BỘ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO TỔNG HỢP
ĐỀ TÀI ĐỘC LẬP CẤP NHÀ NƯỚC NGHIÊN CỨU CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG
CƠ CHẾ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH
THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG
DOANH NGHIỆP
MÃ SỐ 002/2009
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: GS.TS. NGÔ THẾ CHI
CƠ QUAN CHỦ TRÌ : HỌC VIỆN TÀI CHÍNH
9633
MỤC LỤC
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ,
VÀ CƠ CHẾ TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH
CHO PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
10
1.1. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT
TRIỂN CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP 10
1.1.1. Khái quát chung về khoa học và công nghệ 10
1.1.2. Các phương thức phát triển KH&CN 13
1.1.3. Vai trò của phát triển khoa học và công nghệ với nền kinh tế và
trong doanh nghiệp 13
1.1.4 Sự cần thiết phải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ
21
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG
NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
CỦA DOANH NGHIỆP 23
1.2.1 Khái niệm chung về nguồn tài chính 23
1.2.2. Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và
công nghệ trong doanh nghiệp 25
1.2.3. Những nhân tố ảnh hưởng tới đầu tư nguồn lực tài chính, quản lý
và sử dụng nguồn hình thành quỹ phát triển khoa học và công nghệ
trong khu vực doanh nghiệp 33
1.2.4. Quỹ KH&CN và quản lý, sử dụng quỹ KH&CN trong các doanh
2.2.1. Những chính sách chung về huy động và sử dụng nguồn tài chính
đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp …79
2.2.2. Cơ chế chính sách về quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong
doanh nghiệp 96
2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG
DOANH NGHIỆP 102
2.3.1. Tổng quan về doanh nghiệp Việt nam hiện nay 102
2.3.2. Thực trạng khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 112
2.3.3 Nhân tố ảnh hưởng đến đổi mới Khoa học và công nghệ trong
doanh nghiệp 116
2.4. THỰC TRẠNG TẠO LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN HÌNH
THÀNH QUỸ KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TẠI DOANH NGHIỆP119
2.4.1. Thực trạng các nhân tố tác động đến hình thành quỹ Phát triển
khoa học và công nghệ trong doanh nghiệp 120
2.4.2. Thực trạng tạo lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ trong
doanh nghiệp 123
2.4.3. Nguồn vốn hình thành Quỹ phát triển khoa học và công nghệ130
2.4.4. Thực trạng quản lý và sử dụng quỹ phát triển KH & CN trong
daonh nghiệp 131
CHƯƠNG 3 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP TẠO LẬP, QUẢN
3.3.1. Giải pháp về thuế 148
3.3.2. Giải pháp nhằm hoàn thiện quy định về sử dụng quỹ phát triển KH &
CN trong doanh nghiệp 151
3.3.3 Thực hiện các chính sách khuyến khích sự hình thành các quỹ đầu tư
mạo hiểm vào doanh nghiệp 155
3.3. 4. Giải pháp về tín dụng hỗ trợ cho phát triển khoa học và công nghệ
tại doanh nghiệp 156
3.3.5. Giải pháp khuyến khích đầu tư quốc tế cho hoạt động KH & CN
trong doanh nghiệp 158
3.4. Giải pháp cụ thể nhằm tạo lập, quản lý sử dụng hiệu quả quỹ phát triển
KH & CN cho từng loại hình doanh nghiệp 160
3.4.1. Giải pháp khuyến khích tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển
KH & CN trong doanh nghiệp vừa và nhỏ 160
3.4.2. Giải pháp khuyến khích tạo lập, quản lý và sử dụng quỹ phát triển
KH & CN trong doanh nghiệp quy mô lớn 164
3.4.3. Giải pháp cho doanh nghiệp chuyên về nghiên cứu và phát triển công
nghệ mới 166
3.4.4. Đẩy mạnh liên kết giữa các tổ chức nghiên cứu và các cơ sở sản
xuất, doanh nghiệp 168
MỞ ĐẦU
Tăng trưởng kinh tế là sự gia tăng của GDP hoặc GNP hoặc thu nhập bình
quân đầu người trong một thời gian nhất định.Tăng trưởng kinh tế thể hiện sự thay
đổi về lượng của nền kinh tế.Theo quan điểm của triết học biện chứng sự thay đổi
về lượng quyết định sự thay đổi về chất. Một nề
n kinh tế có tăng trưởng mới có
phát phát triển. Phát triển chính là yếu tố quyết định đến sự tồn vong của một quốc
gia. Không thể có nền kinh tế tăng trưởng nếu như từng doanh nghiệp không có sự
tăng trưởng.
Tăng trưởng của nền kinh tế nói chung,của từng doanh nghiệp nói riêng phụ
thuộc vào bốn yếu tố cơ bản: Nguồn nhân lực; nguồn tài nguyên thiên nhiên; tư
b
ản; công nghệ.Trong bốn yếu tố trên mặc dầu yếu tố nguồn nhân lực là yếu tố
quyết định cho tăng trưởng kinh tế ở mọi thời đại, song không thể thiếu vắng yếu
tố công nghệ. Đặc biệt trong bối cảnh hội nhập, mở cửa, cạnh tranh khóc liệt ai
nắm, sử dụng và sáng tạo được công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công
nghệ vật liệ
u mới…thì kẻ đó sẽ chiến thắng trong cuộc chơi không hồi kết. Chính
vì lẽ đó, cho đến nay ở mọi quốc gia, mọi doanh nghiệp ngoài việc quan tâm cho
đầu tư tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, người ta đều chú trọng nhiều đến
vấn đề đầu tư phát triển khoa học và công nghệ . Đầu tư cho phát triển khoa học và
công nghệ không chỉ đầu tư cho khai thác sử dụng công nghệ
hiện có mà còn đầu
tư sáng tạo ra công nghệ mới-một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của quốc
gia nói chung và của từng doanh nghiệp nói riêng. Trong điều kiện nguồn lực tài
chính có hạn, không phải lúc nào cũng có sẵn nguồn lực tài chính dùng cho đầu tư
phát triển khoa học và công nghệ đối với cả quốc gia cũng như đối với từng doanh
nghiệp. Một trong những cách thứ
c để có nguồn lực tài chính dùng cho đầu tư phát
Xác lập luận cứ khoa học của việc tạo lập và sử dụng quỹ phát triển Khoa
học và công nghệ trong doanh nghiệp ở Việt nam Nghiên cứu kinh nghiệm các nước trong việc khuyến khích đầu tư cho khoa
học và công nghệ tại doanh nghiệp
Đánh giá thực trạng nghiên cứu, đầu tư phát triển khoa học và công nghệ
trong doanh nghiệp hiện nay
Đánh giá, phân tích thực trạng việc huy động nguồn tài chính cho đầu tư
phát triển khoa học và công nghệ trong khu vực doanh nghiệp ở Việt Nam, tập
trung vào phân tích thực trạng quản lý, sử dụng quỹ phát triển KH&CN trong các
doanh nghiệp
Đề xu
ất giải pháp nhằm tăng cường đầu tư khoa học và công nghệ trong
doanh nghiệp; cơ chế chính sách Nhà nước thúc đẩy việc huy động và quản lý, sử
dụng nguồn tài chính cho khoa học và công nghệ đối với doanh nghiệp; cơ chế
quản lý sử dụng nguồn quỹ phát triển khoa học và công nghệ tại doanh nghiệp.
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ, VÀ CƠ CHẾ TẠO
LẬP, QUẢN LÝ VÀ SỬ DỤNG NGUỒN LỰC TÀI CHÍNH CHO PHÁT TRIỂN
KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. VAI TRÒ CỦA KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN
CỦA NỀN KINH TẾ VÀ CỦA DOANH NGHIỆP
1.1.1. Khái quát chung về khoa học và công nghệ
2
Từ điển Cobuild Learner’s Dictionary (2001).
3
Từ điển Triết học của Liên Xô (1975).
4
Từ điển Hutchinson Dictionary of Ideas (1994).
5
Từ điển Bách khoa toàn thư của Liên Xô (1986) “Khoa học là một hoạt động nghiên cứu và kiến thức về thế giới vật lý và hành
vi của nó, dựa trên các thực nghiệm và các sự kiện được kiểm chứng và được tổ
chức thành hệ thống”
6
. Tiếp theo định nghĩa này, trong từ điển MacMillan tách ra
hai từ mục: (1) Khoa học là một lĩnh vực nghiên cứu (an area of study) sử dụng các
phương pháp khoa học, và (2) Khoa học là một chủ đề nghiên cứu (a subject),
chẳng hạn, vật lý học, hóa học.
Từ định nghĩa về khoa học theo các sách từ điển khác nhau, có thể tựu chung lại
khi nói đến khoa học sẽ được hiểu theo một trong 4 khía cạnh đó là: một hệ
thống
tri thức; một hoạt động sản xuất tri thức; một h́nh thái ư thức xă hội; một thiết chế
xă hội. Với mỗi tư duy khác nhau sẽ có cách hiểu khác nhau về khoa học, nhưng
tổng kết lại có thể hiểu khoa học là hệ thống tri thức, là sản phẩm của con người
trong hoạt động sản xuất tri thức.
Ngoài ra, còn có những cách hiểu khác như khoa h
ọc (science) còn gọi là kiến
thức hoặc hiểu biết, là những nỗ lực thực hiện những phát minh, và tăng lượng tri
thức hiểu biết của con người về cách thức hoạt động của thế giới vật chất xung
quanh. Thông qua các phương pháp kiểm soát, nhà khoa học sử dụng cách quan sát
dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của con người.
Khi nói đến công nghệ người ta thường nêu lên 4 thành phần của công nghệ
như sau:
+ Phần phương tiện (hay phần kỹ thu
ật) bao gồm: máy móc, thiết bị, công
cụ, nhà xưởng, cơ sở hạ tầng vật chất
+ Phần con người thể hiện ở trình độ, kỹ năng, kỹ xảo, kinh nghiệm, thói
quen.
+ Phần thông tin bao gồm các bí quyết, qui trình, phương pháp được mô
tả trong các tài liệu và bản thiết kế.
+ Phần tổ chức bao gồm cách thức phối hợp, quản lý và điều hành các phần
phương tiệ
n, phần con người và phần thông tin nhằm đưa công nghệ vào thực tiễn
hoạt động kinh tế.
Trong bốn thành phần trên, phần phương tiện còn được gọi là "phần cứng",
các thành phần còn lại được gọi là "phần mềm". Các thành phần đó tác động qua
lại và tương thích lẫn nhau trong quá trình sản xuất. Hiệu quả của công nghệ có
phát huy được hay không là phụ thuộc trực tiếp vào sự kết hợp giữa các thành phầ
n
này của công nghệ. Nếu thiết bị máy móc hiện đại mà không có đội ngũ lao động
lành nghề, có trình độ, khả năng sắp xếp, tổ chức tốt, hoặc không nắm bắt được
đầy đủ thông tin, bí quyết liên quan đến công nghệ thì khó có thể phát huy được
hiệu quả của công nghệ. Khoa học và công nghệ có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Khoa học tạo cơ
sở lý thuyết cho việc sáng tạo và triển khai các hoạt động công nghệ. Công nghệ
tạo ra những phương tiện quan trọng hỗ trợ cho nghiên cứu, phát hiện những kiến
thức khoa học mới.
triển lâu dài và bền vững sẽ tạo ra những công nghệ của riêng mình, khi đó năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp sẽ ngày càng mạnh lên. Tuy nhiên, chỉ số ít các
doanh nghiệp có thể tự mình phát triển được công nghệ phục vụ hoạt động sản xuất
của mình như vậy do những hạn chế về nhân lực và tài chính. Trong mỗi lĩ
nh vực
sản xuất kinh doanh sẽ có những công nghệ riêng, nên trình độ phát triển khoa học
và công nghệ trong mỗi doanh nghiệp sẽ chịu ảnh hưởng mạnh mẽ từ trình độ phát
triển KH&CN trong mỗi ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ
Khoa học đã trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp
Sự khác biệt giữa các thời đại kinh tế không phải ở việc chúng ta sả
n xuất ra
cái gì mà nó nằm ở chỗ chúng ta sản xuất bằng cách nào với những tư liệu lao
động nào
8
. Chính vì thế, khoa học đóng vai trò như một lực lượng sản xuất trực
tiếp. Tức là khoa học đã phát triển đến trình độ trở thành điểm xuất phát trực tiếp
cho những thay đổi lớn về kỹ thuật sản xuất và tạo ra những ngành sản xuất mới ưu
việt hơn.
Cuộc cách mạng khoa học-kĩ thuật hiện đại đã kết h
ợp khoa học và kĩ thuật
thành một thể thống nhất không thể tách biệt được, đã đưa đến những phương pháp
sản xuất mới. Khoa học còn phát hiện và đề ra những phương pháp khai thác
những nguồn năng lượng mới và chế tạo hàng loạt vật liệu nhân tạo có tác dụng
nhiều mặt mà trước đây không thể biết được. Khoa học lại đề ra hàng loạt phương
ti
ện kỹ thật và quá trình công nghệ mới về chất lượng trong sản xuất.
Tri thức khoa học được vật chất hoá, được kết tinh vào mọi nhân tố của lực
lượng sản xuất từ trong đối tượng lao động, công cụ lao động, kỹ thuật và quá trình
công nghệ và cả trong những hình thức tổ chức tương ứng của sản xuất. Tri thức
khoa học bao hàm trực tiếp trong hoạt độ
làm tăng giá trị gia tăng đối với các ngành kinh tế - kỹ thuật hay v
ới các doanh
nghiệp. Theo cách tiếp cận hiện đại, tăng trưởng GDP phải đi cùng với tăng việc
làm và tăng năng suất lao động (Biểu đồ số 1)
Biểu đồ số 1: Quy trình phát triển của một quốc gia
Nguồn: Kinh tế Phát triển (Vũ T.N.Phùng chủ biên)
Tăng năng suất lao động lại phụ thuộc vào tăng cường độ vốn IC (Capital
Intencity) và tăng năng suất các yếu tố tổng hợp TFP (Total Factor Productivity).
Trong đó, yếu tố TFP là năng suất được tạo nên bởi các yếu tố vô hình, bao gồm
yếu tố phần mềm của công nghệ. Theo Tổ chức Năng suất châu Á (APO) thì TFP
tạo bởi các yếu tố chính: Thúc ép của thị trường (nhu cầu); chất l
ượng của thiết bị
(tính đồng bộ, tính năng gia công - chế biến, tính an toàn…); chất lượng lao động
(chủ yếu là kỹ năng, tức là tính thạo việc); vai trò của kỹ thuật tiến bộ (ứng dụng
kết quả của R&D mà chủ yếu là các sản phẩm mới, phương pháp mới); hiệu lực
của quản lý (khả năng kiểm soát cao của cách quản lý theo quá trình…).
Quá trình đổi mới công nghệ là quá trình chuy
ển hóa từ vai trò chủ đạo của
yếu tố vốn CI dần sang vai trò chủ đạo của các yếu tố tổng hợp TFP. Theo Tổ chức
APO, tại thời điểm hiện nay, ở các nước đang phát triển (trong đó có Việt Nam) CI
còn giữ vai trò chủ đạo, quyết định hiệu quả của sự phát triển; CI chiếm tỷ trọng
tới 60-70% trong tổng mức tăng năng suất hay tă
ng GDP; yếu tố TFP đang tăng
dần với tốc độ khá cao nhưng cũng chỉ mới chiếm tỷ trọng 30-40% trong tổng mức
Nâng cao mức sống và cải thiện
chất lượng cuộc sống
khác.
Công nghiệp hóa và hiện đại hóa là sử dụng tri thức khoa h
ọc và công nghệ
mới nhất để phát triển nền kinh tế, chuyển nền kinh tế từ tình trạng năng suất, chất
lượng, hiệu quả thấp sang nền kinh tế năng suất, chất lượng, hiệu quả cao. Sản
phẩm tạo ra sẽ đạt được các tiêu chuẩn quốc tế như ISO – một trong những nguyên 9
Theo tính toán của Viện Khoa học Thống kê trong giai đoạn 2000-2005 tắc của việc gia nhập thị trường quốc tế - từ đó sẽ thúc đẩy nhanh quá trình hội
nhập.
Khoa học và công nghệ và công nghiệp tiên tiến
Đặc biệt trong ngành công nghiệp, khoa học và công nghệ đóng vai trò vô
cùng quan trọng đưa đến những đổi mới trong công nghiệp sản xuất cơ khí, công
nghiệp chế tạo kết cấu, công nghiệp điện tử, công nghiệp đóng tàu, khai thác tài
nguyên khoáng sản….Kinh nghiệ
m phát triển khoa học và công nghệ nhằm thúc
đẩy nhanh quá trình công nghiệp hóa của các nước Đông Á là một trong những
điển hình thể hiện vai trò to lớn của KH&CN đối với ngành công nghiệp. Dựa vào
phát triển khoa học và công nghệ mà các nước Đông Á đã nhanh chóng chuyển từ
tăng trưởng dựa vào lực lượng lao động giá rẻ hay (phát triển những ngành sản
xuất sử dụng nhiều lao động như dệt may, giày da, tóc giả…) sang tăng trưở
ng dựa
trên hàm lượng khoa học và công nghệ rất cao.
Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc và Đài Loan chủ yếu dựa vào việc du
nhập
kiến thức khoa học và công nghệ nước ngoài và ứng dụng chúng vào sản
c và công nghệ góp phần phát triển ngành nông nghiệp
Trong thời kỳ đổi mới, khoa học và công nghệ đã có những đóng góp vô
cùng to lớn trong phát triển nông nghiệp nông thôn. Những thành tựu to lớn đó đã
góp phần quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa bảo đảm an
sinh xã hội và an ninh quốc phòng. Đó là những nghiên cứu về giống cây, con
nhằm tạo ra sự đột biến về năng suất, chất lượng củ
a cây trồng, vật nuôi. Công
nghệ thông tin giúp cho nông dân tiếp cận được với khoa học và công nghệ và thị
trường để phát triển sản xuất trong nông nghiệp. Chính nhờ có sự phát triển khoa
học và công nghệ mà ngành nông nghiệp ở hầu hết các nước trên thế giới hiện nay
đã phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu
quả, bảo đảm an ninh lương thực quốc gia. Kinh tế nông thôn chuyển dịch theo
10
Ngô Tuấn Nghĩa (2008) và Nguyễn Văn Thu (2007).
11
Tạp chí Hoạt động KH&CN 2006. hướng tăng công nghiệp, dịch vụ ngành nghề, đời sống người nông dân ngày càng
được cải thiện, cơ sở vật chất vùng nông thôn được nâng cấp và xây dựng mới.
Đối với Việt Nam trong lĩnh vực nông nghiệp, từ năm 1995 trở lại đây, năng
suất lúa tăng gần 30 tạ/ha lên gần 50 tạ/ha, đưa Việt Nam thành nước có năng suất
lúa cao gấp 1,5 lần Thái Lan và đứng đầu Đông Nam Á. Trong vòng 10 nă
m trở lại
đây, các nhà khoa học đã chọn tạo và tuyển được gần 170 giống lúa mới, trong đó
có nhiều giống được phát triển trên diện rộng. Nhờ đó, tới nay nông dân đã gieo
trồng trên 80% diện tích bằng các giống lúa cải tiến. Riêng các tiến bộ về giống lúa
hàng năm đã làm lợi cho sản xuất hàng ngàn tỉ đồng. Có tới trên 90% diện tích
trồng ngô bằng giống ngô lai, trong đó ngô lai của Viện Nghiên c
cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu tại Trung Quốc. Trong năm 2007, Trung
Quốc đã đặt ra kế hoạch quốc gia đầu tiên về biế
n đổi khí hậu, trong đó cam kết
chống lại khí nhà kính nhưng không đánh đổi bằng sự phát triển kinh tế. Bên cạnh
đó, sự hợp tác quốc tế trong việc giúp Trung Quốc bảo đảm một nền kinh tế
cácbon thấp, bao gồm cả nhu cầu tiếp cận công nghệ liên quan đến biến đổi khí
hậu cũng được quốc gia này rất coi trọng. Điều này cũng thể hiện cam kết củ
a
Trung Quốc trong việc biến những cố gắng cắt giảm khí thải cácbon thành động
lực phát triển kinh tế, một hướng phát triển tất yếu trong tương lai.
Trung Quốc cũng đã tích cực thăm dò sự cộng tác quốc tế trong việc nghiên
cứu và chuyển giao công nghệ liên quan đến biến đổi khí hậu Một chương trình
nghiên cứu kết hợp với Mỹ về công nghệ than sạch, tập trung vào việ
c thu giữ và
chôn lấp cácbon đang được đề xuất. Sự hợp tác như vậy - nếu có - sẽ tạo nên một
ví dụ điển hình về việc các nước đang phát triển và phát triển có thể phối hợp với
nhau trong cuộc chiến chống lại biến đổi khí hậu toàn cầu. Điều này cũng sẽ thúc
đẩy sự phát triển công nghệ xanh của Trung Quốc.
1.1.4 Sự cần thiết ph
ải đầu tư cho phát triển khoa học và công nghệ
Quá trình toàn cầu hoá và hội nhập ðang làm nảy sinh những phạm vi mới
về nãng lực cạnh tranh, trong ðó tri thức đóng vai trò quan trọng trong việc tạo ra
những lợi thế cạnh tranh. Thực tế ở các nền kinh tế mới nổi của châu Á và Thái
Bình Dương (Hàn Quốc, Singapore, Malaysia, Trung Quốc, Ấn Độ) cho thấy công
nghệ và đổi mới là một nhân tố chính của sự tăng trưở
ng và phát triển bền vững.
Hội nhập kinh tế quốc tế buộc mỗi quốc gia phải coi đổi mới khoa học và
công nghệ là một trong những mục tiêu chiến lược để đạt được những lợi ích lâu
trên thế giới. Tuy nhiên, Vi
ệt Nam đang phải đối mặt với thâm hụt thương mại
tương đối trầm trọng, đã tác động tiêu cực đến tăng trưởng kinh tế của Việt Nam. Trong năm 2007, thâm hụt thương mại của Việt Nam là 12,4 tỷ đô la Mỹ, ước vào
khoảng 17,3% GDP
13
. Con số này cho thẩy rằng nó khá cao so với quy mô GDP.
Thêm vào đó, mặc dù xuất khẩu của Việt Nam cũng tăng lên đang kể nhưng phần
lớn là do tăng về số lượng, giá trị gia tăng trong xuất khẩu còn rất khiêm tốn.
Nguyên nhân cơ bản là do trình độ khoa học và công nghệ , chất lượng
nguồn nhân lực của Việt Nam chỉ ở mức trung bình, nên giá trị gia tăng của hàng
hóa và dịch vụ được sả
n xuất ra thường không cao. So với các quốc gia có trình độ
phát triển khoa học và công nghệ tương đối mạnh cho thấy, xuất khẩu sản phẩm
công nghệ cao của những quốc gia này thường chiếm tỷ trọng rất lớn trong tổng
giá trị hàng hóa chế tạo xuất khẩu, điển hình như Singapore, tỷ lệ này chiếm tới
59%, Hàn Quốc là 32%, Thái Lan là 30%, Trung Quốc là 27%, trong khi Việt Nam
mới chỉ đạt 2%
14
. Như vậy, để cải thiện cán cân thương mại một trong những yếu
tố Việt Nam cần phải xem xét đó là phải thúc đẩy phát triển hoạt động nghiên cứu
khoa học và công nghệ .
1.2. TỔNG QUAN VỀ NGUỒN TÀI CHÍNH VÀ HUY ĐỘNG, SỬ DỤNG
NGUỒN HÌNH THÀNH QUỸ PHÁT TRIỂN KHOA HỌC VÀ CÔNG
NGHỆ CỦA DOANH NGHIỆP
1.2.1 Khái niệm chung về nguồn tài chính
Nguồn tài chính là khối lượng giá trị dưới hình thái tiền t
thời điểm khác nhau.
Ứng với mỗi một nguồn tài chính khác nhau trong doanh nghiệp, là những
mục đích sử dụng khác nhau. Mặc dù trên thực tế, có khi việc phân biệt các nguồn
tài chính hay luồng tiền không đặt thành vấn đề đối với mỗi doanh nghiệp, nhưng
trên phân b
ố nguồn và cấu trúc nguồn tài chính luôn luôn thể hiện rõ hình thái từng
loại nguồn tài chính mà doanh nghiệp có được.
Về mặt lý thuyết, khái niệm nguồn tài chính có nội hàm phân biệt với khái
niệm luồng tiền.
Luồng tiền của doanh nghiệp bao gồm hai dòng vận động chủ yếu của tiền
tệ trong doanh nghiệp đó là luồng tiền vào và luồng tiền ra. Trong khi đó, nguồn tài
chính chủ yếu đề cập tới sự
vận động của những lượng giá trị để hình thành những
quỹ tiền tệ tập trung trong doanh nghiệp. Nguồn tài chính gắn với hoạt động đầu tư
sản xuất kinh doanh. Luồng tiền phản ánh hoạt động sản xuất kinh doanh trong
từng thời điểm cụ thể.
1.2.2. Huy động và sử dụng nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công
nghệ trong doanh nghiệp
1.2.2.1. Tổng quan về huy động nguồn tài chính
Huy động nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ của doanh
nghiệp là quá trình tập trung các khối lượng tiền tệ nhằm mục đích phục vụ hoạt
động nghiên cứu khoa học và công nghệ đáp ứng yêu cầu sản xuất kinh doanh và
phát triển của doanh nghiệp. Đối v
ới doanh nghiệp, về lý thuyết có thể huy động
được nguồn tài chính cho nghiên cứu khoa học và công nghệ từ những nguồn sau
đây: