LỜI CẢM ƠN
XincảmơnTrườngĐạihọcThủyLợivàcácthầycôtrongKhoaKỹthuậtBiểnđãđàotạov
àhướngdẫntácgiảtrongsuốtquáquátrìnhhọccaohọc,
cánbộthưviệntrongtrườngđãgiúpđỡtácgiảtrongquátrìnhtìmkiếmtàiliệuthựchiệnluậnvăn.
Tácgiảluậnvănxinchânthànhcảmơngiáoviênhướngdẫn TS. Trần Thanh Tùng
đãtậntìnhchỉbảo, hướngdẫntácgiảvềchuyênmôntrongsuốtquátrìnhnghiêncứu.
Tácgiảxinchânthànhcảmơngiađình,
bạnvàđồngnghiệpđãnhiệttìnhgiúpđỡđộngviêntácgiảhoànthànhluậnvănnày! HàNội, ngày 27 tháng 05 năm 2013
Tácgiả
Đào Hoàng Tùng LỜI CAM ĐOAN
Tôixin cam đoanđềtàiluậnvăn: “Nghiêncứucơchếbồilấpcửa Sa
Huỳnhvàđềxuấtphươngánkhắcphục” làkếtquảnghiêncứucủatôi.
Nhữngkếtquảnghiêncứu, môphỏngkhôngsaochéptừbấtkỳnguồnthông tin
nàokhác. Tôixinhoàntoànchịutráchnhiệm,
vàchịubấtkỳhìnhthứckỷluậtnàocủaNhàtrườngnếu vi phạm. HàNội, ngày 27 tháng 05 năm 2013
Tácgiả
Với lượng tàu thường xuyên ra vào cảng trên 1.000 chiếc mỗi năm, tạo điều
kiện cho nghề biển tại Sa Huỳnh phát triển, nhiều tàu thuyền với công suất lớn trên
90CV đã được cập bến phục vụ cho đánh bắt khơi xa; thúc đẩy hoạt động dịch vụ
hầu cần nghề cá, giải quyết việc làm và tăng thu nhập cho lao động tại địa phương.
Trong những năm gần đây, nghề đánh bắt cá xa bờ phát triển rất mạnh, đồng
thời số lượng các tầu có công suất lớn cần ra vào cửa cũng nhiều hơn cùng với sự đa
2
dạng về cỡ thuyền, vì vậy, vai trò của cửa biển Sa Huỳnh càng trở nên quan trọng
hơn.
Theo thống kê của tỉnh Quảng Ngãi, hiện xã có 935 chiếc tàu, trong đó có
gần 600 chiếc đánh bắt xa bờ. Tổng sản lượng hải sản thu được trong năm 2012 là
gần 38.000 tấn, đạt 102,1% kế hoạch.
1.2. Các thiệt hại về kinh tế và ảnh hưởng do bồi lấp cửa gây ra đối với các
hoạt động trong vùng.
Dự án thông cửa biển và xây dựng cảng cá Sa Huỳnh được triển khai từ năm
2002 và hoàn thành năm 2005 - Một trong những cảng lớn và có tầm quan trọng về
phát triển kinh tế biển ở khu vực phía Nam tỉnh Quảng Ngãi nhằm giải quyết hiện
tượng bồi lấp tại cửa Sa Huỳnh đồng thời phát triển kinh tế - xã hội tại vùng này.
Tuy nhiên, dự án xây dựng cụm công trình chưa thể giải quyết triệt để hiện tượng
bồi lấp, khiến cho cho việc lưu thông của tầu thuyền qua eo cửa gặp khó khăn.
Tại khu neo đậu trú bão tàu cá, diện tích bồi lấp khoảng 1.000 m
2
, với khối
lượng cát bồi lấp khoảng 4.000 m
3
. Do bị bồi lấp, tim luồng được nạo vét từ dự án
trước đã bị biến đổi, dịch chuyển về phía khu dân cư làm cho cụm đá ngầm nằm ở
rìa luồng trước đây nay trở thành giữa luồng (cụm đá ngầm ước khoảng 150m
trường, vùng biển có tần suất bão cao, phù hợp với tập quán của ngư dân, đảm bảo
an toàn cho người và tầu cá, hạn chế mức thấp nhất thiệt hại do bão gây ra.
- Mục tiêu quy hoạch:
Hoàn chỉnh hệ thống khu neo đậu tránh trú bão cho tầu cá ven biển, đảo, các
cửa sông, cửa lạch có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đáp ứng nhu cầu neo đậu tránh
trú bão và dịch vụ hậu cần cho tầu cá.
Tóm lại, hiện tượng bồi lấp tại cửa Sa Huỳnh trở nên ngày càng nghiêm
trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển của xã Phổ Thạch mà còn ảnh hưởng
đến tỉnh Quảng Ngãi. Luận văn “Nghiên cứu cơ chế bồi lấp cửa biển Sa Huỳnh –
Quảng Ngãi và đề xuất giải pháp khắc phục” sẽ giúp hạn chế hiện tượng này.
- Phân loại và định hướng tiêu chí xây dựng:
Về các khu neo đậu tránh trú bão cấp vùng cần đáp ứng đủ các điều kiện
như: gần ngư trường trọng điểm, tập trung tàu cá của nhiều tỉnh; vùng biển có tần
suất bão cao; có điều kiện tự nhiên thuận lợi, đảm bảo an toàn cho tàu cá neo đậu
tránh trú bão; có khả năng neo đậu được khoảng 800 – 1000 tàu cá các loại trở lên,
các loại tàu có công suất đến 1000 CV và tàu cá nước ngoài; 4
II. Mục tiêu của luận văn
Nghiên cứu nguyên nhân và quy luật của hiện tượng bồi lấp cửa biển Sa
Huỳnh, Quảng Ngãi bằng các tư liệu lịch sử và phương pháp mô phỏng.
Nội dung của luận văn sẽ đề cập đến các điểm sau:
- Khái quát các điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và tình hình bồi lấp tại
cửa Sa Huỳnh, ảnh hưởng của vấn đề này đến phát triển của huyện Đức Phổ, tỉnh
Quảng Ngãi.
- Nghiên cứu, xác định quy luật và nghiên nhân bồi lấp cửa Sa Huỳnh.
- Mô hình hoá diễn biến cửa Sa Huỳnh do tác động của sóng và dòng chảy.
130 ha) là nơi neo đậu của hàng trăm tầu thuyền mỗi ngày.
Hình 1.1. Bản đồ vùng cửa biển Sa Huỳnh
6
II. Điều kiện tự nhiên
Phổ Thạnh là một xã ven biển với ngành kinh tế biển mũi nhọn là ngư
nghiệp. Với chiều dài đường bờ khoảng 21 km nối với đầm Nước mặn rộng khoảng
300 ha bằng cửa Sa Huỳnh.
Phía Đông và Đông Nam đầm Nước Mặn có dãy núi Thạnh Đức chắn sóng
và gió bão. Sát liền với bờ biển là một dải đất hẹp xen lẫn cồn cát kéo dài theo
hướng Bắc Nam. Phía Tây và phía Nam là dãy đồi núi dài liên tiếp bao bọc toàn bộ
địa giới phái Tây và phía Nam của xã.
2.1. Địa hình địa mạo và đặc điểm địa chất ven biển.
Đường bờ biển tỉnh Quảng Ngãi dài 130 km, thuộc địa phận các huyện Bình
Sơn, Sơn Tịnh, Tư Nghĩa, Mộ Đức. Bờ biển Quảng Ngãi bị chia cắt bởi các cửa
sông và đầm phá ven biển như cửa Sa Cầu, cửa Sa Kỳ, cửa Đại, cửa Lở, cửa Mỹ Á
và cửa Sa Huỳnh.
Khu vực biển Quảng Ngãi – Bình Định nằm ở phần trung tâm của vùng biển
miền Trung Việt Nam. Vùng biển này hoàn toàn không được che chắn do phần lục
địa ở đây nhô hẳn ra biển, hơn nữa với độ dốc đáy biển rất lơn, chỉ khoảng 50 km
độ sâu của biển đã đạt đến cỡ 100m nên gần như mọi diễn biến xấu như sóng và gió
lớn đều bị suy yếu khi tác động trực tiếp lên vùng bờ với cường độ ít bị suy giảm.
Địa hình bề mặt đồng bằng khá thoải và thấp dần từ phía Tây sang Đông,
tương ứng với độ cao từ 1-30m. Ngoại trừ các vùng biển tương đối cao ở khu vực
phía Bắc và phía Nam của Tỉnh. Phần lớn vùng bờ biển Quảng Ngãi đều thấp thuộc
bờ vùng đồng bằng hạ lưu của các con sông vừa và nhỏ (với diện tích lưu vực nhỏ
Nhiệt độ trung bình tháng lạnh nhất không xuống dưới 21 độ C, nhiệt độ thấp
nhất không dưới 12 – 13 độ C ở đồng bằng. Chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng
nóng nhất và lạnh nhất chỉ còn vào khoảng 7 – 8
độ C.
Đặc điểm nổi bật trong chế độ nhiệt của khu vực là có nền nhiệt độ khá cao
với nhiệt độ trung bình năm là 25.7 độ C. Chênh lệch nhiệt độ trung bình giữa các
năm rất nhỏ, chỉ khoảng 1 – 2 độ C, chênh lệch nhiệt độ trung bình tháng nóng nhất
và tháng lạnh nhất khoảng 7 – 8 độ C trong đó tháng nóng nhất là tháng VI, VII và
lạnh nhất là tháng XII, I. Trong đó, nhiệt độ cao nhất tới 41.6 độ C (tháng VI năm
1994 tại Hoài Nhơn) và nhiệt độ thất nhất tới 12.4 độ C (tháng I năm 1993 tại
Quảng Ngãi)
8
Bảng 1.1: Nhiệt độ không khí (độ C) tháng và năm tại trạm Quảng Ngãi và
Hoài Nhơn:
Tháng I II III IV V VI VII VIII IX X XI XII
TB
Năm
Trạm Quảng Ngãi
TB
21.6
22.5
24.3
26.6
28.4
28.9
28.8
17.1
16.4
13.8
12.4
Trạm Hoài Nhơn
TB
22.2
23.3
24.9
27.0
28.5
28.8
28.8
28.8
27.2
25.8
24.4
22.6
26.0
Max
33.0
34.5
36.8
38.3
41.6
40.2
39.1
38.6
36.1
34.9
7.2 9.5 11.6 13.8 15.2 13.1 14.4 13.3 11.9 8.7 5.9 4.7 129
Trà Bồng
7.4 9.3 11.2 13.9 15.1 13.0 14.6 13.6 12.7 8.2 6.8 4.7 131
Minh Long 7.2 10.1 12.9 14.0 15.2 13.4 14.9 12.6 12.5 9.3 7.2 4.9 134
Ba Tơ
7.3 10.2 13.1 14.1 15.6 13.5 15.0 12.8 12.6 9.7 7.4 4.9 136
9
Địa điểm
Tháng
1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 Năm
Châu Ô 8.0 10.1 12.7 15.2 17.1 16.3 16.7 14.1 13.2 10.2 6.8 5.9 146
Quảng Ngãi
7.8 9.8 12.4 15.6 17.4 16.3 16.5 14.2 13.3 10.5 7.4 6.2 147
Sa Huỳnh
8.7 10.4 13.6 16.5 17.6 16.4 16.8 14.3 13.4 11.2 7.8 6.7 153
Lý Sơn 8.8 10.6 14.1 16.5 17.4 16.4 16.9 14.0 13.5 11.0 8.2 7.4 155
Nền nhiệt độ trung bình năm cao, từ 250 – 260c, tổng nhiệt độ hàng năm
khoảng 8,500 – 9,0000c. Tháng I có nhiệt độ trung bình thấp nhất (21 độ c) và
tháng VII – VIII có nhiệt độ trung bình cao nhất (27 – 28 độ c). Số giờ nắng trung
bình năm từ 2,200 – 2,500 giờ và khu vực cửa Sa Huỳnh có số giờ nắng cao nhất
lên tới 2,700 giờ/năm.
2.2.2. Chế độ mưa
Mưa trong khu vực bắt đầu tháng IX, trùng với thời gian hoạt động của bão
và áp thấp nhiệt đới và kết thúc vào đầu tháng XII.
Biến trình mưa trong khu vực thuộc loại biến trình của vùng nhiệt đới gió
mùa: chênh lệch lượng mưa giữa mùa mưa và mùa khô rất lớn. Lượng mưa lớn nhất
trong năm vào tháng XI với lượng mưa trên 600 mm; lượng mưa nhỏ nhất trong
năm vào tháng III hoặc IV với lượng mưa nhỏ hơn 50 mm.
41
73
244
237
220
214
315
812
818
376
3492
Sơn Hà
81
33
33
69
198
207
168
169
318
658
703
287
2924
Sơn Giang
106
45
50
81
107
158
301
827
945
569
3626
Giá Vực
69
23
32
82
188
160
111
104
345
852
931
452
3349
Trà Khúc
97
32
33
36
97
96
67
125
74
261
570
427
238
1913
Đức Phổ
55
14
19
26
52
57
21
48
246
557
514
212
1821
Sa Huỳnh
53
3
3
6
73
90
25
42
223
Từ tháng IV đến tháng IX khí áp đạt giá trị thấp hơn giá trị trung bình năm
và đạt mức thấp nhất vào tháng VIII là 1003.5mb, thời gian này đồng thời là thời kỳ
hoạt động mạnh và thường xuyên của các hệ thống áp thấp của vùng nhiệt đới ảnh
11
hưởng đến vùng cửa Sa Huỳnh nói riêng và tỉnh Quảng Ngãi nói chung. Khí áp thấp
nhất xuất hiện khi có bão ảnh hưởng trực tiếp đến Quảng Ngãi đo được là 980mb
vào tháng VIII năm 1957.
Vùng ven biển tỉnh Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng mạnh của chế độ hoàn lưu
gió mùa và ảnh hưởng của địa hình sườn núi ven biển. Trong khu vực có hai mùa
gió chính:
- Mùa đông (từ tháng X năm trước đến tháng II năm sau), thời gian này trùng
với thời gian hoạt động của hệ thống gió mùa Đông Bắc. Gió mùa Đông Bắc với tốc
độ cao, thường gây ra sóng lớn có tác động mạnh đến với diễn biến xói lở - bồi tụ
vùng ven bờ.
- Mùa hè (từ cuối tháng IV đến hết tháng IX) trùng với thời gian hoạt động
của hệ thống gió mùa Tây Nam. So với thời kỳ mùa Đông thì cường độ gió mùa hè
có phần ôn hoà hơn.
Về tốc độ gió lưu vực ven biển tỉnh Quảng Ngãi: tốc độ gió < 0.1m/s chiếm
50% tổng thời gian trong năm, tốc độ gió từ 0.1 – 3.9 m/s chiếm 45%; Phần còn lại
là gió lớn gây ra do bão và gió mùa Đông Bắc từ tháng I đến tháng III. Tốc độ gió
ngoài khơi có thể lớn hơn 25% so với vùng ven biển. Tốc độ gió cực đại lên tới
40m/s trong bão (thống kê tại cơn bão Hester đổ bộ vào Quảng Ngãi năm 1971).
2.2.4. Bão và áp thấp nhiệt đới.
Bão và áp thấp nhiệt đới đổ bộ vào bờ thường gây ra gió mạnh, mưa lớn,
nước biển dâng cao, sóng lớn có thể gây ra ngập lụt và cùng một số thiên tai khác
cho vùng đồng bằng tại sườn núi và vùng ven biển.
Tại Quảng Ngãi, bão và áp thấp nhiệt đới thường đổ bộ vào bờ từ tháng VII
đến tháng XI. Diễn biến bão vào bờ khá phức tạp qua các năm, có năm bão đến sớm
Quảng ngãi
Nam Quảng Ngãi
31
18
1973
Opal
8 – X
Nam Quảng Ngãi
23
1974
Faye 7427
Hester
4 - XI
15 – XI
Quảng Ngãi
Phú Yên (Phú Khánh)
26
14
1975
Helen
4 – XI
Bình Định
13
1977
Dinah - 7712
14/IX
19
16
1981
Fabian
ATNĐ
14/X
31/X
Quảng Ngãi – Thanh Hoá
Quảng Ngãi – Đà Nẵng
16
15
1982
Hope - 8216
7/IX
Quảng Ngãi – Đà Nẵng
17
1984
Warren
1/XI
Quảng Ngãi
34
1985
ATNĐ
Cecil - 8521
15/IX
15/X
(m/s)
Pmin
(mb)
Kinh độ Vĩ độ
1988
ATNĐ
ATNĐ
Skip - 8829
10/X
15/X
12/XI
Quảng Ngãi
Quảng Ngãi – Phú Khánh
Quảng Ngãi – Đà Nẵng
24
16
28
1989
Ceil - 8904
Dan - 8926
24/V
23/VII
Quảng Ngãi – Đà Nẵng
Quảng Ngãi
26
18
1992
Angela - 9220
109,4
24
1999
Elvis - 9921
20/X
17,4
106,6
24
2001
Kajiki - 0124
10/XII
14 –16
108 -110
20
2004
Chantu - 0405
ATNĐ
12/VI
18 - 19/IX
14,2
15 –16
107
107,7 –
108,7
22
17
ngắn nhất là 2 giờ, dài nhất là 9 giờ.
Bảng 1.5: Đặc trưng mực nước nhiều năm
Trạm
(cách
biển)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nă
m
Sa Kỳ
(0,8km)
TB
-3
-13
-22
-26
-26
-30
-34
-24
4
38
22
21
-7
TB
(min)
-26 -32 -44 -41 -43 -49 -48 -43 -24 1 -62 -4 -49
TB
(max)
20 10 -6 -4 8 -11 -17 -8 33 68 92 50 68
-19
-12
9
36
34
22
1
15
Trạm
(cách
biển)
Tháng 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12
Nă
m
(3,5km)
TB
(min)
-13 -18 -26 -24 -25 -30 -28 -35 -12 7 8 3 -30
TB
(max)
-15 14 1 3 12 -3 -7 0 32 61 58 46 61
b. Nước dâng.
Nước dâng do bão: nguyên nhân do gió dồn nước mặt và do thay đổi khí áp
trong bão hoặc áp thấp nhiệt đới. Khu vực ven biển Quảng Ngãi là vùng nước sâu,
đáy có độ dốc lớn, nên nước dâng do bão quan trắc có trị số 1.6 m.
Nước dâng do gió mùa: vùng ven biển Quảng Ngãi chịu ảnh hưởng của gió
mùa Đông Bắc và gây ra nước dâng trong mùa Đông. Hiệu ứng nước dâng do gió
mùa không lớn như trong bão, nhưng diễn ra trong thời gian dài hơn.
Hình 1.2. Vị trí điểm đo sóng và trích sóng.
Bảng 1.6: Bảng thống kê sóng tại cửa Mỹ Á
Thời gian
Chiều cao sóng
Hs(m)
Chu kỳ sóng(s) Hướng sóng(độ)
22/3/2005 2:49 PM
0.6032
6.49
45
22/3/2005 3:49 PM
0.4153
5.88
45
22/3/2005 4:49 PM
0.4951
5.74
45
22/3/2005 5:49 PM
0.4449
6.15
45
22/3/2005 6:49 PM
0.4512
4.89
45
22/3/2005 7:49 PM
0.5547
4.38
45
45
23/3/2005 2:49 AM
0.4846
5.59
45
23/3/2005 3:49 AM
0.3899
6.02
45
23/3/2005 4:49 AM
0.392
5.71
45
23/3/2005 5:49 AM
0.3033
5.63
45
23/3/2005 6:49 AM
0.4768
6
45
23/3/2005 7:49 AM
0.4257
6.1
45
23/3/2005 8:49 AM
0.3857
5.82
45
23/3/2005 9:49 AM
45
Dải ven bờ chịu ảnh hưởng của hiện tượng sóng khúc xạ do ma sát đáy, nên
ở ven bờ hướng sóng thay đổi so với ngoài khơi. Hơn nữa, do thềm lục địa ven biển
Quảng Ngãi hẹp, biển có độ sâu lớn đê chắn sóngm theo đà gió dài nên sóng có điều
kiện phát triển mạnh, nhất là vào thời kỳ gió mùa Đông Bắc.
Cường độ sóng hoạt động trong mùa Đông mạnh mẽ hơn rất nhiều so với
thời gian mùa Hè. Do mùa bão xảy ra chủ yếu trong tháng X – tháng XI, nên sóng
lớn trong bão có thể quan sát thấy các hướng Bắc, Đông Bắc và Đông.
18
Bảng 1.7: Giá trị độ cao và chu kỳ sóng có nghĩa lớn nhất tại các khu vực
Địa điểm
Đặc trưng
sóng
Góc sóng
N
NE
E
SE
S
Lý Sơn (Sóng tính từ gió tại độ
sâu 26m,
1985-2004)
H1/3 6.6 5 3.6 3.6 5.7
T1/3
11.5
9.8
8.4
Phía bắc giáp huyện Mộ Đức; phía nam giáp huyện Hoài Nhơn (tỉnh Bình Định);
phía tây giáp huyện Nghĩa Hành và huyện Ba Tơ; phía đông giáp biển Đông. Hình
thể của huyện trải dài theo bờ biển phía nam tỉnh Quảng Ngãi, có trục giao thông
19
Quốc lộ 1 và đường sắt Thống Nhất chạy qua. Diện tích: 371,67km2.Dân số:
153.684 người (năm 2005). Mật độ dân số: 413 người/km2. Đơn vị hành chính trực
thuộc gồm 14 xã (Phổ Hòa, Phổ Thuận, Phổ Văn, Phổ Phong, Phổ An, Phổ Quang,
Phổ Ninh, Phổ Minh, Phổ Nhơn, Phổ Cường, Phổ Khánh, Phổ Thạnh, Phổ Châu,
Phổ Vinh), 1 thị trấn (Đức Phổ, huyện lị), với 91 thôn, tổ dân phố; trong đó:
- Xã Phổ Hòa có 4 thôn: An Thường, Hòa Thạnh, Nho Lâm, Hiển Văn;
- Xã Phổ Thuận có 7 thôn: Kim Giao, Mỹ Thuận, Thanh Bình, Thiệp Sơn,
An Định, Vùng 4, Vùng 5;
- Xã Phổ Văn có 5 thôn: Văn Trường, Đông Quan, Tập An Nam, Tập An
Bắc, Thủy Triều;
- Xã Phổ Phong có 7 thôn: Hiệp An, Gia An, Hùng Nghĩa, Vạn Lý, Trung
Liêm, Tân Phong, Vĩnh Xuân;
- Xã Phổ An có 4 thôn: An Thổ, An Thạch, Hội An 1, Hội An 2;
- Xã Phổ Quang có 4 thôn: Hải Tân, Du Quang, Bàn An, Phần Thất;
- Xã Phổ Ninh có 5 thôn: An Trường, An Ninh, Vĩnh Bình, Thanh Lâm, Lộ
Bàn;
- Xã Phổ Minh có 7 thôn: Tân Tự, Sa Bình, Tân Mỹ, Lâm An, Hải Môn, Tân
Bình, Trường Sanh;
- Xã Phổ Nhơn có 9 thôn: An Tây, An Điền, An Lợi, An Sơn, Phước Hạ,
Nhơn Phước, Bích Chiểu, Thới Thượng, Nhơn Tân;
- Xã Phổ Cường có 7 thôn: Lâm Bình, Mỹ Trang, Xuân Thành, Thanh Sơn,
Nga Mân, Bàn Thạch, Thủy Thạch;
- Xã Phổ Khánh có 7 thôn: Diên Trường, Trung Sơn, Vĩnh An, Quy Thiện,
Phước Điền, Trung Hải, Phú Long;
Từ sau năm 1975, ngư nghiệp Đức Phổ đã được phát triển hơn trước, trở thành một
ngành kinh tế mũi nhọn của huyện, đóng góp không nhỏ vào sự phát triển của
ngành thủy sản Quảng Ngãi nói chung.
Thủy sản là một ngành kinh tế mũi nhọn của Đức Phổ. Đức Phổ luôn đứng
đầu về sản lượng thủy sản so với các huyện khác, có số tàu thuyền cao nhất. Trong
tổng giá trị sản xuất thủy sản năm 2005, thì đánh bắt vẫn chiếm tỷ lệ vượt trội so
với nuôi trồng (285,455 tỷ đồng so với 85,092 tỷ đồng), mặc dù ngành nuôi trồng
thủy sản cũng khá phát triển.
21
CHƯƠNG II: CÁC HIỆN TƯỢNG VÀ QUY LUẬT DIỄN BIẾN CỬA
SA HUỲNH
I. Các đánh giá về vai trò của các yếu tố động lực và xu thế xói lở - bồi lấp dải
ven biển khu vực huyện Sa Huỳnh - Quảng Ngãi
1.1. Địa chất
Quảng Ngãi nằm trong vùng có kiến trúc địa chất rất đa dạng, lịch sử vận
động và phát triển kiến tạo phức tạp. Các cùng đồng bằng ở Quảng Ngãi hình thành
và phát triển trên các nền đá gốc, có tuổi từ Proterozoi đến Neogen. Vùng bờ hiện
đại có ba kiểu đường với đặc điểm khác nhau là bờ mài mòn (trên vách đá cứng), bờ
xói lở - bồi tụ (chiếm chủ yếu vùng đồng bằng thấp) và bồi tụ - xói lở (nằm ở các
vùng cửa sông). Các quá trình xói lở - bồi tụ phát triển mạnh và gây ra tai biến khi
chúng có tác động trực tiếp đến đời sống và sản xuất của con người.
Theo các kết quả nghiên cứu cấu trúc địa chất bằng phương pháp thăm dò địa
chất ở các lớp khác nhau, vật liệu bề mặt vùng ven biển Quảng Ngãi chủ yếu là trầm
tích Đệ tứ bở rời (các hạt nhỏ đến hạt thô và rất thô) rất dễ bị biến đổi bởi ngoại lực
tác động (như dòng chảy, sóng, gió và các hoạt động nhân tạo). Vật liệu từ các loại
trầm tích bở rời tham gia vào chủ yếu quá trình chuyển động vật chất dưới tác động
của dòng chảy, và sóng trong đó có quá trình bồi tụ - xói lở ven biển.
23
- Ven bờ các thôn Long Thạnh – Thạnh Đức
- Ven bờ đầm Nước Mặn (đoạn bờ bên trong đầm Nước mặn, mặc dù không chịu
ảnh hưởng trực tiếp của yếu tố động lực biển nhưng trầm tích xói lở bờ đầm tham
gia vào quá trình bồi lấp cửa Sa Huỳnh)
- Ven bờ cửa Sa Huỳnh
- Ven bờ từ cửa Sa Huỳnh tới núi Bầu Nú
1.2.1. Ven biển thôn Long Thạnh – Thạnh Đức
Chiều dài đường bờ biển từ thôn Long Thạnh – Thạnh Đức dài 2.5 km là
vùng bờ dạng lõm. Trên thực tế, ven bờ biển này là doi cát cao, phát triển kéo dài
nối các đảo (kiểu địa hình Tombolo). Xét về mặt hình thái, ở đây ít có khả năng xảy
ra sự di cư bùn cát dọc bờ sang đoạn bờ khác do bị khống chế bởi sườn núi dốc; mặt
khác, do điều kiện đường bờ có cấu trúc lồi lõm nên chỉ có khả năng xảy ra di
chuyển bùn cát cục bộ. Hiện tượng biến động đường bờ trong khoảng thời gian
1965 – 1998, xảy ra chủ yếu trên đoạn phía Bắc với vùng bờ xói dài 400 m, rộng
trung bình 15m (tối đa 40m).
Vào tháng 12 – 1999, xảy ra hiện tượng tượng nước dâng bất thường đê chắn
sóngm theo sóng lớn do gió mạnh đã gây ra xói lở nghiêm trọng đoạn bờ một số
vùng ở thôn Long Thạnh. Đợt nước dân và sóng lớn này đã làm đổ sập nhiều ngôi
nhà kiên cố nằm sát bên đường bờ cát cao. Sau trận xói lở tháng 12 – 1999, có 18
hộ dân thôn Long Thạnh phải di dời sang phía bờ đầm Nước Mặn.
Trong thời gian từ tháng 12 – 1999 đến tháng 12 – 2000, bờ biển Long
Thạnh tiếp tục bị xói lở với tốc độ nhẹ. Kết quả đo trắc địa tại 8 mặt cắt ngang bãi
trong tháng 8 – 2000 và tháng 11 – 2000, nhận thấy biên độ biến động thẳng đứng
xảy ra mạnh mẽ trong thời kỳ có sóng gió hướng Đông và Đông Bắc hoạt động;
biên độ xói thẳng đứng từ 0.6m đến 2.2m (tương đương tốc độ xói 0.2 m đến
0.5m/tháng). Biên độ biến động lớn nhất ghi nhận được trên mặt cắt điển hình lên
tới 2.6m (tương đương tốc độ xói lở thẳng đứng là 0.7m/tháng).