành chính.
Về phơng diện lý luận cũng nh thực tiễn, định nghĩa vi phạm hành
chính phải phản ánh đầy đủ những đặc trng của những loại vi phạm này,
4
trong đó thể hiện đầy đủ tính nguy hiểm cho xã hội của chúng, đồng thời cũng
phải thể hiện đợc sự khác biệt giữa loại vi phạm này với tội phạm về mức độ
nguy hiểm cho xã hội của hành vi.
Định nghĩa vi phạm hành chính lần đầu tiên đợc nêu ra trong Pháp lệnh
xử phạt vi phạm hành chính ngày 30/11/1989. Điều 1 của Pháp lệnh này đã chỉ
rõ: Vi phạm hành chính là hành vi do cá nhân, tổ chức thực hiện một cách cố ý
hoặc vô ý, xâm phạm các quy tắc quản lý nhà nớc mà không phải là tội phạm
hình sự và theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 1995 không trực tiếp đa ra định
nghĩa về vi phạm hành chính nhng khoản 2 Điều 1 của Pháp lệnh này đã định
nghĩa vi phạm hành chính một cách gián tiếp, theo đó xử phạt vi phạm hành
chính đợc áp dụng đối với cá nhân, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý vi phạm
các quy tắc quản lý nhà nớc mà cha đến mức truy cứu trách nhiệm hình sự và
theo quy định của pháp luật phải bị xử phạt hành chính.
Tại khoản 2 Điều 1 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002, vi
phạm hành chính cũng đợc định nghĩa một cách gián tiếp: Xử phạt vi phạm
hành chính đợc áp dụng đối với cá nhân, cơ quan, tổ chức (sau đây gọi chung
hội trong lĩnh vực hoạt động kiểm toán nhà nớc. Tổng thể các quy phạm đó tạo
thành hệ thống pháp luật về KTNN. Các quy phạm pháp luật về KTNN quy định
cho các bên tham gia quan hệ pháp luật về KTNN có các quyền và nghĩa vụ pháp
lý nhất định; đồng thời quy định trách nhiệm pháp lý của các bên nếu không
thực hiện đúng quy định của pháp luật hoặc vi phạm quyền của bên kia trong
quan hệ. ó chính l mt trong nhng ni dung ca qun lý nh nc v hot
ng kim toán nh nc. Do các quy phạm pháp luật về KTNN đ
ợc Nhà nớc
ban hành nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hôi phát sinh trong hoạt động kiểm
toán nhà nớc nên có tính bắt buộc chung và đợc Nhà nớc bảo đảm thực hiện.
Trong thực tế hoạt động kiểm toán luôn có những hành vi cố ý hay vô ý vi
phạm các quy định của Nhà nớc về hoạt động KTNN. Các hnh vi ó chính là
các hành vi vi phạm pháp luật kim toán nh nc xâm phm n trt t qun lý
nh nc v hot ng KTNN. Các hành vi vi phạm pháp luật này tuỳ theo tính
chất, mức độ vi phạm đều phải bị xử lý, có những hành vi bị xử lý hình sự khi
gây nguy hiểm lớn cho xã hội và có đủ yếu tố cấu thành tội phạm nh các hành
vi tham nhũng. Tuy nhiên, đa số các hành vi vi phạm pháp luật KTNN không
phải là tội phạm m l vi phạm hành chính và cn phải bị xử lý theo quy định
6
của pháp lut về xử lý vi phạm hành chính.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy: Vi phạm hành chính trong lĩnh vực
KTNN là hành vi do cá nhân, tổ chức (bao gồm: đơn vị đợc kiểm toán, tổ chức,
cá nhân thuộc đơn vị đợc kiểm toán, tổ chức, cá nhân có liên quan) thực hiện
với lỗi cố ý hoặc vô ý vi phạm các quy định của pháp luật về qun lý nh nc
i vi hoạt động KTNN mà không phải là tội phạm và phải bị xử phạt hành
chính theo quy định của pháp luật.
1.1.1.2. Các dấu hiệu của vi phạm hành chính
Để xác định một hành vi xảy ra có phải là vi phạm hành chính hay không,
cần xác định các dấu hiệu pháp lý của loại vi phạm pháp luật này. Những dấu
trong trạng thái có đầy đủ khả năng nhận thức, và điều khiển hành vi của mình
nhng đã vô tình, hoặc thiếu thận trọng mà không nhận thức đợc điều đó hoặc
nhận thức đợc nhng vẫn cố tình thực hiện vi phạm. Nếu xác định rằng, chủ thể
thực hiện hành vi khi không có khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi thì chúng ta kết luận rằng không có vi phạm hành chính xảy ra.
Ngoài lỗi là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của mọi vi phạm hành
chính, ở một số trờng hợp cụ thể, pháp luật còn xác định dấu hiệu mục đích là
dấu hiệu bắt buộc của một số loại vi phạm hành chính. Chính vì thế, khi xử phạt
cá nhân, tổ chức về loại vi phạm hành chính này cần phải xác định rõ ràng hành
vi của họ có thoả mãn đầy đủ dấu hiệu mục đích hay không. Khi xác định dấu
hiệu lỗi trong mặt khách quan của vi phạm hành chính, vấn đề xác định dấu hiệu
lỗi trong vi phạm hành chính của tổ chức là vấn đề còn nhiều ý kiến khác nhau.
Có ý kiến cho rằng, lỗi là trạng thái tâm lý cá nhân trong khi thực hiện hành vi vi
phạm hành chính nên không đặt ra vấn đề lỗi đối với tổ chức vi phạm hành
chính. Khi xử phạt hành chính đối với tổ chức, chỉ cần xác định tổ chức đó có
hành vi trái pháp luật hành chính và hành vi đó theo quy định của pháp luật bị xử
phạt bằng các biện pháp xử phạt vi phạm hành chính là đủ điều kiện để xử phạt
hành chính. Cũng có quan điểm cho rằng, cần xác định lỗi của tổ chức khi vi
phạm hành chính thì mới có đầy đủ cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính đối với tổ chức vi phạm. Theo quan điểm này, lỗi của tổ chức
đợc xác định thông qua lỗi của các thành viên trong tổ chức đó khi thực hiện
nhiệm vụ, công vụ đợc giao. Tuy nhiên, pháp luật xử lý vi phạm hành chính
hiện hành chỉ quy định chung rằng tổ chức phải chịu trách nhiệm về mọi vi phạm
8
hành chính do mình gây ra và có nghĩa vụ chấp hành quyết định xử phạt vi phạm
hành chính. Đồng thời, nó phải có trách nhiệm xác định lỗi của ngời thuộc tổ
chức của mình trực tiếp gây ra vi phạm hành chính trong khi thi hành nhiệm vụ,
công vụ đợc giao để truy cứu trách nhiệm, kỷ luật và để bồi thờng thiệt hại
theo quy định của pháp luật.
khác, vi phạm hành chính là hành vi trái với các quy định của pháp luật về quản
lý nhà nớc trên các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội nh quy tắc về an
toàn giao thông, quy tắc về an ninh trật tự, an toàn xã hội Điều đó đã đợc quy
định trong các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền.
1.1.2. Trách nhiệm hành chính
1.1.2.1. Khái niệm và đặc điểm của trách nhiệm hành chính
Khi một tổ chức hay cá nhân thực hiện hành vi vi phạm pháp luật, về
nguyên tắc, nhà nớc sẽ buộc họ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi nhất định.
Việc làm này nhằm mục đích khôi phục lại trật tự pháp luật đã bị xâm phạm,
đồng thời giáo dục tổ chức, cá nhân vi phạm cũng nh toàn thể cộng đồng ý thức
tuân thủ pháp luật. Trong khoa học pháp lý, thuật ngữ trách nhiệm pháp lý của
tổ chức, cá nhân thông thờng đợc hiểu là hậu quả pháp lý bất lợi mà Nhà nớc
buộc tổ chức, cá nhân phải gánh chịu khi họ thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
Hậu quả pháp lý bất lợi mà tổ chức, cá nhân vi phạm phải gánh chịu thể hiện ở
việc họ bị buộc phải thực hiện các biện pháp chế tài đã đợc quy định trong pháp
luật. Tơng ứng với mỗi loại vi phạm pháp luật là một hình thức trách nhiệm
pháp lý nhất định. Trách nhiệm hành chính đợc đặt ra đối với tổ chức, cá nhân
thực hiện vi phạm hành chính. Vì vậy, nói khái quát, trách nhiệm hành chính là
hậu quả pháp lý bất lợi mà nhà nớc buộc các tổ chức, cá nhân phải gánh chịu
khi họ thực hiện vi phạm hành chính.
Trách nhiệm hành chính có đặc điểm sau đây:
* Trách nhiệm hành chính là hình thức trách nhiệm pháp lý đặt ra đối với
tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính.
Trách nhiệm pháp lý chỉ đặt ra đối với những ngời thực hiện hành vi vi
phạm pháp luật. Vì vậy, để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với
một tổ chức hoặc cá nhân, cần xác định tổ chức, cá nhân đó có thực hiện vi phạm
10
hành chính trên thực tế hay không. Các dấu hiệu pháp lý của vi phạm hành chính
là căn cứ cần thiết để xác định hành vi của tổ chức, cá nhân thực hiện có đủ yếu
11
nhiệm hành chính cũng sẽ không đặt ra đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành
chính trong trờng hợp này.
Trách nhiệm hành chính đặt ra đối với cả cá nhân và tổ chức bởi lẽ theo
quy định của pháp luật chủ thể vi phạm hành chính có thể là cá nhân hay tổ
chức. Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự
vì trách nhiệm hình sự chỉ đặt ra đối với cá nhân thực hiện hành vi phạm tội.
* Trách nhiệm hành chính là trách nhiệm pháp lý của tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính trớc Nhà nớc.
Tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính đã xâm hại đến trật tự quản lý hành
chính nhà nớc do Nhà nớc thiết lập. Nhà nớc buộc tổ chức, cá nhân vi phạm
hành chính phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi để bảo vệ trật tự quản
lý hành chính nhà nớc mà mình thiết lập ra. Do vậy, việc phải thực hiện biện
pháp chế tài của tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính là trách nhiệm của họ
trớc Nhà nớc chứ không phải trớc một tổ chức, cá nhân cụ thể nào trong xã
hội. Đây là điểm khác biệt giữa trách nhiệm hành chính và trách nhiệm dân sự.
Trong trách nhiệm dân sự việc thực hiện các biện pháp chế tài của tổ chức, cá
nhân bị truy cứu trách nhiệm dân sự là nghĩa vụ của họ trớc một tổ chức, cá
nhân cụ thể có các quyền, lợi ích dân sự bị xâm hại. Trong trờng hợp này, Nhà
nớc là ngời đảm bảo việc thực hiện đầy đủ các biện pháp chế tài dân sự của tổ
chức, cá nhân vi phạm đối với bên bị vi phạm.
* Việc truy cứu trách nhiệm hành chính đợc thực hiện trên cơ sở các quy
định của pháp luật hành chính
Đặc điểm này biểu hiện cụ thể ở những nội dung dới đây:
- Để tiến hành truy cứu trách nhiệm hành chính đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chính, pháp luật hành chính đã xác định cụ thể những ngời có thẩm
quyền thực hiện hoạt động này. Đáp ứng nhu cầu xử lý nhanh chóng, khắc phục
kịp thời hậu quả do hành vi vi phạm hành chính gây ra, thẩm quyền truy cứu
trách nhiệm hành chính đợc trao cho nhiều cơ quan nhà nớc khác nhau. Những
ngời đợc trao thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hành chính tr
đối với các t chức, cá nhân vi phạm hành chính.
Hoạt động xử phạt vi phạm hành chính có đặc điểm sau đây:
- Xử phạt vi phạm hành chính đợc áp dụng đối với cá nhân, tổ chức vi
phạm hành chính theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, vi phạm
13
hành chính là cơ sở để tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính. Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính và các nghị định của Chính phủ quy định hành vi
vi phạm hành chính, hình thức, biện pháp xử phạt hành chính áp dụng đối với tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý hành chính nhà
nớc cụ thể là những cơ sở pháp lý quan trọng để tiến hành hoạt động xử phạt vi
phạm hành chính;
- Xử phạt hành chính đợc tiến hành bởi các chủ thể có thẩm quyền theo
quy định của pháp luật. Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính và các văn bản có
quy định về xử phạt vi phạm hành chính xác định cụ thể các chủ thể có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính, hình thức, mức độ xử phạt hành chính mà họ
đợc phép áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính;
- Xử phạt vi phạm hành chính đợc tiến hành theo những nguyên tắc, trình
tự, thủ tục đợc quy định trong các văn bản pháp luật về xử phạt vi phạm hành
chính do các cơ quan nhà nớc có thẩm quyền ban hành;
- Kết quả của hoạt động xử phạt vi phạm hành chính thể hiện ở các quyết
định xử phạt vi phạm hành chính, trong đó ghi nhận các hình thức, biện pháp xử
phạt áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính. Việc quyết định áp
dụng biện pháp xử phạt đó thể hiện sự trừng phạt nghiêm khắc của nhà nớc đối
với các tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính, qua đó giáo dục cho mọi ngời ý
thức tuân thủ pháp luật hành chính nói riêng và pháp luật nói chung.
b. Nguyên tắc xử phạt vi phạm hành chính
Khi tiến hành hoạt động xử phạt vi phạm hành chính, ngời có thẩm
quyền xử phạt vi phạm hành chính phải tuân thủ những nguyên tắc xử phạt đã
đợc quy định trong Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính. Theo tinh thần của
Hình thức này đợc áp dụng đối với tổ chức, cá nhân vi phạm hành chính
nhỏ, có tình tiết giảm nhẹ, hoặc đối với mọi hành vi vi phạm hành chính do
ngời cha thành niên từ đủ 14 tuổi đến dới 16 tuổi thực hiện. Khi xử phạt cảnh
cáo, ngời có thẩm quyền quyết định xử phạt bằng văn bản.
Nh vậy, hình thức xử phạt cảnh cáo chỉ đợc áp dụng đối với cá nhân từ
đủ 16 tuổi trở lên hoặc tổ chức vi phạn hành chính khi có đủ các điều kiện sau
đây:
15
- Hành vi vi phạm mà tổ chức, cá nhân thực hiện đợc văn bản pháp luật
quy định là có thể áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo. Điều này xác định rằng
loại hành vi mà tổ chức, cá nhân đã thực hiện là vi phạm nhỏ. Nếu loại vi phạm
mà tổ chức, cá nhân đó thực hiện mà pháp luật quy định chỉ bị áp dụng hình thức
phạt tiền thì không đợc phép áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo;
- Việc áp dụng hình thức xử phạt cảnh cáo đối với tổ chức, cá nhân vi
phạm hành chỉ đợc thực hiện khi đó là vi phạm lần đầu và có tình tiết giảm nhẹ
theo quy định của Điều 8 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính.
Hình thức xử phạt cảnh cáo khác với hình phạt cảnh cáo ở mức độ nghiêm
khắc của chế tài, cụ thể là: ngời bị toà án tuyên hình phạt cảnh cáo, theo thủ tục
tố tụng hình sự đợc coi là có án tích và bị ghi vào lý lịch t pháp; hình thức xử
phạt hành chính cảnh cáo là hình thức xử phạt mang tính giáo dục đối với tổ
chức, cá nhân vi phạm hành chính; đối tợng bị áp dụng hình thức xử phạt cảnh
cáo không bị coi là có án tích và không bị ghi vào lý lịch t pháp.
Cũng cần phân biệt hình thức xử phạt cảnh cáo với hình thức kỷ luật cảnh
cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức. Hai hình thức này khác nhau ở chỗ:
- Hình thức xử phạt cảnh cáo đợc áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có
hình vi vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật; hình thức kỷ luật cảnh
cáo áp dụng đối với cán bộ, công chức có hành vi vi phạm các quy định của pháp
luật, thông thờng là các quy định có liên quan đến nghĩa vụ của cán bộ, công
chức, các quy định về các việc mà cán bộ công chức không đợc làm, các quy
viễn thông và tần số vô tuyến điện, chứng khoán, ngân hàng, chuyển giao công
nghệ.
- Phạt tiền tối đa đến 100.000.000đ đợc áp dụng đối với hành vi vi phạm
hành chính trong các lĩnh vực: Khoáng sản, sở hữu trí tuệ, hàng hải, hàng không
dân dụng, thuế (trừ các trờng hợp các luật về thuế có quy định khác).
- Phạt tiền tối đa đến 500.000.000đ đợc áp dụng đối với hành vi xâm
phạm vùng lãnh hải, vùng tiếp giáp lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục
địa của nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam nhằm nghiên cứu, thăm dò,
khai thác nguồn lợi thuỷ sản, dầu khí, các tài nguyên thiên nhiên khác.
- Đối với các hành vi vi phạm hành chính trong các lĩnh vực quản lý nhà
nớc mà cha đợc quy định tại các lĩnh vực trên đây thì Chính phủ quy định
17
mức phạt tiền, nhng tối đa không vợt quá 100.000.000đ.
Việc lựa chọn, áp dụng mức tiền phạt đôi với ngời vi phạm phải trong
khung phạt cụ thể đợc văn bản pháp luật quy định cho loại vi phạm đã thực hiện
theo cách: khi phạt tiền, mức tiền phạt cụ thể đối với một hành vi vi phạm hành
chính là mức trung bình của khung tiền phạt đợc quy định đối với hành vi đó;
nếu có tình tiết giảm nhẹ thì mức phạt có thể giảm xuống, nhng không đợc
giảm quá mức tối thiểu của khung tiền phạt; nếu có tình tiết tăng nặng thì mức
phạt tiền có thể tăng lên nhng không đợc vợt quá mức tối đa của khung tiền
phạt.
Ngoài ra, Pháp lệnh hành chính năm 2002 quy định:
- Khi quyết định xử phạt một ngời thực hiện nhiều hành vi vi phạm hành
chính, thì ngời có thẩm quyền chỉ ra một quyết định xử phạt trong đó quyết
định hình thức, mức xử phạt đối với từng hành vi vi phạm, nếu các hình thức xử
phạt là phạt tiền thì đợc cộng lại thành mức phạt chung.
- Cá nhân, tổ chức vi phạm bị phạt tiền có thể nộp tiền phạt tại chỗ hoặc
tại Kho bạc nhà nớc theo đúng quy định pháp luật và đợc nhận biên lai thu
tiền phạt.
những tranh luận xung quanh trờng hợp tổ chức, cá nhân thực hiện đồng thời
nhiều vi phạm hành chính một lúc và mức phạt tiền tổng hợp đối với các tổ chức,
cá nhân này vợt quá mức mà pháp luật quy định cho thẩm quyền của ngời xử
phạt. Về nguyên tắc, nếu tất cả các vi phạm đó đều thuộc thẩm quyền xử phạt
của ngời có thẩm quyền thì dù mức phạt tổng hợp có lớn hơn mức quy định cho
thẩm quyền của ngời xử phạt, vụ việc đó vẫn thuộc thẩm quyền xử phạt của
ngời này. Trờng hợp nếu có một vi phạm hành chính mà mức phạt tiền đợc
pháp luật quy định vợt quá thẩm quyền của ngời xử phạt thì vụ việc đó phải
chuyển cho ngời khác có thẩm quyền xử phạt.
Để khắc phục tình trạng quy định không rõ ràng trên và để đảm bảo cho
việc thực hiện đúng thẩm quyển xử phạt Điều 42 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành
chính 2002 quy định quy tắc xác định thẩm quyền xử phạt vi phạm hành cụ thể
19
là:
- Chủ tịch Uỷ ban nhân các cấp có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính trong các lĩnh vực quản lý nhà nớc ở địa phơng.
- Ngời có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành chính quy định tại các Điều
từ 31 đến Điều 40 của Pháp lệnh 2002 có thẩm quyền xử phạt vi phạm hành
chính thuộc lĩnh vực, ngành mình quản lý.
- Trong trờng hợp vi phạm hành chính thuộc thẩm quyền xử phạt của
nhiều ngời, thì việc xử phạt do ngời thụ lý đầu tiên thực hiện.
- Thẩm quyền xử phạt của những ngời quy định tại các Điều từ Điều 28
đến Điều 40 Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính 2002 là thẩm quyền áp dụng
đối với một hành vi vi phạm hành chính. Trong trờng hợp phạt tiền, thẩm quyền
xử phạt đợc xác định căn cứ vào mức tối đa của khung tiền phạt quy định đối
với từng hành vi vi phạm cụ thể.
- Trong trờng hợp xử phạt một ngời thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính thì thẩm quyền xử phạt đợc xác định theo nguyên tắc sau đây:
+ Nếu hình thức, mức xử phạt đợc quy định đối với từng hành vi đều
vi phạm hành chính, đối với vụ vi phạm hành chính có nhiều tình tiết phức tạp
thì thời hạn ra quyết định xử phạt là 30 ngày. Trong trờng hợp xét cần thêm thời
gian để xác minh, thu thập chứng cứ thì ngời có thẩm quyền phải báo cáo thủ
trởng trực tiếp của mình bằng văn bản để xin gia hạn, việc gia hạn phải bằng
văn bản. Thời hạn gia hạn không đợc quá 30 ngày.
Trong quá trình xử phạt vi phạm hành chính, khi xét thấy hành vi vi phạm
có dấu hiệu tội phạm, ngời có thẩm quyền giải quyết phải chuyển hồ sơ vụ việc
đó tới cơ quan bảo vệ pháp luật có thẩm quyền để xem xét xử lý theo pháp luật.
Pháp luật nghiêm cấm việc giữ lại các vụ vi phạm có dấu hiệu tội phạm để xử lý
hành chính.
- Thủ tục thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính
Quyết định xử phạt có hiệu lực kể từ ngày ký, trừ trờng hợp trong quyết
định quy định ngày có hiệu lực khác. Quyết định này phải đợc gửi cho tổ chức,
cá nhân vi phạm hành chính và cơ quan thu tiền phạt trong thời hạn ba ngày kể
21
từ ngày ra quyết định. Tổ chức, cá nhân bị xử phạt phải tự nguyện thi hành quyết
định xử phạt trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày đợc giao quyết định xử phạt trừ
trờng hợp pháp luật có quy định khác. Cá nhân, tổ chức bị phạt tiền có thể nộp
tiền phạt tại chỗ cho ngời có thẩm quyền xử phạt (trờng hợp xử phạt theo thủ
tục đơn giản) hoặc nộp tại Kho bạc Nhà nớc. Điều quy định này đã tránh đợc
những khó khăn, phiền hà cho tổ chức, cá nhân bị xử phạt và cả ngời có thẩm
quyền xử phạt. Đồng thời, hạn chế đợc các tiêu cực có thể xảy ra trong xử phạt
vi phạm hành chính.
Hết thời hạn tự nguyên thi hành quyết định xử phạt mà tổ chức, cá nhân
không thi hành quyết định xử phạt thì cơ quan có thẩm quyền sẽ áp dụng các
biện pháp cỡng chế thi hành quyết định xử phạt buộc tổ chức, cá nhân đó phải
thi hành, bao gồm:
+ Khấu trừ một phần lơng hoặc một phần thu nhập, khấu trừ tiền tại tài
khoản tại ngân hàng;
Thời kỳ này, Chính phủ ban hành khoảng 50 nghị định để hớng dẫn thi hành
Pháp lệnh 1995. Nhng rồi cũng vì những lý do tơng tự khi ban hành Pháp lệnh
1995 mà Pháp lệnh xử lý vi phạm hành chính năm 2002 (Pháp lệnh 2002) đợc
ban hành, thay thế Pháp lệnh 1995, trong đó các biện pháp hành chính khác
đợc giữ nguyên với những sửa đổi không đáng kể. Tiếp đến là Pháp lệnh ban
hành năm 2007 (Pháp lệnh 2007) bãi bỏ biện pháp quản chế hành chính và
những điều liên quan của Pháp lệnh 2002. Lại cũng vì những lý do tơng tự nh
trớc mà Pháp lệnh ban hành 02/4/2008 (Pháp lệnh 2008) sửa đổi, bổ sung một
lần nữa một số điều của Pháp lệnh 2002 (có hiệu lực từ 01/8/2008). Các biện
pháp hành chính khác đợc giữ nguyên nh Pháp lệnh 2007. Từ khi ban hành
Pháp lệnh 2002, Chính phủ ban hành khoảng 70 nghị định để hớng dẫn thi hành
Pháp lệnh này, cha kể Nghị định số 134/2003/NĐ-CP hớng dẫn thi hành Pháp
lệnh 2002 và Nghị định số 37/2005/NĐ-CP quy định thủ tục áp dụng các biện
pháp cỡng chế thi hành quyết định xử lý vi phạm hành chính. Đồng thời, để thi
hành pháp lệnh 2008, Chính phủ sẽ phải ban hành một loạt các nghị định mới để
thay thế các nghị định cũ đợc ban hành trên cơ sở Pháp lệnh 2002.
Nh vậy, có thể hình dung hệ thống pháp luật về vi phạm hành chính nớc
ta đồ sộ và thay đổi nhanh, khó theo dõi nh thế nào, không chỉ đối với ngời áp
dụng, ngời bị áp dụng, mà cả đối với ngời nghiên cứu. Tuy các pháp lệnh và
nghị định liên tục sửa đổi kế tiếp nhau, thay đổi nhanh, nhng với kiểu chắp vá,
23
đa ra các giải pháp tình thế nên vẫn không thể theo kịp biến động của thực tiễn,
nhất là dới tác động của các yếu tố kinh tế thị trờng và hội nhập quốc tế, lạm
phát, đồng tiền mất giá Mặt khác, khi có quá nhiều nghị định thì không chỉ
trong ban hành dễ bị chồng chéo, mâu thuẫn mà khi thực hiện cũng rất khó theo
dõi và do đó lại dễ xảy ra vi phạm. Hơn nữa, các nghị định này cũng giống nh
các nghị định trong các lĩnh vực khác, đều mắc một chứng tật chung là rất nhiều
chỗ copy lại pháp lệnh, luật và copy lẫn nhau nên rất khó theo dõi.
Quá trình ban hành, sửa đổi, bổ sung các pháp lệnh và kéo theo là các
theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật, xử phạt vi phạm hành chính hoặc
bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật ).
Hệ thống pháp luật về vi phạm hành chính và xử lý vi phạm hành chính của
nớc ta mặc dù liên tục đợc sửa đổi, bổ sung hoàn thiện cho phù hợp thực tiễn
quản lý nhà nớc, song cũng cha có quy định nào đề cập đến các hành vi vi
phạm pháp luật kiểm toán nhà nớc và trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân có
hành vi vi phạm đó. Trong khi đó hầu hết các lĩnh vực của quản lý nhà nớc,
trong đó có những lĩnh vực rất mới nh chứng khoán và thị trờng chứng khoán,
hoặc có những lĩnh vực đặc thù nh t pháp (xét xử, thi hành án dân sự) đều đã
có nghị định của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong từng
lĩnh vực đó.
Chính do cha có các quy định về chế tài một cách cụ thể và đầy đủ cho nên
việc chấp hành pháp luật về kiểm toán cha nghiêm, phần nào đã ảnh hởng đến chất
lợng và hiệu qa hoạt động ca Kiểm toán Nhà nớc v hiu lc phỏp lut v kiểm
toán nhà nớc.
1.2.2. Thực trạng vi phạm hành chính trong hoạt động kiểm toán nhà
nớc
Thực tế, qua gần 5 năm thực hiện Luật Kiểm toán nhà nớc, nhiều trờng
hợp vi phạm pháp luật của đơn vị đợc kiểm toán và tổ chức, cá nhân có liên
quan nh: không cung cấp đầy đủ, kịp thời các thông tin, tài liệu; không thực
hiện đầy đủ, kịp thời các kết luận, kiến nghị kiểm toán; cản trở việc kiểm toán;
che dấu các hành vi vi phạm pháp luật về tài chính, ngân sách , song cha có
quy định xử lý vi phạm đã làm giảm hiệu lực của hoạt động kiểm toán nói riêng
và tính nghiêm minh của pháp luật nói chung.
Vi phạm hành chính trong hoạt động KTNN có thể khái quát theo 03
nhóm hành vi sau đây:
Thứ nhất, trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm toán hnh vi vi phm
hnh chớnh trong lnh vc kim toỏn nh nc ca đơn vị đợc kiểm toán và tổ