1
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
:TS. NGUYỄN ANH TUẤN 8135
HÀ NỘI, 2009
2
BÁO CÁO TỔNG KẾT KHOA HỌC
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VỀ TIÊU CHUẨN PHẾ LIỆU VÀ ĐỀ XUẤT
CÁC GIẢI PHÁP KIỂM SOÁT Ô NHIỄM TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU
PHẾ LIỆU LÀM NGUYÊN LIỆU SẢN XUẤT
Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 20…
CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI
TS. Nguyễn Anh Tuấn
Hà Nội, ngày …… tháng …… năm 20…
CƠ QUAN CHỦ TRÌ ĐỀ TÀI
TỔNG CỤC MÔI TRƯỜNG
TỔNG CỤC TRƯỞNG
HÀ NỘI, 2009
3
MỤC LỤC
CHƯƠNG I: TỔNG QUAN VỀ PHẾ LIỆU VÀ PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU 10
I. Khái niệm và định nghĩa pháp lý của phế liệu 10
II. Phế liệu và môi trường 13
2.1. Tác động tích cực của việc thu hồi, tái chế phế liệu 13
a) Tái chế sắt, thép phế liệu 14
b) Tái chế nhựa phế liệu 14
c) Tái chế giấy phế liệu 18
2.2. Tác động tiêu cực của phế
liệu 19
a) Tái chế thép phế liệu 19
b) Tái chế nhựa phế liệu 28
III. Nhu cầu nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất 32
3.1. Thị trường thép phế liệu trong nước và quốc tế 32
3.2. Thị trường nhựa phế liệu trong nước và quốc tế 33
3.3. Thị trường giấy phế liệu trong nước và quốc tế 40
CHƯƠNG II: TIÊU CHUẨN VÀ QUY ĐỊNH VỀ QUẢN LÝ PHẾ LIỆ
U 41
I. Tiêu chuẩn và quy định về quản lý phế liệu quốc tế 41
1.1. Quy định quản lý phế liệu của Trung Quốc 41
1.2. Quy định về nhập khẩu nhựa phế liệu tại Ấn Độ 43
1.3. Quy định quản lý phế liệu của Mỹ 44
1.4. Quy định quản lý phế liệu của Châu Âu 45
1.5. Quy định về An toàn sinh học đối với phế liệu nhập khẩu của Úc
và New Zealand 49
1.6. Công ướ
a) Nguyên tắc hỗ trợ tuân thủ 86
b) Yếu tố tuân thủ trong các dự thảo quy định 87
c) Phân tích các khó khăn trong việc tuân thủ quy định: 89
CHƯƠNG V: ĐỀ XUẤT CÁC BI
ỆN PHÁP DÀI HẠN ĐỂ PHÒNG NGỪA
VÀ KIỂM SOÁT Ô NHIỄM ĐỐI VỚI PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU 91
I. Đặc điểm về kinh tế và môi trường liên quan đến phế liệu 91
1.1. Lợi ích của việc sử dụng phế liệu 91
1.2. Rủi ro do sử dụng phế liệu 92
II. Đề xuất biện pháp dài hạn để kiểm soát phế liệu nhập khẩu 94
2.1. Chính sách về hài hòa các quy định quốc t
ế: 94
2.2. Chính sách về tăng cường năng lực kỹ thuật 96
2.3. Chính sách về giá trị đạo đức “xanh” 97
2.4. Chính sách về tăng cường năng lực thể chế 92
CHƯƠNG VI: KẾT LUẬN 103
PHỤ LỤC 104
Phụ lục I. Dự thảo Quy chế quản lý phế liệu nhập khẩu và Tờ trình
(đã trình Thủ tướng Chính phủ)
Phụ lục II. Dự thảo Thông tư
ban hành các Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về
(1) Thép phế liệu, (2) Nhựa phế liệu, (3) Giấy phế liệu
Phụ lục III. Hướng dẫn kỹ thuật Kiểm soát ô nhiễm đối với phế liệu nhập khẩu
Phụ lục IV. Tổng hợp ý kiến góp ý của các Bộ, ngành, địa phương, tổ chức, cá nhân
đối với nội dung Dự thảo Quy chế quản lý phế liệu nhập kh
ẩu
Phụ lục V. Tài liệu tham khảo
6
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Hình 1: Các loại nhựa phế liệu 14
Hình 2: Các loại bao bì dạng màng nhựa
15
Hình 3: Quá trình sản xuất nhựa từ nhựa phế liệu và nguyên liệu nhựa
16
Hình 4: Thu nhiệt trị từ quá trình sản xuất nhựa
17
Hình 5: Mô hình lò hồ quang (EAF) truyền thống
22
Hình 6: Sơ đồ máy đùn nhựa
30
Hình 7: Dòng nguyên liệu từ nhựa phế liệu
33
Hình 8: Nhựa phế liệu có thể tái chế 34
Hình 9: Nguyên liệu từ nhựa phế liệu (2003)
35
kiến “3R” (Thu hồi/ giảm thiểu - Tái chế - Tái sử dụng) đối với chất thải, hướng
tới việc xây dựng “xã hội tái chế” để bảo vệ môi trường, tiết kiệm tài nguyên
thiên nhiên và phát tri
ển bền vững. Việt Nam đã tham gia Hội nghị này và cam
kết đẩy mạnh triển khai các biện pháp cần thiết để thúc đẩy sự phát triển “xã hội
tái chế” tại Việt Nam, trong khu vực và trên toàn cầu.
Để ngăn chặn chuyển khẩu chất thải, đồng thời khuyến khích tái sử dụng
phế liệu làm nguyên liệu sản xuất một cách an toàn, một số nươc trong khu vực
như Hồng Kong – Trung Quố
c, Malaysia, Thái Lan đã nghiên cứu và ban hành
một số quy định về điệu kiện và tiêu chuẩn phế liệu được phép nhập khẩu làm
nguyên liệu sản xuất như: quy định về chất thải điện – điện tử của HongKong,
Tiêu chuẩn nhựa phế liệu của Malaysia, v.v…
Tại các nước phát triển, các nghiên cứu về tái sử dụng chất thải, phế liệu
cũng được đ
ã và đang thực hiện rộng rãi, trong đó bao gồm cả các nghiên cứu về
cơ chế chính sách do Chính phủ thực hiện, các nghiên cứu về tác động môi
trường do các nhóm nghiên cứu về môi trường thực hiện hoặc các nghiên cứu do
các công ty công nghiệp thực hiện.
Bên cạnh đó, do việc sử dụng nguyên liệu tái chế hay phế liệu làm nguyên
liệu sản xuất là một xu hướng chung trên thế giới, các diễn đàn, tổ chứ
c kinh tế
thế giới cũng rất quan tâm, hỗ trợ phát triển các họat động kinh doanh này. Các
tổ chức Kinh tế Thế giới (WTO) hay AFTA đều có các điều khoản về kinh
doanh phế liệu, nguyên liệu tái chế. Tuy nhiên, do chưa có sự thống nhất, đồng
bộ giữa các quy định pháp lý giữa các tổ chức kinh tế toàn cầu, kinh tế khu vực
và từng nước thành viên nên việc kiểm soát, quản lý, hỗ trợ các họat đ
ông xuất
nhập khẩu phế liệu còn nhiều bất cập. Bên cạnh đó, vẫn tồn tại việc lợi dụng sự
thiếu chặt chẽ về pháp lý và cơ chế tổ chức trong quản lý xuất nhập khẩu phế
cũng còn hạn chế. Thực tế cho thấy, việc áp dụng các quy định trong quản lý
kinh doanh phế liệu, kiểm soát xuất nhập khẩu chất thải ở Việt Nam cũng còn
khó khăn về nhiều mặt. Hiện nay, Việt Nam đang trong quá trình tiếp tục xây
dự
ng, bổ sung và hoàn thiện các quy định pháp lý và hướng dẫn kỹ thuật, đồng
thời cải cách thể chế và tăng cường năng lực để quản lý kinh doanh phế liệu
nhập khẩu và kiểm soát chất thải và chất thải nguy hại an toàn, hiệu qủa hơn.
Khảo sát ban đầu về họat động kinh doanh, nhập khẩu phế liệu cũng cho
thấy, nhận thức và hiểu biết của nhiều doanh nghi
ệp về bảo vệ môi trường trong
kinh doanh phế liệu còn rất hạn chế.
Vì vậy, việc nghiên cứu về các tiêu chuẩn phế liệu và xây dựng hướng dẫn
thuật kiểm soát ô nhiễm trong hoạt động xuất nhập khẩu một số loại phế liệu
dùng làm nguyên liệu sản xuất là hết sức cần thiết và có ý nghĩa thực tế cao. Kết
quả nghiên cứu sẽ đóng góp gi
ải quyết những vấn đề bức xúc hiện nay là quản lý
hiệu quả việc nhập khẩu phế liệu để hỗ trợ phát triển kinh tế, kiểm soát được
nhập khẩu chất thải vào Việt Nam và xử lý các vấn đề môi trường liên quan đến
họat động kinh doanh phế liệu, phế thải.
Đề tài nghiên cứu này được thực hiện nhằm góp phần giải quyết những vấn
đề nêu trên. Các mục tiêu cụ thể của Đề tài gồm:
1. Đánh giá được tổng thể các vấn đề pháp lý và kỹ thuật trong kinh doanh
và sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất trên thế giới;
2. Xây dựng được một số loại hướng dẫn kỹ thuật kiểm soát ô nhiễm trong
kinh doanh phế liệu làm nguyên liệu sản xuất tuân thủ pháp luật Việt Nam và
phù hợp với quy định, thông lệ quốc t
ế.
Để đáp ứng mục tiêu nêu trên, Đề tài đã thực hiện các hoạt động tổng hợp
thông tin trong nước và quốc tế, khảo sát thực tế, xây dựng các dự thảo quy định,
đánh giá tác động của các quy định, lấy ý kiến rộng rãi của các cơ quan, tổ chức,
10
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN VỀ PHẾ LIỆU VÀ PHẾ LIỆU NHẬP KHẨU I. Khái niệm và định nghĩa pháp lý của phế liệu
Tại Việt Nam, về pháp lý, khái niệm phế liệu được định nghĩa trước hết
tại khoản 1 Điều 3 Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/4/2004 của Bộ
trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy định về bảo vệ môi
trườ
ng đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất, trong đó nêu rõ
"Phế liệu là sản phẩm, vật liệu được loại ra từ quá trình sản xuất hoặc tiêu dùng
và tiêu dùng. Điều này có nghĩa là một vật ch
ất tồn tại dưới dạng phế liệu hay
không phụ thuộc vào hành vi của chủ sở hữu (hoặc người đại diện hợp pháp) sản
phẩm hoặc vật liệu đó. Hành vi từ bỏ của chủ sở hữu có thể được thể hiện bằng
hành động hoặc không hành động. 11
Thứ ba: Được thu hồi dùng làm nguyên liệu
Sản phẩm hoặc vật liệu có trở thành phế liệu hay không phụ thuộc vào
việc đánh giá trên thực tế đối với hành vi "từ bỏ ý định khai thác giá trị, công
dụng" của chủ sở hữu và phải được xem xét một cách cụ thể đối với từng trường
hợp, như thu hồi để bán dưới hình thức hàng hóa, để sử dụng làm nguyên liệ
u
hoặc để xử lý.
Cùng với các định nghĩa pháp lý về phế liệu và chất thải, chúng ta cũng có
các định nghĩa, khái niệm khác có liên quan đến phế liệu được hiểu như sau:
Tạp chất: Là các chất, vật liệu không cùng loại với phế liệu nhập khẩu, bị
lẫn trong phế liệu.
Tạp chất nguy hại: Là các tạp chất có tên trong Danh mục chất thải nguy
hại do Bộ
Tài nguyên và Môi trường ban hành, bị lẫn trong phế liệu.
Giấy xác nhận đủ điều kiện nhập khẩu phế liệu: Là Giấy xác nhận do Sở
Tài nguyên và Môi trường địa phương cấp cho thương nhân nhập khẩu phế liệu
theo quy định (theo Thông tư liên tịch 02/2007/TTLT-BCT-BTNMT).
Lô hàng kiểm tra: Là lượng phế liệu được thương nhân nhập khẩu phế
liệu đăng ký kiểm tra.
Cơ quan kiểm tra: Là tên g
ọi chung cho các các cơ quan thực hiện việc
kiểm tra về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu, bao gồm: Cơ
thành chất thải khi đáp ứng đầy đủ các tiêu chí sau:
Thứ nhất,
chất thải là vật chất, có thể tồn tại dưới những dạng như rắn,
lỏng, khí hoặc các dạng khác. Những yếu tố phi vật chất không thể là chất thải.
Điều này cũng hoàn toàn phù hợp với những yếu tố cấu thành môi trường theo
pháp luật môi trường.
Thứ hai, vật chất bị chủ sở hữu thải ra trong các hoạt động của mình, cả
trườ
ng hợp chủ động và bị động, sẽ trở thành chất thải.
Thứ ba, vật chất sẽ tồn tại dưới dạng chất thải kể từ khi chủ sở hữu hoặc
người sử dụng hợp pháp thải ra cho tới khi con người đưa nó vào sử dụng trong
một chu trình sản xuất hoặc chu trình sử dụng khác.
Cách tiếp cận của Luật Bảo vệ môi trườ
ng 2005, nếu đưa ra được những
tiêu chí rõ ràng cho việc phân biệt chất thải với phế liệu, sẽ tạo điều kiện thuận
lợi cho quá trình xây dựng và áp dụng các quy định trong hoạt động quản lý chất
thải, phế liệu, trong đó có hoạt động nhập khẩu phế liệu. Từ những phân tích ở
trên, khái niệm chất thải và khái niệm phế liệu được đề cập tại Lu
ật Bảo vệ môi
trường 2005 có những sự khác biệt sau đây:
Thứ nhất, các yếu tố có thể trở thành chất thải bao gồm các loại vật chất
trong đó có sản phẩm và vật liệu, là yếu tố có thể trở thành phế liệu.
Thứ hai, với trường hợp trở thành phế liệu, việc từ bỏ giá trị, công dụng
của chủ sở hữu v
ật chất mang tính chủ động. Trong trường hợp chất thải, việc từ
bỏ giá trị công dụng của chủ sở hữu vật chất bao gồm cả trường hợp chủ động
và bị động.
Thứ ba, khái niệm chất thải không đề cập tới mục đích sau quá trình thải
ra và pháp luật coi thu hồi là một trong những nghĩa vụ của người sản sinh chất
thả
khỏe cộng đồng.
Ở nước ta, Luật Bảo vệ môi trường cấm nhập khẩu rác thải, nhưng
phế liệu chủ yếu lại được lựa chọn từ chất thải, nên việc cho phép nhập khẩu các
loạ
i phế liệu nào để tận dụng làm nguyên liệu sản xuất thì cần phải cân nhắc để
phù hợp với yêu cầu của bảo vệ môi trường và quy định các loại tiêu chuẩn phế
liệu nhập khẩu, phải chặt chẽ hơn yêu cầu đối với các loại phế liệu lựa chọn từ
các loại chất thải ở trong nước. Thực tế, Việt Nam đã cho phép các doanh
nghi
ệp nhập khẩu phế liệu với quy định về điều kiện khá cụ thể, chặt chẽ. Tuy
vậy, do khác biệt về cách hiểu của mỗi nước và sự khó phân định về khái niệm
phế liệu, chất thải trong cuộc sống, trong cộng đồng, đã dẫn đến những bất cập
trong việc quản lý và sử dụng phế liệu, phục vụ sản xu
ất trong thời gian qua. Tới
nay, việc xây dựng hành lang pháp lý đầy đủ, rõ ràng để tạo điều kiện thuận lợi
cho sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế và đồng thời bảo vệ được môi
trường vẫn là bài toán khó, chưa có được giải pháp hiệu quả cuối cùng.
II. Phế liệu và môi trường
2.1. Tác động tích cực của việc thu hồi, tái chế phế liệu
Phế liệu hay nguồn nguyên liệu từ tái chế
có thể coi là vô tận, vì có sản
xuất là có phế thải và có cơ hội cho tái chế. Mặc khác, tái chế còn là một giải
pháp hữu hiệu làm giảm chi phí sản xuất, giảm chi phí xử lý chất thải và do đó
hạ giá thành sản phẩm. Bên cạnh những lợi ích kinh tế, tái chế góp phần làm
giảm các thiệt hại môi trường do chất thải gây ra, đồng thời nâng cao uy tín và
giúp cho việc gắn mác sinh thái trên các sản phẩm của nhà sản xuất. Xét về
tổng
thể, thực hiện tốt biện pháp tái chế đem lại môi trường trong sạch hơn, cải thiện
sức khỏe cộng đồng và là một trong những giải pháp quan trọng đảm bảo sự
phát triển bền vững của xã hội. Ở các nước công nghiệp phát triển, hệ thống tái
- Giảm tiêu thụ nước trong khai mỏ: 97%
- Giảm phế thải phát sinh so với sử dụ
ng quặng do lượng Fe có trong
thép phế cao hơn nhiều so với quặng.
Và tất nhiên là việc tái sử dụng thép phế là tiết kiệm tài nguyên sắt thép từ
tự nhiên. Riêng ở Mỹ, lợi ích kinh tế thuần túy hàng năm từ sắt thép phế liệu là
khoảng 2 tỷ USD mỗi năm. Thị trường sắt, thép phế liệu quốc tế là một thị
trường lớn, ước tính lên đến hàng chục tỷ USD mỗi nă
m và chúng ta cũng cần
lưu ý là đây là một thị trường toàn cầu, hòa nhập rất sâu trong xu thế toàn cầu
hóa hiện nay.
b) Tái chế nhựa phế liệu
Về nhựa, chúng ta đều nhận thấy rằng sản phẩm nhựa là một trong những
mặt hàng thiết yếu của nền kinh tế. Cùng với sự tiến bộ của khoa học và công
nghệ, ngày càng có nhiều loại vật liệu và sản phẩm với xuất xứ từ Nhựa được
hình thành và phát triển có thể thay thế một phần vật liệu truyền th
ống như sắt,
thép, gỗ, sợi bông v.v… Sản phẩm nhựa có mặt xung quanh ta từ những đồ gia
dụng đơn giản đến những chi tiết được chế tạo với những tính năng đặc biệt
dùng trong hàng không, vũ trụ.
Nhựa phế liệu thường được phân loại, thu gom, làm sạch sau đó được đưa
vào một quy trình tái sinh. Các nguyên liệu sợi công nghiệp làm từ nhựa tái chế
được dùng để chế t
ạo ra nhiều loại sản phẩm khác nhau: quần áo, giày, khăn tắm,
chăn, … Các vật liệu composite vốn được xem là loại vật liệu khó tái chế. Tuy
15
nhiên một số công nghệ mới phát triển đã sử dụng composit cùng với thủy tinh
trong sản xuất gạch lát vỉa hè.
16
• Nylon: Polyamid (có thể bao gồm nhiều loại Nylon thương
phẩm như Nylon 66, Nylon 12, Nylon 6…)
Nhựa phế liệu, ngoài về bản chất hóa học, còn được phân chia theo màu
sắc, công dụng của sản phẩm gốc và nguồn gốc phế liệu. Theo các quy định
quốc tế thì việc phân loại này phải gắn với những mã tương ứng.
Nhựa phế liệu thường thấy nhất trong là phế liệu chai nhựa và bao bì dưới
d
ạng màng nhựa. Vật liệu làm chai nhựa trên thị trường rất đa dạng, nhưng chủ
yếu là bao bì dạng PET và HDPE. Bao bì dạng màng nhựa là loại phổ biến nhất
trong các sản phẩm nhựa dạng màng:
Hình 2: Các loại bao bì dạng màng nhựa
Phổ biến nhất trong các chai nhựa là dạng HDPE và PP 17
Bảng 1: Các dạng bao bì màng nhựa phổ biến nhất Loại nhựa bao bì Công dụng Chất bẩn có thể có trong phế liệu
LPDE Các loại bao bì và
film
Nhãn; thực phẩm dư, bụi đất cát, hơi ẩm,
Từ các kinh nghiệm sử dụng phế thải nhựa để thu hồi nhiệt có thể thấy
như sau:
- Nhựa thải là nhiên liệu có nhiệt trị cao;
- Nếu nhựa đem đốt chứa nhiều tạp chất, có thể dẫn đến nguy hiểm cho
chính lò đốt và cho môi trường;
- Khoảng 20-30% vật chất đem đốt vẫn nằm trong tro xỉ, cần được quản
lý nghiêm ngặt.
Việc tái chế từ nhựa phế liệu thay thế nhựa gốc để sản xuất các sản phẩm
nhựa phục vụ cho những mục đích khác nhau cua công nghiệp và dân sinh lại
phụ thuộc rất nhiều yếu tố:
- Nhu cầu và giá cả của thị trường:
+ dầu mỏ, nhựa gốc
+ nhu cầu xã hội
- Mầu sắc/ độ trong của nhựa phế li
ệu;
- Mức độ nhiễm bẩn của nhựa phế liệu;
- Mức độ phân loại;
- Khối lượng/tỷ trọng.
c) Tái chế giấy phế liệu
Những nghiên cứu về việc tái chế giấy cho thấy, khi tái chế một tấn giấy
sẽ tiết kiệm được 2.200 kWh năng lượng điện. Số năng lượng này đủ dùng cho 1
hộ
gia đình có 4 người trong một năm. Đồng thời tái chế một tấn giấy cũng sẽ
giúp giảm khai thác 17 cây xanh, 26,5 m
3
nước và 3,3 m
ích kinh tế đo đếm được. Chẳng hạn, tái chế giúp khôi phục và duy trì một môi
trường trong sạch và lành mạnh, nhờ vậy giảm các chi phí chữa bệnh và chi phí
do nghỉ ốm. Môi trường trong lành cũng giúp phát triển ngành du lịch, kéo theo
là các hoạt động kinh tế khác như nhà hàng, khách sạn, thương mại, cơ sở hạ
tầng, v.v Về lâu dài, việc duy trì sự phát triển bền vững quan trọng hơn nhiều
so với tăng tr
ưởng nóng trong một thời gian ngắn với chất lượng phát triển thấp,
gây áp lực lớn lên hệ thống cơ sở hạ tầng và gây ra những vấn đề môi trường
trầm trọng. Một xã hội phát triển bền vững là xã hội không những đảm bảo được
các nhu cầu hiện tại của mình mà còn có khả năng đảm bảo nhu cầu cho các thế
hệ tương lai. Điều này chỉ có thể
thực hiện được khi các nguồn tài nguyên được
sử dụng một cách hiệu quả và quan trọng hơn là chúng có thể được tái sinh.
Trong sản xuất bền vững lý tưởng, các nguyên, vật liệu được sử dụng trong
những vòng khép kín với số chu kỳ vô hạn. Điều hiển nhiên là chúng ta chỉ có
thể tiệm cận chứ không bao giờ đạt tới khái niệm sản xuất bền vững lý tưởng
này. Nhưng "tiệ
m cận" đã là rất tốt so với tình hình hiện nay, và là mục tiêu mà
các biện pháp quản lý hướng tới.
2.2. Tác động tiêu cực của phế liệu
Việc thu gom, tái chế, tái sử dụng phế liệu và chất thải có thể mang lại
những lợi ích to lớn cho phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường, nhưng cũng có
thể góp phần hủy hoại môi trường. Điều này là do bản chất của phế liệ
u và quá
trình thu gom, tái chế, tái sử dụng phế liệu tiềm ẩn nhiều rủi ro. Dưới đây chúng
tôi sẽ phân tích một số nguy cơ và nguyên nhân của những tác động tiêu cực đối
với môi trường và sức khỏe do thu hồi và sử dụng phế liệu.
a) Tái chế thép phế liệu
20
Mức độ cần quan tâm, kiểm soát các dạng chất ô nhiễm lẫn trong sắt thép
phế liệu thay đổi tùy thuộc vào thời kỳ của phế liệu được thu gom:
- Phế liệu từ thời kỳ đầu thế kỷ 20, người ta quan tâm nhiều đến bụi kim
loại PAH;
- Phế liệu từ thời kỳ khoảng từ giữa thế ký 20 đến cuối thế k
ỷ 20, chất
được quan tâm là chì, thủy ngân các chất phi kim loại có hại cho môi
trường và con người;
- Gần đây người ta quan tâm nhiều đến dầu, mỡ và các chất hữu cơ, chì
và cadimi.
Thủy ngân (Hg) cũng là một vấn đề được quan tâm đặc biệt do tính độc
và khả năng tích tự sinh học của nó. Trong điều kiện nhất định thủy ngân có thể
chuyển thành methyl thủy ngân, chất này có thể đi vào chu trình dinh dưỡng và
gây độ
c cho hệ thần kinh, thận, gan Công nghiệp ôtô là một trong những
nguồn chính gây ô nhiễm thủy ngân vì người ta sử dụng thủy ngân để làm các
bộ chuyển đổi, trong cơ cấu phanh ABS, trong hệ thống chiếu sáng. Từ năm
1974 đến 2003, 217 triệu bộ công tắc chuyển mạch (switch) có chứa đến 224 tấn
Hg đã được lắp vào xe trên phạm vi toàn cầu, Tính riêng cho năm 2003 có
khoảng 8.2 tấn Hg lẫn trong xe ô tô thải, trong khoảng 3 năm có khoảng 24 tấn
Hg th
ải vào môi trường, và khoảng 117 tấn trong vòng 30 năm.
Trên thế giới người ta kiểm soát rất chặt chẽ các phế liệu có lẫn chất
phóng xạ. Theo thống kê ở Mỹ từ năm 1983 đến 2002, ít nhất có 26 vụ tai nạn
trong sản xuất luyện kim liên quan đến chất phóng xạ, mỗi một vụ phải chi tới
hàng chục triệu USD để khắc phục hậu quả. Ở Mỹ và nhiều nơi trế
n thế giới,
người ta coi việc phá dỡ các con tầu cũ dùng trong chiến tranh (đặc biệt là từ
Thế chiến thứ 2) là “mối hiểm họa nổi đối với môi trường” do có thể phát thải
PCBs và amiăng vào lưu vực sông.
ế được chất trong các dỏ liệu lớn, nạp qua đỉnh
và đổ vào lò. Điện cực di chuyển xuống thấp, khi chạm vào thép phế sinh ngắn
mạch, tạo hồ quang sinh nhiệt để nóng chảy thép phế. Trong suốt quá trình nấu
chảy, nhiệt độ tại vùng hồ quang đạt tới 3000°C, và thép trong bể lò đạt tới
1700°C. Nhiệt độ cao cũng cho phép hòa tan chất khó nóng chảy trong thép phế.
Để cường hóa quá trình nấu chảy người ta có thể
sử dụng quá trình phun thổi
Oxy hoặc hỗn hợp khí nhiên liệu. Khi thép đạt yêu cầu về thành phần hóa học và
nhiệt độ, lò sẽ được tháo thép lỏng vào lò tinh luyện. Khí thải từ lò sẽ thoát ra
theo chụp hút đến hệ thống lọc bụi túi vải để làm sạch và thải ra ngoài môi
trường.
Hình 5: Mô hình lò hồ quang (EAF) truyền thống:
24
Công nghệ mới trong lò hồ quang là công nghệ liên tục, trong đó nguyên
liệu sẽ được sấy nóng trước bằng nhiệt của lò hồ quang.
Ô nhiễm không khí đối với các cơ sở luyện kim là mối quan tâm lớn về
môi trường, tùy thuộc vào nguyên liệu và các giải pháp kiểm soát khí thải những
vấn đề ô nhiễm không khí có thể khác nhau như được thấy ở bảng dưới đây:
Bảng3: Các nguồn và chất gây ô nhiễm có thể phát sinh t
ừ lo hồ quang Từ bảng này có thể thấy khi nguyên liệu sử dụng là phế liệu thì vấn đề ô
nhiễm là ô nhiễm kim loại (Cd, Pb, Zn và có thể Al, Bi, B, Cr, Co, Cu, Ni, Ti) và
các chất PAHs (do sự cháy không triệt để của các chất hữu cơ như dầu, plastic)
là chắc chắn. Ngoài ra có thể phát thải dioxin và furan nếu có các chất có gốc clo
ng nếu không được giữ lại từ thiết bị lọc bụi. Bụi chứa
dioxin/furan có thể khuyếch tán vào không khí, dẫn đến ô nhiễm dioxin/furan
cho môi trường lao động, cho môi trường không khí xung quanh, cho môi
trường nước và đất khi sa lắng.
Sự tồn tại dioxin/furan phát thải vào môi trường không khí thay đổi tùy
thuộc vào công nghệ và nguyên liệu đầu vào của lò hồ quang. UNEP đã thống
kê và đưa ra hệ số phát thải dioxin/furan như sau:
- 3 µg TEQ/tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép ph
ế đã
được làm sạch và gang, công nghệ lọc túi có làm nguội khí trước lọc;
- 10 µg TEQ/ tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép phế
không được làm sạch (bẩn) có chứa dầu cắt gọt (cutting oils) và/hoặc
nhựa (plastic), dùng công nghệ sấy nguyên liệu (pre-heating), không
có thiết bị kiểm soát ô nhiễm không khí;
- 0.1 µg TEQ/tấn thép lỏng khi dùng lò hồ quang EAF với thép phế sạch
không có chứa dầu cắt gọt và các tạp bẩn khác, khí thải được xử lý đốt
th
ứ cấp, làm lạnh nhanh và lọc bụi.
Theo một nghiên cứu của các nhà khoa học Đức tại Malaysia, kết quả
phân tích lượng loại nặng, dioxin/furan từ khí thải tại các lò hồ quang nằm trong
khoảng giá trị sau đây [2, 30]:
- Trong bụi và khí thải từ EAF chứa nhiều: kim loại bay hơi (Hg, Zn, Pb,
Cu), Cl và PCDD/F;
- Hàm lượng PCDD/F trong bụi từ ống khói lò EAF dao động trong
khoảng 3.5 đến 6.7 ng TEQ/g ;
- Hàm lượng PCDD/F trong bụi từ ống khói lò EAF dao động trong
kho
ảng 0.9 to 2.5 ng TEQ/Nm3 ;