Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp - Pdf 13


Bộ công THNG
V KHOA HC V CôNG NGH
******************
Báo cáo tổng kết
đề tài Nghiên cứu khoa học công nghệ
R-D cấp bộ Tên đề tài:
NGHIấN CU CC CN C KHOA HC V THC
TIN XY DNG QUY NH V NHP KHU
PH LIU THẫP, NHA, GIY CHO SN XUT
CễNG NGHIP

Cơ quan chủ quản: Bộ Công Thng
Cơ quan chủ trì đề tài: V Khoa hc v Công ngh
Chủ nhiệm đề tài: ThS Phan Công Hp


và nhu cầu phế liệu
15
3. Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất giấy và
nhu cầu phế liệu
20
4. Một số kết luận 24 PHẦN II. NGHIÊN CỨU CÁC QUY ĐỊNH HIỆN HÀNH VỀ KINH DOANH
NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU

25
I.
Đánh giá thực trạng các quy định hiện hành về quản lý phế liệu nhập
khẩu
25
II.
Nghiên cứu, tìm hiểu kinh nghiệm của một số nước trong vấn đề quản
lý nhập khẩu phế liệu
32
III.
Một số kết luận từ Phần II

34

PHẦN III: ĐỀ XUẤT CÁC NỘI DUNG QUY ĐỊNH VIỆC KINH DOANH
NHẬP KHẨU PHẾ LIỆU NHẰM ĐẢM BẢO MỤC TIÊU QUẢN LÝ CỦA NHÀ
NƯỚC VÀ THÁO GỠ KHÓ KHĂN VỀ NGUYÊN LIỆU PHỤC VỤ SẢN XUẤT
CHO CÁC NGÀNH SẢN XUẤT THÉP, NHỰA, GIẤY


vấn đề bảo vệ
môi trường cùng với mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, tiết
kiệm và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên đã thúc đẩy mạnh mẽ hoạt
động tái chế, tái sử dụng phế liệu làm nguyên liệu sản xuất không chỉ ở
Việt Nam nói riêng mà là xu hướng chung tại nhiều nước trên thế giới. Bởi
vậy, nhu cầu nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất của Việt Nam
những năm qua ngày càng gia t
ăng. Theo các số liệu thống kế, nhập khẩu
sắt phế liệu năm 2007 là 1 triệu tấn, năm 2008 là 1,4 triệu tấn; nhựa phế
liệu, giấy phế liệu là hàng trăm nghìn tấn. Đây là nguồn nguyên liệu quan
trọng cho phát triển sản xuất tại Việt Nam, hỗ trợ tăng cường năng lực cạnh
tranh cho sản phẩm nội địa trên trường quốc tế.
Tuy nhiên, việc gia t
ăng nhập khẩu phế liệu cả về số lượng và chủng
loại không chỉ mang đến mặt tích cực là tăng nguồn nguyên liệu cho sản
xuất công nghiệp mà bên cạnh đó đã xuất hiện không ít trường hợp các loại
phế liệu có hàm lượng chất thải độc hại lớn, thậm chí có cả những trường
hợp chất thải từ nhiều nước khác nhau đã đượ
c nhập khẩu vào Việt Nam
gây ô nhiễm môi trường. Vì vậy, vấn đề nhập khẩu phế liệu dùng làm
nguyên liệu cho sản xuất cần phải được quản lý chặt chẽ thông qua các quy
định cụ thể, bảo đảm phế liệu khi nhập khẩu vào Việt Nam phải đáp ứng
các yêu cầu về bảo vệ môi trường, ưu tiên việc sử dụng, tái chế phế liệu,
chất thải phát sinh trong n
ước.
Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, Luật Thương mại năm 2005, Nghị
định số 80/2006/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2006 của Chính phủ về việc
quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Bảo vệ môi
trường, Nghị định số 12/2006/NĐ-CP ngày 23 tháng 01 năm 2006 của
Chính phủ về việc Quy định chi tiết thi hành Luật Thương mại về hoạt

liệu;
3. Đề xuất các nội dung quy định việc kinh doanh nhập khẩu phế liệu
nhằm đảm bảo mục tiêu quản lý của Nhà nước và tháo gỡ khó khăn về
nguyên liệu phục vụ sản xuất cho các ngành sản xuất thép, nhựa, giấy.
Th
ực tế việc nhập khẩu các loại phế liệu thép, giấy, nhựa trong thời
gian qua, chủ yếu phế liệu thép được nhập với khối lượng lớn và đóng vai
trò quan trọng trong việc góp phần đảm bảo nguồn nguyên liệu cho sản
xuất. Các loại phế liệu nhựa và giấy thực tế được nhập khẩu trong thời gian
qua với khối lượng không lớn và các vướng mắc liên quan đế
n nhập khẩu
các loại phế liệu này cũng không nhiều, do đó đối tượng khảo sát của đề tài
tập trung vào hiện trạng và các vấn đề liên quan đến nhập khẩu phế liệu
thép làm đại diện là chủ yếu.
Nhóm thực hiện nội dung nghiên cứu của đề tài đã nhận được sự
giúp đỡ tận tình của các Vụ trong Bộ như Vụ Pháp chế, Xuất Nhập khẩ
u,
Công nghiệp nặng và các Bộ, ngành liên quan. Đặc biệt, Cục Kiểm soát ô
nhiễm thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường, Tổng cục Hải quan thuộc Bộ
Tài chính, các Hiệp hội, doanh nghiệp và nhiều nhà khoa học đã tham gia
và đóng góp nhiều ý kiến quý báu để nhóm tác giả hoàn thành nội dung
nghiên cứu của đề tài.
Những người thực hiện đề tài xin trân trọng cảm ơn sự giúp đỡ quý
báu đó và mong muốn tiếp tục nhận đượ
c các ý kiến góp ý để hoàn thiện
nội dung nghiên cứu của đề tài ./.
Nhóm tác giả

Sắt xốp
Thép phế
577
44
362
379
40
375
608
45
392
655
49
387
693
43
361
Cộng 983 994 1.045 1.091 1.097
Nguồn: IISI 4/2004

Bảng 1.2: Sản lượng thép thô, thép của các nước ASEAN và Trung
Quốc
Đơn vị tính: 1 000 tấn
1999 2000 2001 2002 2003

Thô Cán Thô Cán Thô Cán Thô Cán Thô Cán
Thế giới - 948.000 850.000 903.000 969.000
China
(thép thô)
124.000 127.200 148.900 181.600 220.100

306
3.737
3.707
1.405
833
4.451
1.589
2.780
4.100
-
456
2.127
318
4.076
4.103
-
794
4.652
1.900
2.461
4.721
550
545
2.538
408
3.799
4.714
1.216
719
6.746

khá.
b) Luyện thép:
Sản xuất thép theo ba công nghệ chính: Lò chuyển (63% tổng sản
lượng), lò điện hồ quang (33% tổng sản lượng) và lò bằng (3% tổng sản
lượng). Hàng loạt tiến bộ mới được áp dụng như: điều khiển tự động hóa,
tiết kiệm năng lượ
ng . . . đã tạo ra rất nhiều loại sản phẩm mới có giá trị cao
hơn nhiều lần so với thép thông thường. Trung bình các cường quốc về
thép sản xuất khoảng 20% sản lượng là thép đặc biệt.
- Lò chuyển với ưu điểm thời gian luyện thép nhanh, năng suất cao, chất
lượng thép tốt mà sản lượng thép chiếm trên 60% tổng sản lượng thép trên
thế giới. Những nghiên cứu đổi mớ
i công nghệ tập trung vào: Thổi đáy để
khuẩy trộn thép và xỉ bằng khí trơ, kết hợp tinh luyện ngoài lò, kéo dài tuổi
thọ lò, tự động hóa, xử lý khí thải, tối ưu hóa các quá trình công nghệ. Hiện
nay trên thế giới có khoảng 600 lò, trung bình mỗi lò sản xuất được một
triệu tấn thép hang năm.
- Lò điện hồ quang hiện đại có thể sản xuất được nhiều loại thép chất
lượng nhau v
ới thời gian luyện ngắn, năng suất cao. Gần đây, lò điện siêu
công suất (UItra High Power – UHP), được cường hóa bằng ôxy ra đời thì
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

5
lò EAF 140 tấn/mẻ sản xuất thép hợp kim thấp và trung bình chỉ mất 1,5
h/mẻ và đạt công suất 100 tấn/h. Ngày nay lò điện hồ quang kết hợp với

- Công nghệ cán tấm nguội: Trước đây, loại máy cán này chỉ dung để
cán thép không gỉ và thép silic dung trong kỹ thuật điện, cán lá nhôm làm
gói bao phẩm . . Hiện nay do giá thành thiết bị đã hạ hơn nên người ta đã
sử dụ
ng để cán thép cacbon thong thường. Loại máy này cho ra được các
sản phẩm có chiều dày cực mỏng (đến 0,0015 mm), chất lượng rất cao.
- Trong những năm gần đây, ngành công nghiệp thép thế giới đã phát
triển với một tốc độ rất cao. Do ý thức được rằng thép vẫn là nguyên liệu
chính của nhiều ngành công nghiệp nên các nước có ngành công nghiệp
phát triển đã đầu tư nhiều vào KHCN. Đặc biệt là trong bối cảnh tài nguyên
của th
ế giới ngày càng cạn kiệt và nhu cầu về bảo vệ môi trường và duy trì
phát triển bền vững được nhân loại quan tâm hơn bao giờ hết. Kinh phí cho
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

6
R&D của các doanh nghiệp đạt từ 0,5 – 3,5 % doanh thu (ví dụ: Nhật chi 2
tỷ USD/năm – số liệu năm 1986, nguồn ESCAP). Nhật Bản hiện là nước có
trình độ công nghệ trong ngành luyện kim cao nhất thế giới. Mặc dù Nhật
Bản là nước phải nhập khẩu toàn bộ nguyên, nhiên liệu cho ngành công
nghiệp thép nhưng các sản phẩm thép của Nhật Bản có tính cạnh tranh cao
trên thị trường thế giới.

1.1.3. Ngành thép Việt Nam

a) Thị trường sản phẩm thép

Bảng 2.1: Tiêu thụ thép 1996 – 2004 của Việt Nam
Đơn vị tính 1000 tấn
1999 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2010 2015
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

7
(Dự tính)
SP
SP
923
1.001
1.729
1.288
2.081
1.768
2.392
2.075
2.437
2.341
2.365
2.727
3.530
3.015
4.688
4.166
6.217

nước chỉ đạt khoảng 1 triệu tấn; Số còn lại phải nhập khẩu, nhưng việc
nghiên cứu thị trường và đảm bảo khả năng cung cấp thép phế liệ
u chưa
được quan tâm đúng mức, chưa kể đến rào cản về môi trường đối với việc
nhập khẩu, hạn chế về cơ sở hạ tầng, cảng biển . . . ). Trong số các lò luyện
thép mới được đầu tư, lò điện 70 tấn của công ty thép miền Nam ở Phú Mỹ
là được đầu tư dây chuyền đồng bộ luyện – đúc liên tục – cán hiện đại. Các
c
ơ sở còn lại đều sử dụng các thiết bị nhập khẩu của Trung Quốc, có trình
độ ở mức trung bình.
Trong năm 2005, dự án sản xuất thép không gỉ lớn nhất từ trước tới
nay tại Việt Nam với tổng vốn đầu tư 700 triệu USD, công suất thiết kế
720.000 nghìn tấn sản phẩm/năm đã được cấp phép; Nhà máy do doanh
nghiệp Đài Loan đầu tư tại Bà Rị
a Vũng tàu. Ngoài ra, năm 2006, Tập đoàn
thép Tycoons (Đài Loan) dự kiến đầu tư nhà máy thép liên hợp 5 triệu tấn
phôi thép/năm với mức đầu tư 1 tỷ USD.
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

8
- Về sản phẩm cán dài:
Đến cuối năm 2005, tổng công suất các máy cán dài đạt khoảng 6
triệu tấn với 23 công ty lớn và vừa (có công suất từ 100.000 tấn -400.000
tấn), cộng với hàng trăm cơ sở sản xuất nhỏ; trong đó, công suất của Tổng
công ty thép Việt Nam (VSC) là 1,6 triệu tấn, chiếm 27 % năng lực cả
nước. Trong năm 2005, VSC cũng đưa vào hoạt động 2 dây chuyền cán sản

nước ta có thể chia ra 3 loại.
- Loại công nghệ hiện đại:
Đây là những nhà máy mới được đầu tư xây dựng từ năm 2001 trở
lại đây với công nghệ, máy móc thiết bị khá hiện đại, công suất tương đối
lớn. Dây chuyền thiết bị có mức độ tự động khá cao. Tập trung ở nhóm này
có nhà máy luyện cán thép của Công ty thép miền Nam đặt t
ại Phú Mỹ,
Dây chuyền cán sản phẩm dài 30 vạn tấn/năm của Công ty Gang thép Thái
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

9
Nguyên, nhà máy cán nguội Phú Mỹ . . . số liệu điều tra năm 2004 cho thấy
các nhà máy cán hiện đại chiếm 38,7 % tổng công suất thiết kế (1,72 triệu
tấn/4,44 triệu tấn/năm).
- Công nghệ ở mức trung bình:
Cụ thể là những nhà máy của VSC, một số liên doanh và công ty tư
nhân. Trang thiết bị của các nhà máy này chưa được tự động hóa ở mức
cao. Các vấn đề về nhân sự, thông tin, tổ chức đều còn r
ất nhiều bất cập. Số
liệu điều tra năm 2004 cho thấy các nhà máy cán này chiếm 48,9 % tổng số
công suất thiết kế (2,17 triệu tấn/4,44 triệu tấn/năm).
- Công nghệ lạc hậu:
Tập trung tại những nhà máy loại nhỏ với trang thiết bị rất lạc hậu,
chất lượng sản phẩm rất kém, hầu hết là không đạt tiêu chuẩn. Cụ thể là các
cơ sở
của các nhà máy cơ khí, cơ sở tư nhân. Một đặc điểm dễ nhận thấy ở

10
Tỷ lệ đúc lien tục % 50 - 98 (Nhật)
Cán thép
Công suất máy cán 1000T 30-150 trung
bình 80
120.300 trung
bình 200
500-1000
Lò nung phôi: T/h

Quá nhỏ max
35 t/h
Trung bình 30 –
60 t/h
Lớn 80 –
1000t/h
Tốc độ cán:
- Thép thanh
- Thép thanh

m/giây

4,5 – 12
10 – 27

10 – 13,4
30 – 60

40 – 50
60 – 120
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

11
thu các thông tin về đổi mới công nghệ trên thế giới. Độ tuổi của cán bộ
công nghân viên (CBCNV), nhất là các cán bộ kỹ thuật tương đối cao. Nếu
tính cho cả Công ty thì thành phần con người chỉ đạt H = 0,51. Công ty
thép miền Nam hiện có đội ngũ CBCNV 3.688 người trong đó có khoảng
300 cán bộ có trình độ đại học, cao đẳng trở lên, chiếm 8,1 % (số liệu năm
2004). So với Công ty Gang thép Thái Nguyên thì Công ty thép miền Nam
có nhiều thuận lợi hơn về
mặt nhân lực: “gọn nhẹ” hơn, Công ty có khả
năng thu hút cán bộ kỹ thuật nhất là cán bộ trẻ nhờ kinh doanh có hiệu quả,
thu nhập của người lao động cao. Tỷ lệ cán bộ biết ngoại ngữ cũng ở mức
độ cao hơn. Có khả năng làm chủ được công nghệ mới. Công ty cho thấy
giá trị thành phần con người của Công ty ở mức trung bình H = 0,52.
Các công ty liên doanh có đội ngũ gọn, phù hợp v
ới yêu cầu của hệ
thống thiết bị và công nghệ. Tuy vậy, trong vấn đề tuyển chọn lao động,
các lien doanh cũng gặp một số khó khăn do nguồn đào tạo và cung cấp
nhân lực trình độ cao ở trong nước chưa đáp ứng được cả về số lượng và
chất lượng.
Hầu hết các cơ sở nhỏ đều thiếu cán bộ kỹ thuật và công nhân lành
nghề
. Điều này đã gây ra không ít khó khăn trong việc nâng cao chất lượng
sản phẩm của các đơn vị này. Kết quả khảo sát cho thấy vấn đề nhân lực
của các cơ sở nhỏ là rất bất cập (H = 0,32 – 0,41). Trong những năm tới
tình hình này cũng rất khó được cải thiện vì nguồn nhân lực được đào tạo

đầu tư công nghệ hiện đại đã áp dụng mô hình tổ chức tiên tiến, phù hợp
với công nghệ sản xuất tiên tiền và kinh doanh trong nền kinh tế thị trường.
Các doanh nghiệp nhỏ có bộ máy tổ chức phù hợp với cơ sở nhỏ nên đ
ã tận
dụng được năng lực của thiết bị và chiếm được một số mạng của thị trường
trong nước. Kết quả khảo sát ở các nhà máy về giá trị thành phẩm tổ chức
O đạt mức khá. Bảng 2.3 Thành phần công nghệ của ngành thép Việt Nam, Ấn Độ và
Nhật
T H I O TCC
Việt Nam 0,46 0,52 0,56 0,78 0,51
Ấn Độ 0,48 0,22 0,51 0,70 0,44
Nhật Bản 0,84 0,58 0,89 0,96 0,84

d) Về hàm lượng nhập khẩu:
Nhìn chung ngành thép nước ta có hàm lượng nhập khẩu đầu vào khá
cao (xem Bảng 2.4), thể hiện sự phụ thuộc của ngành thép nước ta vào thị
trường nguyên nhiên liệu thế giới. Với năng lực sản xuất phôi quá nhỏ bé,
ngành sản xuất nguyên liệu cho luyện thép (luyện gang, sắt thép phế) còn
hạn chế nên ngành thép mới chỉ đáp ứng được 20 – 25 % nhu cầu phôi của
các nhà máy cán. Do phải nhập khẩu ph
ần lớn phôi thép nên gây khó khăn
cho nền kinh tế đất nước, nhất là trong hai năm gần đây. Với sự phụ thuộc
vào bên ngoài như vậy, ngành thép nước ta khó có thể phát triển ổn định và
bền vững trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế. Đây cũng là một
khâu yếu trong chiến lược phát triển ngành mà những năm tới phải lưu ý
khắc phục. Năm 2005 Việt Nam nhập khẩu 2.226.940 t
ấn phôi thép, trị giá

Thiết bị 70 – 80 % -
Sản phẩm tấm, lá,
thép hợp kim
100 % 3.000.000.000
tấn
2010, một nhà máy sản xuất
phôi thép và gang đi vào
hoạt động; bởi vậy, lượng
nhập khẩu nguyên vật liệu
như sắt thép phế, cốc, quặng
… sẽ rất lớn.
Nguồn báo cáo đánh giá TDCN ngành thép 2004; Ước tính năm 2005 được tổng hợp từ
các báo cáo ngành.

1.1.4. Kết luận, kiến nghị

- Ngành thép nước ta trong những năm gần đây phát triển với tốc độ
khá cao nên có thể đáp ứng được nhu cầu về thép tròn dài và thép hình nhỏ.
Tuy nhiên, còn nhiều bất cập, mất cân đối giữa các khâu sản xuất gang,
thép và cán, mất cân đối trong cơ cấu sản phẩm dẫn đến tính tự chủ, ổn
định của ngành không cao. Hiện tại chỉ mới sản xuất được các sản phẩm
dài, thép hình vừa và nhỏ, ch
ất lượng thép thông thường. Các loại sản phẩm
dẹt, hình lớn và các loại thép chất lượng vẫn phải nhập khẩu 100 %. Nguồn
nguyên liệu đầu vào còn phải nhập khẩu tương đối lớn trong đó có phế liệu
thép phục vụ cho sản xuất thép trong lò điện.
- Trình độ công nghệ ngành thép nói chung ở mức độ trung bình và
thấp. Trình độ công nghệ cũng không đồng đều ở các khâu trong chu trình
sản xuất luyệ
n kim. Khâu luyện gang đang ở mức độ lạc hậu, tương đương

Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta được thực hiện thông
qua việc mở rộng các hoạt động xuất nhập khẩu, đầu tư nước ngoài, tín
dụng nước ngoài… Trong đó, hoạt động xu
ất nhập khẩu có tầm quan trọng
hơn cả, là yếu tố quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển nhanh. Nhập
khẩu là để bù đắp những mặt hàng còn thiếu mà trong nước chưa sản xuất
được hoặc sản xuất nhưng không đủ để đáp ứng nhu cầu trong nước. Cơ
cấu nhập khẩu của Việt Nam chủ yếu bao gồm những mặt hàng sau: máy
móc thiết bị
, khoa học kĩ thuật, công nghệ và các loại nguyên vật liệu phục
vụ cho phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng ở nước ta.
Trong giai đoạn trước đây, thép là mặt hàng quan trọng trong cơ cấu
nhập khẩu của nước ta vì đây là mặt hàng cần thiết cho nhiều ngành công
nghiệp, xây dựng nhà xưởng, cơ sở hạ tầng phục vụ cho nhiều ngành sản
xuất nói chung. Tuy nhiên, việc nhập khẩu thép thành phẩm chỉ là biện
pháp trước mắt và tình thế. Do đó, vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp sản
xuất thép trong nước phải đẩy mạnh hoạt động sản xuất theo hướng ngày
càng nâng cao chất lượng và sản lượng thép.
Thế giới hiện đang sản xuất khoảng 1,2 tỉ tấn thép/năm, trong đó có
30% được sản xuất từ thép phế liệu (400 triệu tấn/năm), như vậy có thể
thấy số lượng thép được sản xuất từ phế liệu là rất lớn.
Ở Việt Nam, chỉ ở Thái Nguyên, thép được sản xuất từ quặng, còn
lại hầu hết được sản xuất bằng lò điện. Hiện nay phế liệu có nguồn từ trong
nước cho sản xuất thép không đủ cung ứng cho các nhà máy, mới chỉ có
khoảng 1,2 triệu tấn/năm trong khi nhu cầu khoảng gần 5 triệu tấn.
Do giá quặng sắt cao, nên việc sử dụng thép phế để luyện thép trong
lò điện trở nên vô cùng quan trọng, nó vừa có ý nghĩa làm sạch môi trường,
tái sinh kim loại đã qua sử dụng, vừa có ý nghĩa kinh tế to lớn. Tất cả các
nước trên thế giới đều coi thép đã qua sử dụng là nguồn nguyên liệu cho
luyện thép chứ không phải là phế


2. Nghiên cứu đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất nhựa
và nhu cầu phế liệu
2.1. Đánh giá tổng quan công nghệ của ngành sản xuất nhựa Việt Nam
Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành
nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ
thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ độ
ng được nguồn
nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất, số lượng mẫu mã chủng loại
nhựa sản xuất của Việt Nam còn đơn điệu chưa đáp ứng được yêu cầu đa
dạng của các nhà nhập khẩu, của các ngành kinh tế sử dụng sản phẩm nhựa
kỹ thuật và của người tiêu dùng. Giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa c
ủa Việt
Nam thời gian qua đạt mức cao và tăng trưởng nhanh nhưng mới chiếm
0,02% giá trị xuất khẩu các sản phẩm nhựa toàn cầu.
Các doanh nghiệp nhựa trong nước do quy mô vốn nhỏ nên đang
chịu áp lực cạnh tranh đối với các doanh nghiệp FDI có thế mạnh về vốn,
kỹ thuật, kinh nghiệm và thị trường tiêu thụ.
Sự phát triển của các doanh nghiệp nhựa Việt Nam mang nặng tính
tự phát, ch
ưa theo quy hoạch, các doanh nghiệp nhựa vẫn chưa thật sự gắn
bó, hỗ trợ lẫn nhau tạo sức mạnh tổng hợp để cạnh trạnh có hiệu quả trên
thị trường.
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

16

2.2. Nhu cầu phế liệu nhựa cho ngành công nghiệp sản xuất nhựa Việt
Nam
Hiện nay, mỗi năm ngành nhựa cần trung bình 2,2 triệu tấn các loại
nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS chưa kể hàng trăm loại hoá chất phụ
trợ khác nhau, trong khi khả năng trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng
450.000 tấn nguyên liệu. Năm 2010 các doanh nghiệp ngành nhựa trong
nước cần khoảng 4 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động sản
xuất.
Bên cạnh đ
ó, giá thành sản xuất của ngành nhựa cũng bị biến động
theo sự biến động của giá cả nguồn nguyên liệu nhập khẩu, đặc biệt là sự
biến động về giá của 2 loại nguyên liệu được sử dụng nhiều trong sản xuất
là PP và PE với mức tăng trung bình là 13%.
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

17
Phế liệu nhựa được xem như là một giải pháp để giảm sức ép từ cơn
sốt giá nguyên liệu nhựa. Nguồn phế liệu nhựa trong nước rất dồi dào
nhưng chúng ta vẫn chưa tận dụng được. Nguyên nhân là do hệ thống thu
gom nhỏ lẻ, không tập trung, phế liệu hầu như không được xử lý và phân
loại theo đúng cách, công nghệ lạc hậu
Ngành công nghiệp tái chế phế
liệu nhựa của Việt Nam chưa phát
triển, hệ thống thu gom phế liệu nhựa chưa hữu hiệu trong khi đó việc nhập
phế liệu theo quy định hiện hành là rất hạn chế nên trong nước không cung
cấp được nguyên liệu nhựa tái chế đạt chất lượng và giá cả cạnh tranh giúp

khẩu nguyên liệu chính phẩm, đồng thời tăng được 18 - 25% kim ngạch
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

18
xuất khẩu nhựa hằng năm của ngành.

Hiện nay cơ quan quản lý nhà nước đã có hàng loạt văn bản liên
quan đến việc nhập khẩu - tái chế phế liệu. Theo quyết định 12/2006/QĐ-
BTNMT của Bộ Tài nguyên - Môi trường, plastic (nhựa) ở dạng khối,
thanh, ống, tấm, sợi mảnh được loại ra từ quá trình sản xuất, chưa qua sử
dụng được phép nhập khẩu. Tuy nhiên, thực tế dạng nguyên liệu này đều
được thu hồi để tái sử dụng bởi chính nhà sản xuất nên số lượng cung cấp
cho thị trường rất hạn chế, giá cả cũng cao gần với giá nguyên liệu chính
phẩm nên doanh nghiệp hầu như không nhập. Nguyện vọng của VPA là
được phép nhập khẩu tất cả chủng loại nguyên liệu nhựa ở dạng khối, cục,
thanh, ống, tấm, sợi được loại ra từ quá trình sản xuất đã hoặc chưa qua sử
dụng.

Đề nghị trên của các doanh nghiệp ngành nhựa được xem là rất
nhạy cảm. Bởi lẽ, việc nhập khẩu "rác" lâu nay vẫn gây nhiều tranh cãi vì
tác động tiêu cực đến việc bảo vệ môi trường, khó khăn trong việc khắc
phục hậu quả. Nhận thức được vấn đề này, các doanh nghiệp nhựa đã tự
giác đưa ra nhiều giải pháp. Theo kiến nghị của VPA, chỉ những doanh
nghiệp có nhà máy xử lý phế liệu có công nghệ tiên tiến mới được phép
nhập khẩu trực tiếp phế liệu nhựa để phục vụ việc tái chế.


Ông Phạm Trung Cang, Chủ tịch Hội đồng quản trị Công ty sản xuất
bao bì nhựa Tân Đạ
i Hưng (TP.HCM), cho rằng giải pháp khẩn thiết hiện
nay là cho phép nhập khẩu nhựa phế liệu. “Bài học” này rút ra được từ
nước láng giềng Trung Quốc.
Gần 10 năm nay, chủ trương của Trung Quốc là tổ chức thu gom
nhựa phế liệu trên toàn thế giới để tái sinh. Nguồn nguyên liệu tái sinh này
chiếm 60-70% nguồn nguyên liệu đầu vào. Điều này dẫn đến giá thành của
doanh nghiệp Trung Quốc thường thấp hơn doanh nghi
ệp Việt Nam từ 20-
30%.
Thế nhưng, “tắc” hiện nay là cơ chế nhập khẩu phế liệu đang bị
“trói” bởi các qui định ngặt nghèo của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Theo
khẳng định của các doanh nghiệp, phế liệu nhựa không phải là “rác”.

Hiện có nhiều nhà máy nhựa của nước ngoài trong quá trình sản xuất
do một số thông số kỹ thuật không đạt nên sản phẩm làm ra bị loại. Những
sản phẩm “loại” này được ép thành từng khối, đem bán với giá chỉ bằng 10-
20% so với giá nhựa chính phẩm.
Hiện có khoảng 300 khách hàng Trung Quốc là khách quen của
nguồn hàng này tại EU và Mỹ. Một nguồn phế liệu nhựa nữa cũng được
các doanh nghiệp yêu c
ầu cho phép nhập là “rác nhựa công nghiệp”. “Rác”
này sau khi đã được phân loại, đưa qua xử lý sạch sẽ ép lại thành kiện và
chỉ bán với giá khoảng 300 USD/tấn.
Ông Nguyễn Công Chương, Tổng Giám đốc Công ty nhựa Rạng
Đông, khẳng định: “Sẽ không ai đi mua rác về để gây ô nhiễm môi trường”.
Nguyên Bộ trưởng Trương Đình Tuyển đã hứa sẽ trình các mẫu “rác” cho
Bộ Tài nguyên và môi trường thấy để xem lại các chính sách đã ban hành.
Ông Tuyể

án xây dựng mới các nhà máy sản xuất
giấy và bột giấy chúng ta đang từng bước nâng cao tỷ lệ nội địa hóa phần
thiết bị (dự án nhà máy Giấy và Bột giấy Thanh Hóa, phần thiết bị sản xuất
trong nước sẽ phải chiếm tới 50%), dần dần làm chủ về công nghệ và hạ
giá thành cho chủ đầu tư.
- Các dự án mới đang xây dựng cũng đã lựa chọ
n công nghệ nấu bột
bằng phương pháp nấu liên tục kết hợp loại bỏ lignin bằng Ôxygen, tẩy
trắng bằng 4 giai đoạn không dùng Clo nguyên tố để đảm bảo yếu tố môi
trường.
- Đã nghiên cứu sản xuất sản phẩm giấy tráng phủ tại Công ty Giấy Tân
Mai, một trong những sản phẩm có nhu cầu rất cao mà từ trước tới nay
chúng ta hoàn toàn phải nhập khẩu.
- Đ
ã áp dụng có hiệu quả công nghệ tự động hóa ủong các nhà máy sản
xuất bột giấy và giấy, sử dụng hệ thống điều khiển phân tán DCS, QCS tự
động hóa kiểm soát tối đa quy trình sản xuất.
3.1.2 Trong công nghệ phát triển trồng rừng cây nguyên liệu giấy:
- Đã áp dụng công nghệ trồng rừng mới từ cây mô hom, phương pháp
này cho năng suất trồng rừng tăng 3 – 4 lần so với công nghệ
trồng rừng từ
hạt.
- Ứng dụng các thành tựu khoa học và công nghệ trong lĩnh vực trồng
rừng vào ngành giấy với mục tiêu tạo được số lượng rừng trồng với chất
lượng gỗ tốt nhất, đáp ứng yêu cầu về nguyên liệu để phát triển ngành.
- Trong lĩnh vực chọn, tạo giống: đã nghiên cứu chọn, tạo các giống cây
nguyên liệu giấy quý hi
ếm từ một số loài, xuất xứ và dòng ưu trội có năng
suất cao, có khả năng chống chọi sâu bệnh hại.


thấp.
- Sản phẩm ngành giấy còn có hàm lượng công nghệ gia tăng thấp, giá
thành cao, thương hiệu, uy tín và khả năng cạnh tranh của sản phẩm còn
kém.
- Đội ngũ nhân lực có tỷ lệ
đào tạo chính quy, bài bản rất thấp. Năng lực
quản lý và điều hành chưa cao, thiếu khả năng thích ứng với công nghệ mới
và quy mô sản xuất lớn.
- Do nguyên nhân khó khăn về tiềm lực kỹ thuật và vốn mà sự phát triển
sản xuất của ngành giấy hiện nay có sự mất cân đối giữa năng lực sản xuất
bột giấy và giấy. Toàn ngành hiện nay chỉ
sản xuất được 175.000 tấn bột
các loại. Lượng bột thiếu hụt được nhập khẩu và sử dụng giấy phế liệu.

3.1.4 Kiến nghị về công nghệ nhằm tăng trưởng cho ngành giấy

Ngành giấy muốn đạt mục tiêu tăng trưởng cần chú trọng đầu tư trang
thiết bị hiện đại, cụ thể:
a) Công nghệ sản xuất bột.
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

22
Chỉ nên đầu tư các nhà máy có công suất không dưới 1.500 tấn bột/năm
đối với nhà máy liên hợp bột và giấy không dưới 250.000 tấn/năm. Sử
dụng các công nghệ tiên tiến trên thế giới.
b) Công nghệ sản xuất giấy.

ục nghiên cứu ra những giống cây nguyên liệu giấy có năng suất
cao, chất lượng tốt. Tiếp tục cải tiến quy trình thâm canh rừng cho năng
suất rừng và chất lượng gỗ tốt, đáp ứng được yêu cầu về sản lượng cũng
như chất lượng nguyên liệu đầu vào cho ngành công nghiệp giấy.

3.2. Nhu cầu phế liệu giấy cho ngành công nghiệp sản xuất giấy Việt Nam
Nghiên cứu các căn cứ khoa học và thực tiễn để xây dựng quy định về nhập
khẩu phế liệu thép, nhựa, giấy cho sản xuất công nghiệp

23
Theo Hiệp hội bột giấy và giấy Việt Nam, giải pháp sử dụng giấy
phế liệu làm nguyên liệu chủ yếu cho ngành sản xuất giấy hiện đang được
các doanh nghiệp trong ngành lựa chọn. Không chỉ mang lại cho doanh
nghiệp lợi ích về mặt kinh tế như giảm chi phí sản xuất, chủ động nguồn
nguyên liệu mà việc tái chế giấy phế liệu còn có tác động tốt đến môi
trường, tiết kiệm năng lượng
Theo thống kê của các cơ quan chức năng, hàng năm có hàng triệu
tấn phế liệu làm nguyên liệu cho các ngành sản xuất trong nước được nhập
khẩu qua gần 60 cửa khẩu quốc tế, quốc gia, 49 cảng biển các loại của Việt
Nam. Trong năm 2008 là 1,4 triệu tấn, năm 2009 là trên 2 triệu tấn, năm
2010 dự kiến sẽ nhập gần 4 triệu tấn. Đ
ó là chưa tính khoảng gần 1 triệu
tấn nhựa phế liệu, giấy phế liệu, linh kiện điện tử
Thống kê chưa đầy đủ của Cục Hải quan Hải Phòng, trong giai đoạn
từ năm 2003 đến nay, đã có trên 3.000 container chứa hàng chục nghìn tấn
sản phẩm, phế liệu nhập khẩu, hoặc tạm nhập, tái xuất vi phạm các quy
định của Việt Nam về b


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status