Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn, đề xuất phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường gây ra trên một số dòng sông ở Việt Nam - Pdf 25



NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN,
ĐỀ XUẤT PHƯƠNG PHÁP XÁC ĐỊNH THIỆT HẠI
DÂN SỰ DO Ô NHIỄM, SUY THOÁI MÔI TRƯỜNG
GÂY RA TRÊN MỘT SỐ DÒNG SÔNG Ở VIỆT NAM
BỘ TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG
VIỆN CHIẾN LƯỢC, CHÍNH SÁCH TÀI NGUYÊN VÀ MÔI TRƯỜNG BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
Ngày tháng năm
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI

1.1.2 Các phương pháp xác định thiệt hạ
i dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 7
1.1.3 Phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm 16
1.2 Kinh nghiệm quốc tế về xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường 26
1.2.1 Nhật Bản 26
1.2.2 Trung Quốc 29
1.2.3 Thái Lan 36
1.2.4 Ấn Độ 41
1.2.5 Indonesia 42
1.2.6 Hoa Kỳ 44
1.2.7 Một số quốc gia Châu Âu 45
1.2.8 Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam 48
PHẦN II: THỰC TRẠNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG TRÊN MỘT SỐ LƯU VỰC
SÔNG VÀ THỰC TIỄN XÁC ĐỊNH THIỆT DÂN SỰ DO Ô NHIỄM MÔI
TRƯỜNG TẠI VIỆT NAM 52
2.1 Tổng quan hiện trạng ô nhiễm môi trường trên một số lưu vực sông 52
2.1.1 Hiện trạng môi trường lưu vực sông Cầu 55
2.1.2 Hiện trạng môi trường lưu vực sông Nhuệ - Đáy 60
2.1.3 Hiện trạng môi trường l
ưu vực sông Đồng Nai 67
2.1.4 Thiệt hại dân sự phát sinh do ô nhiễm, suy thoái môi trường tại các lưu vực sông73
2.2. Tổng quan về các quy định pháp luật liên quan đến thiệt hại dân sự do ô nhiễm,
suy thoái môi trường 75
2.2.1 Các quy định trong lĩnh vực bảo vệ môi trường 77
2.2.2 Quy định trong pháp luật dân sự 80

ii
2.2.3 Đánh giá chung về các quy định pháp luật liên quan đến thiệt hại dân sự do ô
nhiễm, suy thoái môi trường. 83
2.3 Một số nghiên cứu trong nước liên quan đến xác định thiệt hại do ô nhiễm, suy


iii
DANH MỤC HÌNH VÀ BẢNG

Hình 1. Minh họa phương pháp đánh giá nhanh để ước tính tải lượng ô nhiễm
nguồn nước 17
Hình 2. Qui trình xác định thiệt hại do ô nhiễm nước bằng phương pháp liều lượng đáp
ứng tại Trung Quốc 31
Hình 3. Mô hình tính thiệt hại kinh tế do ô nhiễm nước 34
Hình 4. Bản đồ các lưu vực sông chính ở Việt Nam 54
Hình 5. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2007-2009 dọc theo lưu vực sông Cầu 55
Hình 7. Tổng lượng nhu cầu sử dụng nước phân theo ngành 60
Hình 8. Diễn biến hàm lượng N-NH4+ năm 2007-2009 trên sông Nhuệ 61
Hình 9. Giá trị 75% của COD trên sông Nhuệ qua các năm 63
Hình 10. Giá trị 75% của COD sông Đáy qua các năm 63
Hình 11. Giá trị 75% của BOD5 các sông khác qua các năm 64
Hình 12. Diễn biến hàm lượng BOD5 năm 2006-2009 dọc sông Sài Gòn 69
Hình 13. Phân bố lưu lượng nước thải theo lưu vực 71
Hình 14. Phân bố tải lượng BOD5 theo lưu vực 71
Hình 15. Sơ đồ v
ị trí rạch Bà Chèo 98
Hình 16. Quy trình công nghệ xử lý nước thải của KCN Long Thành 100
Hình 17. Bản đồ phân vùng ô nhiễm rạch Bà Chèo 104
Hình 18. Sơ đồ quy trình xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường116

Bảng 1. Các loại thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường 5
Bảng 2. Tải lượng ô nhiễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của một
số ngành công nghiệp theo IPPS 18
Bảng 3. Tải lượng ô nhi
ễm do nước thải trong một năm (kg/1000 nhân viên) của một

Bảng 22. Nồng độ các chất ô nhiễm trong nước thải sinh hoạt 102
Bảng 23. Khối lượng phân bón và hoá chất BVTV sử dụng tại xã Tam An 103
Bảng 24. Chất lượng nước tại rạch tiếp nhận nước thải 104
Bảng 25. Diện tích các loại cây trồng bị thiệt hại do ô nhiễm rạch Bà Chèo 106
Bảng 26. Thiệt hại bình quân đối với các loại cây trồng 106
B
ảng 27. Giá trị thiệt hại đối với ngành trồng trọt do ô nhiễm rạch Bà Chèo 107
Bảng 28. Số đàn gia cầm (N) bị thiệt hại hàng năm do ô nhiễm rạch Bà Chèo 108
Bảng 29. Thiệt hại bình quân đối với các loại gia cầm 108
Bảng 30. Giá trị thiệt hại đối với ngành chăn nuôi do ô nhiễm rạch Bà Chèo 109
Bảng 31. Tổng giá trị thiệt hại đối với hoạt động đánh bắt thủy s
ản do ô nhiễm rạch Bà
Chèo 111
Bảng 32. Thiệt hại bình quân đối với ngành nuôi thủy sản 112
Bảng 33. Giá trị thiệt hại đối với nuôi thủy sản do ô nhiễm rạch Bà Chèo 112
Bảng 35. Tổng thiệt hại do ô nhiễm lưu vực rạch Bà Chèo 113
Bảng 36. Cơ chế sàng lọc giúp xác định nguồn gây ô nhiễm môi trường 117
Bảng 37. Các chứng cứ cần thu thập về nguồn gây ô nhiễ
m 118
Bảng 38. Các dạng thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường và đối tượng chịu thiệt
hại trực tiếp 124
Bảng 39. Các thông tin cơ bản cần thu thập để hỗ trợ tính toán thiệt hại về kinh tế 125
Bảng 40. Một số yêu cầu cơ bản đối với việc điều tra, xác minh thiệt hại 127 v

DANH SÁCH NHỮNG NGƯỜI THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

Số tt Người thực hiện Cơ quan công tác

COD Nhu cầu oxy hóa học
COI Phương pháp phí bệnh tật
CVM Phương pháp đánh giá ngẫu nhiên
CVPPS Hệ thống mô phỏng ô nhiễm từ làng nghề
DALY Số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh
DC Phương pháp chi phí phòng ngừa
DO Oxy hòa tan
DPPS Hệ thống mô phỏng ô nhiễm từ sinh hoạt
EDCC Ủy ban giải quyết tranh chấp môi trường của Nhật Bản
EMA Bộ luật quản lý môi trường
EOP Phương pháp xác định ảnh hưởng đối với sản lượng
EU Các nước châu Âu
GBD Gánh nặng bệnh tật toàn cầu
HC Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con ng
ười
IPPS Hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp
KCN Khu công nghiệp
LVHTS Lưu vực hệ thống sông
KCX Khu chế xuất
NN&PTNT Nông nghiệp và Phát triển nông thôn
ON Ô nhiễm
ONMT Ô nhiễm môi trường
PC Phương pháp thay đổi năng suất
QALY Số năm chất lượng cuộc sống điều chỉnh
QCVN Quy chuẩn Việt Nam
TCMT Tiêu chuẩn môi trường
QLTNN Quản lý tài nguyên nước
RC Phương pháp chi phí thay thế
SS Cặn lơ lửng
TNN Tài nguyên nước

5
, Coliform
đều vượt tiêu chuẩn cho phép từ vài chục lần, có nơi vượt đến vài trăm lần. Các tỉnh
thành bị ô nhiễm môi trường nước nhiều nhất được sắp xếp theo thứ tự sau: Hồ Chí
Minh, Hà Nội, Bình Dương, Hải Phòng, Đồng Nai. Bốn trong số 10 tỉnh có sự ô
nhiễm nước lớn nhất thuộc lưu vực sông Sài Gòn-Đồng Nai. Lưu vực sông Nhuệ-
Đáy cũng bị ô nhiễm nặng tạ
i nhiều nơi. Đối với lưu vực sông Cầu, đoạn sông Cầu
chảy qua thành phố Thái Nguyên bị ô nhiễm nặng. Hàm lượng SS, BOD
5
and COD
vượt QCVN 08:2008/BTNMT (loại B1) nhiều lần, nước sông có chứa các hợp chất
hữu cơ và dầu mỡ.
Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật liên quan đến bồi thường thiệt hại
do ô nhiễm, suy thoái môi trường, tạo hành lang pháp lý cho công tác bồi thường thiệt
hại do các hoạt động ô nhiễm gây ra. Tuy nhiên, hiện vẫn còn thiếu các văn bản hướng
dẫn chi tiết việc xác định và bồi thường thiệt hại môi trường,
đặc biệt liên quan đến
thiệt hại về sức khỏe, tính mạng của con người, tài sản và lợi ích hợp pháp của tổ chức
cá nhân (thiệt hại dân sự). Hiện chưa có phương pháp hay cơ sở nào để tính toán các
tổn thất dân sự gây ra do ô nhiễm và suy thoái môi trường, kết quả là rất khó đánh giá
được tổng thiệt hại và xác định được các bên liên quan có trách nhiệm trong việc đền
bù cho người bị hại. Việc xác đị
nh trách nhiệm đền bù thiệt hại do ô nhiễm môi trường
do đó rất khó thực hiện trong đa số các trường hợp đã xảy ra. Do đó, việc xây dựng
phương pháp xác định việc bồi thường thiệt hại dân sự do ô nhiễm môi trường là rất

1 Cục kiểm soát ô nhiễm, 2009, Điều tra, thống kê, phân loại nguồn thải, xác định tải lượng nước thải từ các
thành phần làm cơ sở cho việc xây dựng Đề án “Kiểm soát ô nhiễm môi trường do nước thải tại Hà Nội, Hải
Phòng và thành phố Hồ Chí Minh”

là nguyên nhân gây ra ô nhiễm, suy thoái môi trường lớn nhất ở Việt Nam hiện nay.
Các phương pháp thực hiện của đề tài bao gồm:
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trên cơ sở
các tài liệu, số liệu thu thập liên quan, gồ
m cơ sở dữ liệu sơ cấp và thứ cấp.
- Phương pháp kế thừa các kết quả nghiên cứu đã thực hiện: Thực tế cho thấy
lượng giá thiệt hại do ô nhiễm, suy thoái môi trường đã có nhiều nghiên cứu từ trước
tới nay của thế giới và trong nước, để đưa ra hướng nghiên cứu đúng và phù hợp với
hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam, nhóm nghiên cứu
đã học hỏi và kế thừa một phần các
nghiên cứu trước đây.
- Điều tra, khảo sát thực địa tại các địa phương: Để đảm bảo kết quả đưa ra có
tính chính xác và sát với thực tiễn hiện trang ô nhiễm ở Việt Nam, nhóm nghiên cứu
đã tiến hành điều tra nghiên cứu tại một số địa phương đại diện để có một bức tranh
nhìn nhận toàn diệ
n.

3
- Tổ chức hội thảo, tọa đàm: Hội thảo toạ đàm là phương pháp truyền thống
được vận dụng trong quá trình thực hiện đề tài, từ việc xây dựng đề cương nghiên cứu
đến thực hiện từng nội dung và kết quả cuối cùng. Kết quả Hội thảo là cơ sở để chỉnh
sửa, bổ sung và hoàn thiện đề tài.
Báo cáo này là báo cáo tổng hợp của đề tài v
ới các nội dung chính sau:
- Phần I. Cơ sở lý luận và kinh nghiệm quốc tế về xác định thiệt hại dân sự do ô
nhiễm, suy thoái môi trường
- Phần II. Thực trạng ô nhiễm môi trường trên một số lưu vực sông và thực tiễn
xác định thiệt hại do ô nhiễm môi trường nước tại Việt Nam
- Phần III. Đề xuất phương pháp và thử nghiệm tính toán thiệt hại dân sự do ô
nhiễm môi trường

i kể trên, loại thiệt hại thứ 2 theo quy định của điều 130,
Luật BVMT thuộc về thiệt hại dân sự, còn trường hợp đầu là những thiệt hại liên quan
đến chức năng, tính hữu ích của môi trường tự nhiên, như môi trường nước, đất, hệ
sinh thái, v v
Ðối với thiệt hại dân sự, việc lượng giá hướng tới những chi phí và những lợi
ích kinh tế mà bên chịu thiệt h
ại bị mất đi do hậu quả của ô nhiễm, suy thoái môi
trường. Các khoản chi phí bị mất đi có thể kể đến bao gồm chi phí chữa trị và thu nhập
bị giảm do sức khoẻ người lao động bị suy giảm do ô nhiễm, suy thoái, chi phí tăng
thêm để tìm nguồn nước sinh hoạt hay nguồn nước sản xuất thay thế do nguồn nước cũ
bị ô nhiễm suy thoái, chi phí tăng thêm để sửa chữa lạ
i công trình xây dựng hay hạ
tầng cơ sở bị hư hỏng do ô nhiễm, suy thoái, Các lợi ích kinh tế bị mất đi có thể kể
đến bao gồm suy giảm sản lượng cây trồng và vật nuôi, suy giảm thu nhập từ kinh
doanh du lịch, suy giảm giá trị bất động sản,
Tùy theo từng trường hợp ô nhiễm, suy thoái môi trường cụ thể sẽ có các dạng
tổn thất, thiệt hại tương ứng kèm theo như
được trình bày trong Bảng 1.

5
Bảng 1. Các loại thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường
TT
Loại ô nhiễm,
suy thoái môi
trường
Dạng tổn thất, thiệt hại tiêu biểu Đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp
• Gia tăng chi phí xử lý nước cấp
- Các nhà máy nước, trạm cấp nước
- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ
trực tiếp khai thác nguồn nước mặt bị ô nhiễm để làm

đất
• Gia tăng chi phí bơm nước do hạ thấp mực
nước ngầm
• Gia tăng chi phí xử lý nước cấp
- Các nhà máy nước, trạm cấp nước
- Các hộ gia đình, cơ sở sản xuất – kinh doanh – dịch vụ
trực tiếp khai thác nguồn nước ngầm bị ô nhiễm để làm
nguồn cung cấp nước cho sinh hoạt, sản xuất
• Gia tăng bệnh tật và các chi phí khám, chữa
bệnh
- Cộng đồng dân cư sinh sống trong khu vực bị ảnh hưởng
bởi nguồn gây ô nhiễm không khí và tiếng ồn
03 Ô nhiễm môi
trường không khí
và tiếng ồn
• Gia tăng các chi phí sửa chữa, bảo trì, tu bổ
- Nhà cửa, công trình trong khu vực bị ảnh hưởng bởi

6
TT
Loại ô nhiễm,
suy thoái môi
trường
Dạng tổn thất, thiệt hại tiêu biểu Đối tượng chịu thiệt hại trực tiếp
các tài sản cố định nguồn gây ô nhiễm không khí
• Giảm giá trị đất đai, nhà cửa
- Các chủ đất và chủ tài sản gắn liền với đất trong khu vực
bị ảnh hưởng bởi nguồn gây ô nhiễm không khí
• Thiệt hại đối hoa màu, vật nuôi
- Các hộ sản xuất nông nghiệp trong khu vực bị ảnh hưởng


Nguồn: Viện Môi trường và Tài nguyên, 2010. 7
1.1.2 Các phương pháp xác định thiệt hại dân sự do ô nhiễm, suy thoái môi trường
1.1.2.1 Các phương pháp xác định thiệt hại liên quan đến sức khỏe và tính mạng
a) Ước lượng giá trị cuộc sống thống kê VOSL / VLS (value of statistical life)
Giá trị của cuộc sống thống kê thường được sử dụng để ước lượng lợi ích của
việc giảm thiểu rủi ro tử vong và đây là một ước lượng giá trị tài chính đối với xã hội
trong việc giảm số lượng người tử vong trung bình. Mộ
t khái niệm liên quan là giá trị
số năm sống thống kê (VLS), ước tính giá trị xã hội đối với việc giảm nguy cơ tử vong
sớm, biểu lộ về mặt tiết kiệm một năm sống thống kê. Giá trị cuộc sống thống kê là
phương pháp thích hợp nhất (trong số nhiều phương pháp) để đo lường xã hội bằng
lòng chi trả bao nhiêu nhằm giảm nguy cơ tử vong.
Cách tiế
p cận này liên quan đến xây dựng mô hình đánh giá ngẫu nhiên (CVM)
để ước lượng mức sẵn lòng chi trả (WTP – willingness to pay) và sẵn lòng chấp nhận
(WTA – willingness to accept) mà mỗi cá nhân sẽ bỏ ra hoặc chấp nhận bồi thường để
tiến hành thay đổi tình trạng môi trường hiện tại nhằm giảm bớt rủi ro về sức khỏe
(WTP) hay sẽ chấp nhận những rủi ro xảy ra và chi trả tiền để khắc phục nó để không

nh hưởng tới lợi ích hiện tại của họ (WTA).
Việc ước lượng WTP và WTA được thực hiện thông qua các phỏng vấn trên
diện rộng với nhiều nhóm đối tượng xã hội ở các độ tuổi khác nhau. Trong đó, các đối
tượng phỏng vấn sẽ được giới thiệu về các mức rủi ro nền do ô nhiễm nước gây ra
gồm có mức độ ô nhiễm hiện tại, các loại bệnh do ô nhi
ễm nước gây ra cho cộng đồng
(các bệnh phổ biến và cả tử vong). Sau đó họ được giảng giải kỹ về những lợi ích mà

i
: số lượng cuộc sống thống kê đã mất = N x ∆r
i

Trong thực tế, VOSL được xác định thông qua Phương pháp chênh lệch mức
lương (wage differential approach). Phương pháp này sử dụng sự khác nhau giữa các
mức lương trên thị trường lao động nhằm đo lường mức yêu cầu bồi thường đối với
nguy cơ tử vong hoặc mắc bệnh tật từ mối nguy hiểm nghề nghiệp đem lại. Trong điều
kiện thị trường là tự do cạnh tranh, công việc có tính chất rủi ro hơn sẽ được trả mức
lương cao hơn khi số lượng công việc và người lao động không đổi. Trên lý thuyết,
thay đổi về nguy cơ tử vong trong công việc sẽ khiến cho tiền lương thay đổi dẫn đến
sự thay đổi về số lượng người lao động đồng ý làm công việc này (đồng ý với số tiền
đền bù cho sự rủi ro). Nghĩa là, khi nguy cơ thay đổi kéo theo sự thay đổi trong mức
WTP/WTA của người lao động chi trả cho việc giảm rủi ro. Mức WTP/WTA của
người lao động phụ thuộc vào mức thu nhập của người lao động, mức độ rủi ro của
công việc và phụ thuộc cả về tuổi cũng như giới tính cũng như vai trò ảnh hưởng của
công đoàn đối với người lao động.
Ưu điểm của phương pháp CVM là có thể đánh giá nhiều giá trị khác nhau đối
với nhiều loại hàng hoá môi trường. CVM cũng không yêu cầu số lượng thông tin thu
thập được phải quá lớn. Tuy nhiên, do phương pháp này dựa trên việc trả lời phỏng
vấn của người dân, vì thế, kết quả nhận được phụ thuộc rất nhiều vào cách thức và thời
điểm phỏng vấn, đặc biệt là độ chính xác của câu hỏi đặt ra. Trong khi đó, cùng một
mục đích đánh giá có thể áp dụng nhiều giả thuyết khác nhau, do vậy kết quả ước
lượng chệch (tồn tại sai số lớn) được xem là một khiểm khuyết đặc trưng của CVM.
b) Phương pháp dựa vào chỉ số DALY (số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh)
Khái niệm về số năm trong cuộc đời bị mất do mắc bệnh DALY (disability
adjusted life years) cung cấp một thước đo tiêu chuẩn gánh nặng bệnh tật để tính toán
chi phí thiệt hại do việc mắc bệnh đem lại. DALY bao gồm tổng số năm của cuộc sống
tương lai bị mất đi YLL (years of life lost) do nguyên nhân tử vong sớm và số năm
sống bị mất đi vì mang bệnh hoặc thương tích YLD (year of life disability)

Để tính YLD cần biết thời gian mang bệnh, cần biết hai thông số: thứ nhất là
mức độ trầm trọng của bệnh, thứ hai là loại bệnh mắc phải ở các mức độ khác nhau.
Mức độ trầm trọng của bệnh (DW) tính một cách tương đối dựa trên cách xử trí.
- Mức 1: không phải dùng thuốc hoặc nếu dùng thì chỉ ở mức tự mua thuốc về
chữa.
- Mứ
c 2: Cần đến thầy thuốc khám chữa bệnh ở tuyến xã hoặc thầy thuốc tư
nhân trong xã.
- Mức 3: phải khám chữa bệnh tại bệnh viện (từ huyện trở lên).
1
YLL = (1 - e
-0,03L
) x số chết của từng khoảng
0,03

10
* Tính DALY
Việc tính DALY có thể dựa trên công thức sau:
DALY = YLL + YLD
Do không thể theo dõi tình hình mắc bệnh của tất cả mọi thành viên trong cộng
đồng, việc tính gánh nặng bệnh tật cho một cộng đồng như trên chỉ có tính chất gần
đúng.
c) Phương pháp tính gánh nặng bệnh tật do môi trường (EBD)
Việc sử dụng gánh nặng bệnh tật giúp định lượng hóa tác động bệnh tật ở
những cấp độ dân cư khác nhau. Lý tưởng nh
ất là tính toán theo cách phù hợp và sử
dụng những cách tính toán cơ bản vì điều này sẽ giúp cho việc so sánh số liệu bệnh tật
và các yếu tố nguy cơ ở các nghiên cứu khác nhau trở nên khả thi hơn. Việc tính toán
như vậy cũng giúp chúng ta có thể so sánh số liệu ở các nhóm dân cư khác nhau và
những vùng miền địa lý khác nhau. Vì lý do này người ta sử dụng chỉ số DALY để đo

• RR
x
)
AF =
X
Số mắc, chết và DALY quy thuộc

11
Công thức tính EBD:

Trong đó:
 X = mức độ phơi nhiễm
 Pe
x
= tỷ lệ hiện phơi nhiễm ở mức độ x
 RR
x
= Nguy cơ tương đối ở cấp độ x
 IF (Impact Fraction-tỷ phần tác động) hoặc AF (Attribute Fraction-tỷ phần
quy thuộc) có thể được hiểu là tỷ lệ giảm đi các vấn đề sức khỏe hoặc tử
vong do việc giảm yếu tố nguy cơ môi trường. Nói cách khác nó là tỷ lệ của
vấn đề sức khỏe hoặc tử vong trong cộng đồng do yếu tố nguy cơ môi trường
đó gây ra (Miettinen, 1974; Greenland, 1984).
EBD = Gánh nặng quy thuộc
3
= Gánh nặng bệnh tật x Tỷ phần tác động
Công thức và quy trình tính toán trên cho thấy, để tính toán được gánh nặng
bệnh tật do môi trường cần phải có thông tin về số mới mắc, tử vong, và DALY theo
các nhóm tuổi và giới.
* Tính gánh nặng bệnh tật môi trường do môi trường của bệnh tiêu chảy

phí bệnh tật bao gồm chi phí y tế (gồm cả chi phí tài chính cho việc chữa bệnh và phục
hồi, chi phí thời gian…), chi phí tổn thất thu nhập do việc mắc bệnh đem lại. Đây là
phương pháp áp dụng tương đối dễ dàng, tuy nhiên lại gặp khó khăn trong việc tính
toán nếu các căn bệnh là mãn tính khi các giai đoạn phát triển của bệnh kéo dài. Do
đó, để áp dụng phương pháp một cách hiệu quả, điều quan trọng là phả
i lựa chọn các
căn bệnh đặc trưng, cách đánh giá, xây dựng mối quan hệ nguyên nhân – kết quả phù
hợp nhằm dễ dàng xác định các chi phí liên quan.
Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người HC (Human Capital)

Ngoài ra, có thể áp dụng Phương pháp tiếp cận nguồn vốn con người (HC) để
đánh giá thiệt hại thông qua đo lường tổn thất thu nhập. Phương pháp HC coi mỗi cá
nhân là một nguồn lực có thể sản xuất hàng hóa và dịch vụ cho xã hội. Do vậy, giá trị
của một cá nhân tạo ra trong thời gian sống của mình đo lường chính xác thu nhập của
cá nhân ấy. Việc mắc bệnh (do ô nhiễm môi trường) sẽ ảnh h
ưởng đến tuổi thọ của cá
nhân. Trong phương pháp HC, việc xác định được thu nhập mất đi được coi là xác
định giá trị của tuổi thọ của cá nhân đó. Giá trị HC phụ thuộc vào độ tuổi tử vong, mức
thu nhập, kỹ năng lao động và mức độ phát triển của quốc gia (giá trị tổng sản phẩm
quốc nội GDP/người).
HC là một phương pháp đặc trưng và rất phù hợ
p cho việc lượng giá các giá trị
của cuộc sống, như giá trị về sức khoẻ, tuổi thọ… . Tuy nhiên, trong một số trường
hợp, các tác động tới sức khoẻ là tương đối phức tạp và rất khó tách biệt cho tính toán.
Ví dụ như ô nhiễm môi trường tác động đến các độ tuổi khác nhau thì khác nhau, trong
đó ảnh hưởng lớn nhất đến độ tuổi 65 và già hơn. Khi đó phải tiến hành những phân
chia khá ph
ức tạp.
Liều lượng-đáp ứng hay đánh giá tác động.
Liều lượng – đáp ứng hay các phương pháp đánh giá tác động cung cấp ước

5. Ước tính tổng tiền tệ dựa trên chi phí của các tác động liên quan đến nồng độ các
chất gây ô nhiễm
Đối với ước tính giá trị kinh tế của sức khỏe con người, dữ liệu sau đây là
cần thiết
- Chi phí của các cơ sở y tế khác nhau trong cả nước,
- Dữ liệu về sức khỏe, tuổi thọ, nguyên nhân gây ra tử vong, phân phối tuổi,
- Thu nhập bình quân đầu người và biến số khác như điều kiện sinh hoạt, mô
hình tiêu dùng, chi phí duy trì sức khỏe, vv
Phương pháp này có ưu điểm là xác định đượ
c mối liên hệ nhân quả giữa ô
nhiễm môi trường và sức khỏe con người, làm cơ sở cho việc xác định thiệt hại. Tuy
nhiên, việc xác định mối quan hệ này tương đối khó khăn do sức khỏe con người phụ
thuộc vào nhiều yếu tố (thể trạng, bệnh lý, v v)
1.1.2.2 Các phương pháp xác định thiệt hại liên quan đến tài sản
a) Phương pháp thay đổi năng suất (PC)
Phương pháp này chú trọng vào các tài nguyên thiên nhiên với tư cách là
đầu
vào của quá trình sản xuất hàng hoá và dịch vụ. Khi đầu vào giảm thì sẽ dẫn đến giảm
dịch vụ cung cấp cho sản xuất, kết quả làm giảm lợi ích của người sản xuất tính theo
giá thị trường. Tổng suy giảm lợi ích này là thiệt hại do sự cố môi trường đem lại. Ví
dụ, nước ngọt là đầu vào của quá trình sản xuất nông nghiệp. Nước bị ô nhiễm dẫ
n đến
việc suy giảm năng suất cây trồng. Năng suất suy giảm đó chính là thiệt hại của ô
nhiễm nước gây ra.
Phương pháp thay đổi năng suất thường được sử dụng để định giá thay đổi của
sản xuất nông nghiệp. Khi ô nhiễm nước xảy ra, nước ô nhiễm sẽ ảnh hưởng đến
sản xuất hoặc năng suất. Về mặt lý thuyết, phươ
ng pháp giả định rằng chất lượng

14

4. Đo lường mức độ chất gây ô nhiễm (s) đã tăng (hoặc giảm) trong cùng giai đoạn.
5. Xác định mức độ của các chất gây ô nhiễm gây ra sự suy giảm giá trị thị trường và
mức độ giá trị thị trường bị suy giảm.
Một ví dụ cho việc định giá thị trường có thể áp dụng cho trường hợp của bất
động sản. Giá bất động sản có thể bị ảnh hưởng do ô nhiễm môi trường trong khu vực.
Chất lượng môi trường có thể ảnh hưởng đến quyết định mua một ngôi nhà cụ thể và
giá nhà có thể bị ảnh hưởng một phần bởi các thuộc tính môi trường của bất động sản.
Các loại tài nguyên khác như thủy sản, rừng cũng có thể bị ảnh hưởng bởi ô nhiễm ở
phạm vi giá thị trường hoặc thu nhập suy giảm. Các suy thoái tài nguyên thiên nhiên
do ô nhiễm được phản ánh bởi giá trị thị trường chỉ khi ô nhiễm dẫn tới giảm giá trị thị

15
trường của các tài sản đó. Phương pháp lượng giá này cho thấy sự suy thoái đã diễn ra
đối với những nguồn tài nguyên có giá trị thị trường, và cũng cho thấy mức độ suy
giảm mà suy thoái đã gây ra đối với các giá trị thị trường.
Những thay đổi trong giá cả thị trường được ước tính theo những cách khác
nhau, tùy theo thị trường. Phương pháp phổ biến nhất là kiểm tra giá trị thị trường của
tài sản theo th
ời gian để xác định xem các giá trị đang giảm do hậu quả của ô nhiễm.
Các phương pháp dựa trên thị trường (Market Base Methods) ước lượng các giá
trị dựa trên những lựa chọn thực tế của con người. Do đó, nhóm này thưòng được dùng
với những giá trị được người ta nhận biết rõ và có giá trên thị trường, mà không thể áp
dụng với các giá trị phi sử dụng
c) Phương pháp so sánh đối chứng
Phương pháp so sánh
đối chứng thường được áp dụng để tính toán thiệt hại về
tài sản, như tính tổng thiệt hại về cây trồng, vật nuôi tại khu vực bị ô nhiễm, đặc biệt
trong trường hợp phạm vi ô nhiễm rộng, thiệt hại xảy ra đối với nhiều tổ chức, cá nhân
và không thể tính thiệt hại chi tiết đối với từng người. Ðại lượng chính được so sánh là
sản lượ

vực có điều kiện tương đồng để so sánh là tương đối khó khăn trong nhiều trường hợp.
1.1.3 Phương pháp tính toán tải lượng ô nhiễm

1.1.3.1 Xác định tải lượng ô nhiễm từ ô nhiễm công nghiệp
a) Các chương trình quan trắc nguồn thải
Quan trắc trực tiếp các nguồn thải thông qua lấy mẫu và phân tích là phương
pháp được sử dụng rộng rãi và sớm nhất. Phương pháp này là không thể thiếu được
trong nhiều trường hợp, đặc biệt khi việc xả thải từ các nguồn trên quy mô lớn, đòi
hỏi phải giám sát chặt chẽ, hoặc thẩm tra rõ ràng
đối chiếu với tiêu chuẩn/quy chuẩn
xả thải.
Ưu điểm chính của phương pháp quan trắc trực tiếp nguồn thải là có độ chính
xác nhờ kết quả kiểm kê. Tuy nhiên, phương pháp này có nhược điểm là tiêu tốn nhiều
thời gian và cần nhiều nguồn lực và thậm chí là không thực tế đối với khu vực nghiên
cứu rộng lớn và phức tạp. Ví dụ, việc quan trắc đầu ra t
ừ xí nghiệp thuộc da đòi hỏi
phải lấy mẫu và phân tích cẩn thận để xác định nồng độ của một số chất ô nhiễm. Khi
khối lượng và thành phần đầu ra thay đổi đáng kể trong chu trình sản xuất hàng tuần,
thì phải lấy nhiều mẫu đại diện cho tất cả các công đoạn sản xuất chính. Điều này rõ
ràng là đòi hỏi nhà máy/xí nghiệp phải chi phí thời gian và nguồ
n lực nhiều hơn.
b) Mô hình hóa các nguồn ô nhiễm và các hệ thống kiểm soát
Việc sử dụng các mô hình toán để tái tạo các hoạt động/ảnh hưởng của các
nguồn nhất định, là một trong những phương pháp tiến tiến nhất để đánh giá một cách
tin cậy không chỉ cho các nguồn thải hiện thời, mà còn dự báo xu thế biến đổi khi vận
hành trong tương lai.
Nhược điểm của phương pháp mô hình là khó kh
ăn trong việc phát triển từng
mô hình đối với từng nguồn và nhiều nguồn.
Giá trị của các mô hình nhất định trong mỗi trường hợp thực tế thông qua các

với các chỉ tiêu môi trường xác định, căn cứ vào các thông tin như: loại hình sản xuất,
quy mô sản xuất và trình độ phát triển của các công nghệ khác nhau áp dụng trong quá
trình sản xuất của doanh nghiệp, gọi là hệ thống dự báo ô nhiễm công nghiệp
(Industrial Pollution Projection System -IPPS). 1.500 dạng sản phẩm, công nghệ sản
xuất, hàng trăm chỉ tiêu ô nhiễm
đã được đưa vào hệ thống IPPS. Tải lượng các chất ô
nhiễm được dự báo theo các loại: không khí, nước, chất thải rắn, và được kết hợp khi
đánh giá các yếu tố rủi ro đối với con người và hệ sinh thái. IPPS là hệ thống mô hình
kết hợp dữ liệu từ các hoạt động sản xuất (như sản xuất và nhân công) với số lượng
phát thải ô nhiễm để tính toán các yếu tố v
ề tần suất (intensity) ô nhiễm (mức độ phát
thải ô nhiễm trên một đơn vị sản phẩm của một hoạt động công nghiệp). IPPS đã được
sử dụng ở nhiều nước công nghiệp và đặc biệt được áp dụng tại các nước mà chưa
triển khai các phương pháp mang tính hệ thống trong việc thống kê nguồn thải. Bước
đầu đối với mô hình này, tần suất (intensity) ô nhiễm/các hệ s
ố ô nhiễm đã được tính
toán với các số liệu có sẵn tại Mỹ từ điều tra các ngành sản xuất của Mỹ và của cơ
quan bảo vệ môi trường Mỹ (EPA).
Tính toán cơ bản dựa trên thông tin của ngành sản xuất và giá trị đầu ra, lợi
nhuận và nhân công. Mức độ (intensity) ô nhiễm sau đó được tính là tổng lượng phát
thải chia cho các chỉ số của các ngành công nghiệp (ví dụ: giá trị đầu ra, l
ợi nhuận
hoặc nhân công). Trong trường hợp dựa trên chỉ số nhân công, số liệu về lượng kg ô
nhiễm trên một đơn vị nhân công được sử dụng.
Loại nguồn
Hệ số tải lượng xả
thải thô
Quy mô hoạt động và các đầu
vào nguồn đặc biệt khác
Tải lượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status