nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để hình thành thị trường hàng hoá giao sau của việt nam - Pdf 10

Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực
tiễn để hình thành thị trờng hàng
hoá giao sau của Việt Nam
Viện Nghiên cứu Thơng mại
2000
Mục lục
Trang
Lời nói đầu
5
Chơng I tổng quan về thị trờng hàng hoá giao sau
8
I Các khái niệm cơ bản
8
1 Khái niệm về thị trờng triển hạn 8
2 Khái niệm về thị trờng kỳ hạn 10
3 Khái niệm về thị trờng tự chọn 12
4
Khái niệm về thị trờng hàng hoá giao sau 15
5
Hợp đồng trong thị trờng hàng hoá giao sau 17
6
Thị trờng ngoài sở giao dịch 19
II Thị trờng hàng hoá giao sau có tổ chức
22
1 Thị trờng hàng hoá kỳ hạn có tổ chức 22
2 Thị trờng tự chọn hàng hoá có tổ chức 43
3 Quản lý nhà nớc đối với thị trờng kỳ hạn và tự chọn 52
4 Một số kinh nghiệm của nớc ngoài về kinh doanh trên thị tr-
ờng hàng hoá giao sau
56
Chơng II Vai trò, ý nghĩa của thị trờng hàng hoá giao sau và

95
I Dự kiến về mô hình thị trờng hàng hoá giao sau
của Việt Nam
96
1 Về tổ chức quản lý thị trờng hàng hoá giao sau 96
2 Về các thành phần tham gia vào thị trờng hàng hoá giao sau
của Việt Nam
97
3 Về trung tâm giao dịch hàng hoá giao sau của Việt Nam 99
II Dự kiến các bớc đi hình thành thị trờng hàng hoá
giao sau của Việt Nam
102
III Một số kiến nghị và giải pháp
105
1 Về việc xây dựng các văn bản pháp lý 105
2 Về phơng thức tổ chức thực hiện 106
3 Về đào tạo 106
4 Về các vấn đề khác có liên quan 108
Kết luận
109
Phụ lục
111
Tài liệu tham khảo
118
2
Lời nói đầu
Việc lu thông và tiêu thụ các hàng hoá nông sản giữ vai trò quan trọng trong sự
phát triển của nền nông nghiệp hàng hoá. Để nhằm giải quyết vấn đề này nhiều nớc
trên thế giới nh Hoa Kỳ, các nớc thuộc khối EU, Nhật Bản, úc và nhiều nớc thuộc
khối Asean nh Singapo, Philippin, Inđônễia, Malaixia, Thái lan đã hình thành một

nghiệp, vì vậy đối với ngời nông dân, các chủ trang trại, các nhà chế biến thì thị trờng
nông sản giao sau lại càng có vai trò cực kỳ quan trọng. Khi đã biết trớc số lợng, chất
lợng, giá cả và thời gian giao hàng, tức là đã nắm chắc đầu ra của sản phẩm, ngời
nông dân có thể vạch kế hoạch sản xuất, tiến hành huy động vốn, mua sắm vật t, mở
rộng diện tích canh tác, tiến hành áp dụng các kỹ thuật tiên tiến để nâng cao năng
suất và chất lợng. Đó là một yếu tố quan trọng để nâng cao khối lợng các nông sản
hàng hoá của Việt Nam, tận dụng đợc một cách hợp lý nguồn tài nguyên và nhân lực.
Việc đáp ứng yêu cầu chất lợng của Hợp đồng nông sản giao sau có tác dụng
khuyến khích ngời nông dân mạnh dạn đầu t , đổi mới phơng thức sản xuất để tạo ra
các sản phẩm đạt tiêu chuẩn có chất lợng cao đáp ứng các yêu cầu về mặt môi trờng
(sản phẩm sạch), đây là một vấn đề ngời nông dân trớc đây không giám làm vì khó
3
cạnh tranh về giá cả so với các sản phẩm cùng loại khác nhất trên thị trờng nội địa. Từ
nay do biết trớc đợc giá cả của các sản phẩm sạch ngời sản xuất sẵn sàng đầu t để
sản xuất ra các sản phẩm đạt các tiêu chuẩn chất lợng và tiêu chuẩn môi trờng. Điều
này góp phần đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trờng mà hiện nay đang
là một vấn đề nổi cộm ở nớc ta. Hơn nữa, khi bớc vào hội nhập thì thị trờng hàng hoá
nông sản giao sau lại là cách thức tốt nhất để tổ chức sản xuất lu thông theo những
yêu cầu thị trờng đòi hỏi chất lợng cao của các nớc phát triển nh EU, Bắc Mỹ, Nhật
Bản Các sản phẩm có chất lợng cao sẽ tạo điều kiện để nông sản Việt Nam đủ sức
thâm nhập và cạnh tranh trên thị trờng quốc tế.
Việc ngời dân mạnh dạn vay vốn, mua vật t nông nghiệp, có tác dụng kích cầu
đối với thị thị trờng vốn, thị trờng t liệu sản xuất Hơn nữa, nếu nông dân tiêu thụ đ-
ợc sản phẩm, họ sẽ có điều kiện để mua sắm các sản phẩm tiêu dùng, với một tỷ lệ
80% dân số hiện nay sẽ là một động lực rất lớn cho việc kích cầu về tiêu dùng. Kích
cầu về t liệu sản xuất và tiêu dùng là một trong những vấn đề mà chúng ta đang tập
trung giải quyết hiện nay.
Công cuộc đổi mới nền kinh tế của Việt Nam trong thời gian qua, một mặt đã
tạo ra một khối lợng các sản phẩm nông sản cha từng có từ trớc tới nay, mặt khác đã
tạo ra cho chúng ta một cách t duy kinh tế mới, phù hợp với những quy luật khách

Phạm vi mà đề tài đề cập đến ở phần cơ sở lý thuyết nh bản chất của thị trờng ,
các hình thức giao dịch chủ yếu, cơ chế mua bán, thành phần tham gia thị trờng là t-
ơng đối toàn diện. Tuy nhiên đề tài cha đi sâu vào các nội dung cụ thể nh chiến lợc
kinh doanh của các đối tợng khác nhau (bảo hiểm, đầu cơ ), công tác quản lý và vận
hành các Trung tâm, các kiến thức chuyên sâu của các bộ phận tham gia thị trờng,
cũng nh đánh giá khả năng tham gia của một số nông sản chủ yếu của Việt Nam.
Phần dự kiến cũng đợc nêu nên một cách khái quát. Mô hình và các bớc đi ban đầu
mới chỉ là những nét phác thảo cơ bản nhất. Việc triển khai xây dựng thị trờng cần
phải có sự tìm hiểu và nghiên cứu một cách sâu rộng hơn.
Vì những lẽ trên nên kết cấu của đề tài bao gồm những nội dung cơ bản sau
đây:
Tổng quan về thị trờng hàng hoá giao sau.
Vai trò, ý nghĩa của thị trờng hàng hoá giao sau và khả năng tham gia đối với
một số mặt hàng nông sản của Việt Nam hiện nay.
Dự kiến mô hình, các bớc đi, các kiến nghị và giải pháp để thiết lập thị trờng
hàng hoá giao sau của Việt Nam.
Với những nội dung trên chúng tôi hy vọng rằng đề tài sẽ có những đóng góp
nhất định về lý luận và thực tiễn nhằm giải quyết những vấn đề kinh tế bức xúc của n-
ớc ta hiện nay.
5
Chơng i
tổng quan về thị trờng hàng hoá giao sau
I. các khái niệm cơ bản.
1. Khái niệm về thị trờng triển hạn.
Sự hình thành và phát triển thị trờng hàng hoá giao sau luôn gắn liền với
việc giải quyết các vấn đề ách tắc nảy sinh trong quá trình lu thông và tiêu thụ
nông sản sau thu hoạch của nông dân. Vào những thập kỷ đầu của thế kỷ XIX,
các nông sản hàng hoá đợc vận chuyển từ nơi sản xuất đến nơi tiêu thụ phải mất
nhiều thời gian và chi phí rất tốn kém. Một đặc tính của sản xuất nông nghiệp là
mang tính thời vụ, cho nên tình trạng cung vợt quá cầu của mặt hàng này vào

thị trờng mà ở đó ngời ngời bán và ngời mua gặp nhau để hợp đồng, thoả thuận,
cam kết với nhau về việc mua bán, giao hàng và nhận tiền trong tơng lai.
Tuy nhiên, không phải hợp đồng nào cũng là cuộc gặp nhau giữa những
ngời thực sự cần mua và cần bán. Trong thực tế trên thị trờng còn xuất hiện một
ngời thứ ba - ngời trung gian. Ngời trung gian có vai trò môi giới, chắp nối
những ngời cần mua và những ngời cần bán lại với nhau. Sự xuất hiện của ngời
trung gian ban đầu cũng mang tính tự phát về sau lại trở thành phổ biến. Nhiều
ngời coi đó nh là một nghề - Nghề môi giới trung gian. Việc chắp nối của ngời
trung gian quả là không đơn giản, vì để hành nghề họ cũng phải bỏ thời gian,
sức lao động và cả tiền bạc, thậm chí nhiều lúc cũng phải chịu rủi ro. Điều đó có
thể giải thích nh sau: giả sử ngời trung gian sau khi đã thoả thuận mua của ngời
sản xuất một khối lợng nông sản với một mức giá nào đó và sau đó lại tiến hành
tìm một khách hàng để bán với số lợng và mức giá đó thì anh ta sẽ thu đợc cái
gì?- Đó có thể là một số tiền gọi là tiền hoa hồng môi giới do ngời bán hoặc ng-
ời mua trao cho, hoặc có khi là cả hai bên. Trong trờng hợp thuận lợi ngời trung
gian thoả thuận mua của ngời sản xuất với giá rẻ và thoả thuận bán với ngời tiêu
dùng với giá đắt thì ngoài khoản tiền hoa hồng ngời trung gian còn thu đợc một
lợi nhuận khác đáng kể. Nhng đối với trờng hợp không thuận lợi thì sau khi đã
tiến hành một thoả thuận mua của ngời sản xuất mà ngời trung gian không tiến
hành đợc một thoả thuận bán cho một ngời khác (hoặc ngợc lại), thì rõ ràng việc
chắp nối của ngời trung gian không thành công và đó chính nguyên nhân gây
nên rủi ro đối với ngời môi giới.
Các hiện tợng trên đã đặt ra cho các nhà kinh tế một nhiệm vụ cần phải
giải quyết, một mặt để giải toả đợc những ách tắc trong lu thông, làm ảnh hởng
đến sự phát triển của nền kinh tế, mặt khác đây cũng là một thị trờng kinh doanh
không kém phần hấp dẫn, vì vậy vào năm 1848, một nhóm nhà kinh doanh ở
Mỹ đã thực hiện những bớc đi đầu tiên bằng cách lập ra Cục Thơng mại Chicago
(CBOT). CBOT đợc tổ chức với mục đích ban đầu là tiêu chuẩn hoá số lợng và
chất lợng ngũ cốc - một nội dung cụ thể của hợp đồng trong mua bán giao sau
mà chúng ta sẽ đề cập một cách chi tiết ở các phần tiếp theo. Vài năm sau, hợp

Tuy nhiên để khắc phục những hạn chế nêu trên cần phải hình thành một thị tr-
ờng có cơ chế hợp lý để đảm bảo việc thực hiện nghĩa vụ của các bên trong hợp
đồng, thay việc giao dịch một cách tự phát, phi tập trung bằng việc hình thành
các địa điểm giao dịch có tổ chức Tất cả những yêu cầu đó đợc đáp ứng bởi
một thị trờng có tổ chức chặt chẽ đó là thị trờng hàng hoá kỳ hạn, trên thị trờng
này ngời ta chỉ cho phép giao dịch các hợp đồng tại một nơi quy định có tổ chức
và hơn nữa các hợp đồng đều đợc tiêu chuẩn hoá ở mức cao. theo các điều
khoản mẫu
2. Khái niệm về thị trờng kỳ hạn

Về mặt lịch sử cũng nh về phơng diện lô gic thì thị trờng kỳ hạn là giai
đoạn phát triển cao hơn của thị trờng triển hạn, thị trờng triển hạn là tiền thân
của thị trờng kỳ hạn.
Sự hình thành và phát triển của thị trờng kỳ hạn hàng hoá đã tiếp thu đợc
tất cả những u việt, đồng thời khắc phục đợc những hạn chế của thị trờng triển
hạn. Điều đó đợc thể hiện ở việc tiêu chuẩn hoá các hợp đồng triển hạn để tạo
thành một hợp đồng kỳ hạn với các điều khoản cụ thể và chặt chẽ hơn. Hơn nữa,
thị trờng kỳ hạn là một thị trờng có tổ chức cao nên giảm bớt đợc rủi ro và tăng
tính thực thi đối với các hợp đồng. Trong thị trờng kỳ hạn tất cả các giao dịch
đều đợc tiến hành tại một nơi quy định gọi là sở giao dịch hàng hoá kỳ hạn. Sở
giao dịch hàng hoá kỳ hạn là bộ phận quan trọng nhất của thị trờng kỳ hạn, vì lẽ
đó mà khi nói đến thị trờng kỳ hạn thì ngời ta thờng hiểu rằng đó là Sở giao dịch
hàng hoá kỳ hạn.
Tuy nhiên sự ra đời của các sở giao dịch của thị trờng hàng hoá kỳ hạn
không phải thay thế hoàn toàn thị trờng triển hạn- tiền thân của giao dịch kỳ
hạn, mà song song với các giao dịch kỳ hạn tại các sở giao dịch, các giao dịch
triển hạn vẫn tồn tại và tạo thành một bộ phận của các giao dịch trên thị trờng
hàng hoá giao sau đợc gọi là giao dịch ngoài sở (phi tập trung). Ngoài việc cung
cơ sở vật chất và duy trì trật tự cho các giao dịch, Sở giao dịch trong thị trờng kỳ
hạn còn có vai trò nh ngời trung gian chắp mối các nhu cầu mua và bán trong thị

thông qua các khoản tiền bảo chứng là bảo chứng ban đầu và bảo chứng duy trì
mà chúng ta sẽ thấy ở các phần sau. Giao dịch kỳ hạn đã khắc phục đợc những
hạn chế của giao dịch triển hạn trong thị trờng triển hạn, và cùng với giao dịch
trển hạn đóng vai trò to lớn trong việc hình thành thị trờng hàng hoá giao sau.
Ngoài ra, trong thực tế còn tồn tại một số hình thức giao dịch khác cũng có vai
trò không kém phần quan trọng trong việc hình thành thị trờng hàng hoá giao
sau- đó là giao dịch hàng hoá tự chọn.
3. Khái niệm về thị trờng tự chọn
Sự xuất hiện của thị trờng tự chọn nhằm giải quyết một vấn đề thờng xảy
ra trong thực tế đó là sau khi ngời bán (nhà sản xuất) tơng tự ngời mua (nhà xuất
khẩu chẳng hạn) đã sở hữu hợp đồng thì giá thị trờng có nhiều biến động và gây
thiệt hại đối với họ, liệu có cách gì khắc phục đợc các thiệt hại ấy hay không?
Câu trả lời là có 2 cách để khắc phục đợc những thiệt hại nói trên. Cách thứ nhất
là ngời sở hữu hợp đồng có thể bán lại hợp đồng của mình tại sở giao dịch hàng
hoá kỳ hạn (giao dịch thứ cấp) khi cha hết thời hạn, cho một ngời khác nhằm
ngăn chặn việc thua thiệt của mình do sự lên xuống của giá cả gây ra. Cách thứ
2 là ngời này tham gia vào một thị trờng khác là thị trờng tự chọn.
Thị trờng tự chọn là thị trờng diễn ra các giao dịch hợp đồng tự chọn.
Hợp đồng tự chọn là hợp đồng giữa 2 bên ngời mua và ngời bán (ngời viết).
Trong đó ngời mua mua của ngời bán (ngời viết) không phải là một món hàng,
mà là một cái quyền tức là quyền mua hay quyền bán một món hàng hoặc một
tài sản nào đó theo mức giá đã thoả thuận. Nh trong bất kỳ một trờng hợp mua
bán nào khi ngời bán trao quyền sở hữu của mình về một cái gì đó cho ngời
mua, thì ngời mua phải trả tiền cho ngời bán, ở đây ngời mua bỏ tiền ra để nhận
về cho mình không phải là một hàng hoá theo nghĩa thông thờng mà là một cái
quyền- quyền mua hoặc bán một tài sản nào đó theo giá của hợp đồng tự chọn.
Tuy nhiên, trong trờng hợp mua bán này số tiền mà ngời mua trả cho ngời bán
không tơng đơng với mức giá của tài sản đó trên thị trờng mà chỉ là một số tiền
9
tợng trng, ớc lệ gọi là phí hay là tiền cợc (premium) mà sau này ngời ta gọi là

dịch tự chọn, lấy tên là Sở giao dịch tự chọn Chicago (tiếng Anh viết tắt là
CBOE). Sở mở cửa mua tự chọn chứng khoán ngày 26/4/1973, sau đó bổ sung
bán tự chọn lần đầu cho các mặt hàng khác vào tháng 6/1977.
CBOE lập ra một Trung tâm tự chọn, bằng các tiêu chuẩn hoá những điều
khoản, điều kiện của hợp đồng tự chọn và bổ sung thêm tính cơ động. Nói cách
khác, một nhà đầu t trớc đã mua hoặc bán tự chọn tại Sở thì có thể trở lại để bán
mua trớc khi hết hạn, do đó bù trừ đợc vị thế ban đầu. Quan trọng hơn nữa là
CBOE lập thêm Sở giao hoán đảm bảo cho ngời mua là ngời viết chắc chắn phải
hoàn thành nghĩa vụ cho đến khi kết thúc kỳ hạn hợp đồng. Vì vậy, khác với thị
trờng ngoài Sở giao dịch, ngời mua tự chọn không còn phải lo ngại về rủi ro tín
dụng của ngời viết. Điều này làm cho tự chọn trở nên hấp dẫn hơn đối với công
chúng.
3.1. Quyền tự chọn mua
Quyền tự chọn mua (call option) là sự tự chọn để mua một tài sản theo
một giá cố định - gọi là giá ớc định, tự chọn mua phổ biến đối với nhiều loại
10
hình tài sản hàng hoá khác nhau, đặc biệt đối với các sản phẩm nông nghiệp lại
càng có ý nghĩa vô cùng quan trọng. Quyền tự chọn mua có thể phân làm hai
loại là mua quyền tự chọn mua và mua quyền tự chọn bán. Mua quyền tự chọn
mua xảy ra trong tình huống ngời mua giả sử là một nhà sản xuất lo sợ rằng giá
cả của một mặt hàng nào đó nh nguyên vật liệu chẳng hạn sẽ tăng lên trong tơng
lai, điều đó sẽ ảnh hởng đối với việc sản xuất, cho nên nhà sản xuất sẵn sàng bỏ
ra một số tiền (tiền cợc) để ấn định giá nguyên vật liệu đầu vào trong tơng lai.
Khác với việc mua quyền tự chọn mua, mua quyền tự chọn bán xảy ra trong
tình huống ngợc lại. Giả sử rằng nhà sản xuất lo sợ sản phẩm của mình khi bán
ra thị trờng trong tơng lai giá giảm xuống và sẽ bị thua lỗ hoặc khó tiêu thụ, nên
họ sẵn sàng mua quyền tự chọn bán để bảo hiểm cho việc tiêu thụ sản phẩm của
mình sau này.
3.2. Quyền tự chọn bán.
Đó là tự chọn bán một tài sản, chẳng hạn chứng khoán hay một lợng nông

định trong tơng lai.
Một trong những đặc trng của giao dịch hàng hoá giao sau là phải có hợp
đồng. Hợp đồng hàng hoá giao sau có thể là một hợp đồng triển hạn, một hợp
11
đồng kỳ hạn hoặc quyền tự chọn. Hợp đồng hàng hoá giao sau là một thoả thuận
mang tính pháp lý giữa ngời mua và ngời bán, trong đó yêu cầu ngời bán- bên
bán ( short) giao hàng cho ngời mua- bên mua (long) một số lợng và phẩm cấp
quy định về một loại hàng hoá với giá cả đã đợc thoả thuận và thời gian giao
hàng đợc ấn định vào một thời điểm ấn định trong tơng lai. Hợp đồng hàng hoá
giao sau là một cơ sở pháp lý ràng buộc các bên của hợp đồng. Mục đích của sự
cam kết về nghĩa vụ thực hiện hợp đồng là yếu tố cơ bản nhất nhằm duy trì sự
ổn định và trật tự của các hoạt động giao dịch trên thị trờng hàng hoá giao sau.
Vì thị trờng hàng hoá giao sau là thị trờng mua bán và ký kết các hợp
đồng cho nên để có thể duy trì sự ổn định của thị trờng việc mua bán ký kết các
hợp đồng phải đợc diễn ra ở những nơi quy định có tổ chức của thị trờng và đợc
gọi là các sở giao dịch hàng hoá giao sau. Sở giao dịch hàng hoá giao sau nh sở
giao dịch hàng hoá kỳ hạn, sở giao dịch hàng hoá tự chọn là các trung tâm
giao dịch của thị trờng hàng hoá giao sau. Cùng với những giao dịch đợc tiến
hành tại sở còn có các giao dịch khác ngoài sở mà chủ yếu là những giao dịch
triển hạn. Các giao dịch cả trong sở lẫn ngoài sở tạo thành một thị trờng nhộn
nhịp và sôi động. Giữ vai trò quan trọng trong việc giải quyết đợc các ách tắc
trong quá trình lu thông hàng hoá, góp phần tích cực cho việc phát triển của nền
kinh tế.
Một trong những chỉ tiêu để đánh giá sự hoạt động của một sở giao dịch
là khối lợng hợp đồng đợc ký kết, mua bán tại sở giao dịch đó. Khối lợng hợp
đồng đợc mua bán phụ thuộc rất nhiều vào các yếu tố khác nhau nh phơng thức
tổ chức vận hành của sở, địa điểm và trang thiết bị kỹ thuật những yếu tố khác
vô cùng quan trọng ảnh hởng đến khối lợng giao dịch của sở là loại hình hàng
hoá đợc đa vào giao dịch tại sở. Hiện nay có một số sở giao dịch sử dụng chỉ để
giao dịch một nhóm hàng cụ thể nh nông sản, năng lợng, kim loại, ngoại

Khoai tây
Đờng
Dầu ngô
Nguồn: Hiệp hội công nghiệp kỳ hạn Hoa Kỳ
Khách hàng trong thị trờng hàng hoá giao sau cũng rất phong phú và đa
dạng bao gồm các nhà sản xuất nh các chủ trang trại, các nhà chế biến nông sản,
các thơng gia hàng hoá mua đi bán lại hoặc mua để xuất khẩu, các ngân hàng và
các tổng công ty. Tất cả những ngời này có thể gián tiếp thông qua trung gian
hoặc trực tiếp đến các sở giao dịch với các mục đích khác nhau nh đầu cơ, tự
bảo hiểm, kinh doanh Do có các nhà đầu cơ chuyên nghiệp, nên thị trờng hàng
hoá giao sau cho phép ngời nông dân thông qua các trung gian hoa hồng có thể
chuyển rủi ro về giá sang các nhà đầu cơ chuyên nghiệp. Quá trình này đã góp
phần san sẽ mọi rủi ro do thị trờng gây ra mà tong thực tế ngời nông dân thờng
phải gánh chịu cho toàn xã hội.
5. Hợp đồng trong thị trờng hàng hoá giao sau
5.1. Hợp đồng triển hạn và kỳ hạn
Nhìn chung, hợp đồng triển hạn rất giống hợp đồng kỳ hạn. Những điều
khoản ký kết, nghĩa vụ của ngời mua, ngời bán của hợp đồng triển hạn tơng tự
với các điều tơng ứng trong hợp đồng kỳ hạn. Sự khác biệt cơ bản là hợp đồng
kỳ hạn chỉ đợc mua bán tại Sở giao dịch có tổ chức, trong khi hợp đồng triển
hạn đợc mua bán ở ngoài Sở giao dịch, sự khác biệt này rất quan trọng vì nó
thay đổi bản chất nghĩa vụ và rủi ro của các bên ký kết. Cụ thể hơn, một ngời
mua hợp đồng triển hạn có nghĩa vụ mua một thứ hàng cụ thể vào một ngày nào
đó trong tơng lai theo giá thoả thuận khi anh ta tham gia hợp đồng, còn ngời
bán có nghĩa vụ bán hoặc giao một thứ hàng cụ thể theo giá thoả thuận của hợp
đồng. Tuy nhiên số lợng và chất lợng hàng đợc giao phù hợp với hợp đồng triển
hạn thờng không đợc tiêu chuẩn hoá, nhng lại đợc thoả thuận giữa các bên ở
thời điểm ký hợp đồng. Tình hình này tạo cho hợp đồng triển hạn mức độ linh
hoạt nhất định mà hợp đồng kỳ hạn không có. Các thoả thuận trong hợp đồng
triển hạn có thể điều chỉnh chính xác theo yêu cầu của các bên, các bên cũng có

trong tơng lai.
5.2. Hợp đồng tự chọn (lựa chọn)
Một hợp đồng tự chọn, khác với hợp đồng kỳ hạn ở chỗ chỉ đặt nghĩa vụ
duy nhất vào một bên. Hợp đồng này chỉ có lợi cho một bên (bên mua) quyền,
chứ không có nghĩa vụ bắt buộc phải mua hay bán một số lợng và chất lợng, giá
cả quy định của loại hàng hoá (hay tài sản) đã nêu tại một thời điểm trong tơng
lai. Nếu ngời mua lựa chọn thực hiện quyền này, thì ngời bán của hợp đồng lựa
chọn có nghĩa vụ thi hành - tức là hoặc mua hoặc bán hàng theo hợp đồng.
Khi ngời mua (hay ngời nắm giữ) quyền lựa chọn thực hiện quyền này,
hoặc đề ra quyền này, thì anh ta trả (hoặc nhận) theo giá đã thoả thuận và tiếp
nhận hàng (call option- quyền chọn mua) hoặc giao hàng và tiếp nhận thanh
toán (quyền chọn bán). Ngợc lại, ngời bán của hợp đồng lựa chọn (hoặc ngời
viết - the writer) có nghĩa vụ thực hiện giao hoặc tiếp nhận giao tuỳ thuộc vào
anh ta viết bán hay mua. Trong cả hai trờng hợp, ngời viết của hợp đồng lựa
chọn không có quyền quyết định hoặc không thực thi sự lựa chọn. Quyền quyết
định duy nhất chỉ thuộc về một bên duy nhất là ngời mua của hợp đồng lựa
chọn.
Để thực hiện quyền này, ngời mua trả một khoản phí một lần và không
hoàn lại (gọi là premium- tiền cợc) cho ngời viết lựa chọn. Sau khi trả tiền cợc,
ngời mua không có trách nhiệm thanh toán thêm khoản nào về vị thế lựa chọn
của mình. Ngợc lại, ngời viết tự chọn bị ràng buộc vào vô số trách nhiệm: giá
của hàng hoá liên quan có thể thay đổi nhiều giữa thời gian anh ta viết (bán) hợp
đồng lựa chọn với thời gian ngời mua nắm giữ quyền lựa chọn. Ngời viết phải
sẵn sàng giao hoặc tiếp nhận theo thời gian thoả thuận, mặc dù giá thị trờng có
thể thay đổi.
Mua bán lựa chọn thuộc hình thức mua bán giao sau theo đầy đủ các tính
chất của nó. Nếu ngời sản xuất ngũ cốc không mua một hợp đồng kỳ hạn hoặc
triển hạn thì anh ta có thể mua một hợp đồng tự chọn và tất nhiên anh ta phải trả
14
một khoản tiền gọi là tiền cợc. Đến kỳ hạn nếu giá cả trên thị trờng giao ngay

cho viên Giám đốc một khoản thu tối thiểu. Mà rất tiếc là loại doanh vụ này
không phải luôn luôn thực hiện đợc tại Sở giao dịch tự chọn. Thứ nhất những
cuộc tự chọn có sẵn tại Sở giao dịch đều dựa trên một số chứng khoán hoặc chỉ
số chứng khoán nhất định. Viên giám đốc này cần một tự chọn theo ngân khoản
cụ thể của mình, có thể không khớp với chỉ số mà các cuộc tự chọn hiện có.
Thứ hai, các cuộc tự chọn ở Sở giao dịch hết hạn vào ngày tháng cụ thể không
khớp với thời hạn đầu t của viên Giám đốc. Thứ ba, dù tự chọn có sẵn, không
chắc có đủ tính cơ động để tiến hành những cuộc mua bán lớn cần có để bảo hộ
toàn bộ ngân khoản. Tại thị trờng ngoài Sở giao dịch, viên Giám đốc có thể qui
định các chứng khoán mà cuộc tự chọn có thể bán và thời gian có thể thực hiện.
Tuy những doanh vụ lớn khác thờng đòi hỏi thời gian thu xếp, song hầu hết các
Giám đốc Quĩ hu trí đều thực hiện đợc các doanh vụ theo ý muốn.
Lợi thế thứ hai là thị trờng ngoài Sở giao dịch là một thị trờng t nhân
trong đó không có công chúng hoặc nhà đầu t khác, kể cả những ngời cạnh
tranh và đặc biệt là sự giám sát của các nhà chức trách. Vì vậy ngời tham gia
giao dịch chỉ cần biết rằng doanh vụ có hoàn thành hay không? hay cụ thể là đối
15
tác của mình có thực hiện cam kết hay không? Điều đó không có nghiã là những
doanh vụ ấy bất chấp luật pháp hoặc mờ ám mà nhiều khi đối tác bỏ lở hợp
đồng vì các lý do chính đáng. Tại Sở giao dịch tự chọn, một đơn hàng lớn để
mua tự chọn có thể làm cho thị trờng tiến triển chuệch choạc vì có sự lo ngại về
thông tin và mọi cản trở có thể xuất hiện.
Một u thế khác là mua bán ngoài Sở giao dịch không bị ràng buộc vào các
qui định mặc dù các qui tắc ở đây là sự lơng thiện và lịch sự phổ biến trong kinh
doanh. Môi trờng tự chọn ngoài Sở không bị ràng buộc rộng rãi vào các qui định
có nghĩa là không cần có sự phê duyệt cuả Chính phủ khi chào các loại hình tự
chọn mới. Các hợp đồng chỉ cần các bên tạo ra để cùng có lợi ích chung trong
công việc kinh doanh với nhau. Hơn nữa, ở đây không có những chi phí tốn kém
và bị hạn chế bỡi các ràng buộc liên quan.
Những lợi thế trên cũng cha đủ để nói rằng thị trờng ngoài Sở giao dịch

thị trờng giao dịch có tổ chức- tức là các sở giao dịch. Sở giao dịch cho phép các
nhà kinh doanh trên thị trờng này có thể tiến hành các giao dịch bù trừ với các vị
thế ngoài sở giao dịch, nhằm hạn chế những rủi ro có thể xảy ra. Và cuối cùng,
16
một điều không kém phần quan trọng là các giao dịch ngoài Sở gây khó khăn
cho công tác quản lý nhà nớc cũng nh thống kê thơng mại.
Sơ đồ 1. Sơ đồ tổng quát của thị trờng hàng hoá giao sau
II. thị trờng hàng hoá giao sau có tổ chức
1. Thị trờng hàng hoá kỳ hạn có tổ chức
Chúng ta đã biết rằng thị trờng kỳ hạn hàng hoá chính là sự phát triển ở
trình độ cao của thị trờng triển hạn. Sự phát triển đó đợc thể hiện ở chỗ: thị trờng
kỳ hạn là một thị trờng có tổ chức chặt chẽ. Trong thị trờng triển hạn các hợp
đồng có thể đợc ký kết giữa ngời mua và ngời bán với nhau hoặc qua ngời trung
gian, còn trong giao dịch hàng hoá kỳ hạn các hợp đồng đợc mua bán hoặc ký
kết chỉ qua một địa điểm duy nhất đó là sở giao dịch hàng hoá kỳ hạn. Sở có
chức năng đảm nhận thủ tục giấy tờ riêng biệt cho phép nhiều bên có thể tham
gia mua bán một cách có hiệu quả các hợp đồng.
Trong mỗi sở giao dịch hàng hoá kỳ hạn đều có hãng giao hoán (clearing
house) đứng đằng sau các hợp đồng đợc mua bán tại sở, có khả năng giải phóng
mỗi bên khỏi các rủi ro khi bên kia không thực hiện nghĩa vụ (vi sai).
Mức độ sai phạm của từng bên tham gia hợp đồng giảm xuống nhờ có tài
khoản ký gửi gọi là tiền bảo chứng (Marjin) một dạng trái khoán thi hành thờng
xuyên điều chỉnh mức lỗ lãi theo một công thức quy định. Thủ tục điều chỉnh
tiền bảo chứng này gọi là tái quyết toán hàng ngày.
Để thị trờng kỳ hạn hoạt động một cách có tổ chức và đạt hiệu quả kinh tế
cao, thông thờng có các bộ phận chức năng trực thuộc hoặc liên quan nh: Sở
giao dịch, Tổ chức thơng gia hoa hồng kỳ hạn (FCM) và Sở (Hãng, Công ty)
giao hoán. Toàn bộ các hoạt động này đợc đặt dới sự quản lý chung của Uỷ ban
hàng hoá kỳ hạn (CFTC), đó là cơ quan quản lý nhà nớc cao nhất về hoạt động
kỳ hạn. Song song với (CFTC) còn có các tổ chức và Hiệp hội ngành nghề khác.

sở giao dịch đợc tổ chức gần giống nh một công ty, hình thức sở hữu của một sở
giao dịch cũng nh một công ty phụ thuộc vào điều kiện cụ thể của từng nớc.
1.1.1 Chức năng của Sở giao dịch
Các đơn đặt hàng của khách hàng sau khi đợc chấp thuận sẽ đợc biến
thành các lệnh. Để thi hành lệnh của khách hàng, FCM phải chuyển lệnh đó đến
một sở giao dịch (hay thị trờng hợp đồng), tại đây các hợp đồng kỳ hạn cụ thể đ-
ợc mua bán một cách công khai theo các nguyên tắc đã định .
Sở giao dịch thực hiện 3 chức năng:
1. Cung cấp và duy trì một nơi mua bán cụ thể (thờng gọi là Sàn hay
Khung trờng giao dịch), tại đây hợp đồng kỳ hạn đợc các thành viên của sở mua
và bán;
2. Giám sát và thực thi những tiêu chuẩn đạo đức và tài chính đối với
những thơng gia kỳ hạn mua bán tại Sở;
3. Khuyến khích thành viên quan tâm đến lợi ích kinh doanh. Bản thân Sở
không tham gia vào việc mua bán kỳ hạn, mà chỉ cung cấp những tiện nghi cho
ngời khác làm việc đó.
Sở giao dịch thờng là tổ chức thành viên mà hội viên của họ có thể là cá
nhân hay tổ chức kinh doanh. Quyền hội viên giới hạn vào một số lợng chỗ qui
định, phải là hội viên mới đợc tiến hành mua bán tại sàn giao dịch. Hơn nữa,
phải thoả thuận chấp hành các qui định của Sở, hội viên mới có quyền mua bán
tại khung trờng của Sở giao dịch. Trong thực tế, một ngời muốn tham gia giao
dịch có thể thuê hoặc mua lại chỗ của một hội viên của sở.
Có 2 lý do cơ bản để mua một chỗ tại Sở giao dịch: Thứ nhất: để tham gia
vào hoạt động mua bán ở khung trờng mà không phải trả lệ phí cho FCM. Ví dụ,
một công ty thơng mại lớn có một khối lợng tự bảo hiểm lớn có thể coi chỗ đó
nh là chi phí có hiệu quả để giao dịch, bằng cách làm đó có thể tránh đợc lệ phí
hoa hồng cao.
Thứ hai: là tiền lãi do việc (thu phí) kinh doanh của sở mang lại. Thông
thờng, trị giá quyền hội viên của Sở tăng theo khối lợng của các hợp đồng đợc
mua bán. Vì vậy Sở giao dịch sẽ may mắn khi khởi sự mua bán các hợp đồng kỳ

số liệu riêng về hợp đồng mà nó sở hữu.
Trớc hết, cán bộ của Sở giao dịch gửi báo cáo hàng ngày đến Sở giao
hoán liên quan, bao gồm chi tiết của toàn bộ mua bán kỳ hạn đã thực hiện trong
ngày; sau đó Sở giao hoán chắp nối ( bán với mua) để tạo nên một sự đối chiếu
hàng ngày. Sau khi làm việc đó, Sở giao hoán chấp nhận việc mua bán và thay
thế hợp pháp cả ngời mua lẫn ngời bán trong việc mua bán hợp đồng.
Chức năng thứ hai là giám sát theo dõi việc mua và bán hợp đồng kỳ hạn
thông qua việc thu tiền và trả tiền hàng ngày giữa các quỹ cho các bên tham gia
hợp đồng kỳ hạn (bên mua và bên bán). Hàng ngày Sở giao hoán đa vào máy vi
tính lãi lỗ ròng của mỗi vị thế kỳ hạn (cả tài khoản của khách hàng lẫn nghiệp
chủ) tuỳ theo sự biến động giá trong ngày. Sau đó Sở thu thập số tiền lỗ ròng của
các hội viên bị lỗ và trả cho các hội viên có lãi ròng trong ngày.
Sở giao hoán còn thực thi những chức năng quan trọng khác đối với thị tr-
ờng kỳ hạn. Vì tầm quan trọng cốt tử của Sở này, tiếp theo chúng ta sẽ bàn tỷ
mỷ đến các vai trò và chức năng của sở giao hoán về thanh khoản hàng ngày.
Sơ đồ 2. Một giao dịch tại Sở Giao dịch kỳ hạn

1a 2a 2b 1b
19
Ng-
ờimua
Trung
gian
của ng.
mua
Trung gian
hoa hồng
của trung
gian ngời
mua

ngời mua và ngời bán
(6a) (6b) Trung gian của ngời mua và ngời bán báo cáo giá đạt đợc cho
ngời mua và ngời bán
(7a) (7b) Ngời mua và ngời bán trả trớc phần thanh toán tiền mặt cho
trung gian
(8a) (8b) Trung gian của ngời mua và ngời bán nộp phần thanh toán tiền
mặt cho hãng giao hoán của họ
(9a) (9b) Hãng giao hoán của trung gian của ngời mua và ngời bán nộp phần
thanh toán tiền mặt cho Sở giao hoán hoặc ngời mua hoặc ngời bán
hoặc cả 2 có thể là ngời giao dịch tại phòng giao dịch, loại bỏ khâu
trung gian và trung gian hoa hồng
1.2.2 Thanh khoản hàng ngày
Một cách để giúp Sở giao hoán thực hiện vai trò của mình là sử dụng phần
thanh toán tiền mặt và việc thanh khoản hàng ngày các tài khoản của khách
hàng. Đối với mỗi hợp đồng cả hai bên (mua và bán) đều phải nộp cả phần tiền
mặt ban đầu là khoản tiền phải nộp vào trớc ngày bắt đầu giao dịch (tiền bảo
chứng ban đầu), lẫn phần tiền mặt duy trì là khoản tiền phải duy trì hàng ngày
trong khoảng thời gian cha chấm dứt nghĩa vụ (tiền bảo chứng duy trì). Trong
giao dịch sai biệt và đối xung cũng có thanh toán tiền mặt ban đầu và thanh toán
tiền mặt duy trì, các khoản tiền này thờng thấp hơn trong các giao dịch đầu cơ
thuần tuý.
Việc nộp phần thanh toán tiền mặt không hoàn toàn giống nh phần thanh
toán tiền mặt trong giao dịch cổ phiếu. Trong giao dịch cổ phiếu, ngời đầu cơ
đóng phần thanh toán tiền mặt và vay phần còn lại của giá cổ phiếu từ ngời
trung gian. Trong giao dịch kỳ hạn, không những là yêu cầu về thanh toán tiền
20
Hãng giao
hoán trung
gian của
ngời mua

Tất nhiên trong thị trờng triển hạn không có Sở giao hoán và giới hạn giá
hay thanh khoản hàng ngày, do đó có thể không yêu cầu nộp khoản thanh toán
tiền mặt, việc này phụ thuộc vào độ tin cậy của từng bên. Trong nhiều trờng hợp
sự tin cậy đợc xác lập bằng cách xuất trình th tín dụng của một ngân hàng, ngân
hàng này thực tế sẽ sẵn sàng cho vay tiền để trang trải các khoản thua lỗ.
Tổng số hợp đồng kỳ hạn cha thanh khoản tại một thời điểm bất kỳ nào
đó đợc gọi là quyền lợi mở (lợi ích ngỏ). Khái niệm này cũng giống nh trên thị
trờng tự chọn. Mỗi hợp đồng đều có cả sự đầu cơ giá lên lẫn sự đầu cơ giá
xuống và đợc tính nh là một hợp đồng quyền lợi mở.
Hầu hết các nhà giao dịch kỳ hạn không giữ các hợp đồng của mình cho
đến ngày hết hạn. Đúng hơn, họ lại tham gia vào thị trờng và thực hiện một giao
dịch bù trừ. Nói cách khác, nếu một ngời giữ một giao dịch đầu cơ giá lên đối
với một hợp đồng, anh ta có thể quyết định chỉ đơn thuần bán hợp đồng đó trên
thị trờng. Sở giao hoán sẽ ghi lại đầy đủ là các giao dịch của anh ta đang đợc bù
trừ. Nếu giao dịch không bù trừ trớc tháng hết hạn, thì việc giao hàng có thể sẽ
phải đợc thực hiện.
1.3. Những nhà giao dịch ở khung trờng
Tất cả các nhà giao dịch có mặt ở sàn giao dịch kỳ hạn đều hoặc là trung
gian ăn hoa hồng hoặc là ngời buôn bán tự do.
Trung gian hoa hồng đơn giản chỉ là ngời thực hiện các giao dịch cho ng-
ời khác. Trung gian hoa hồng có thể là một nhà buôn độc lập thực hiện các giao
dịch cho cá nhân, hoặc tổ chức, hoặc là đại diện cho một hãng trung gian lớn.
Trong ngành buôn bán kỳ hạn những ngời trung gian hoa hồng (các thơng gia)
21
có thể kết hợp với nhau thành một tổ chức gọi là Hãng buôn Hoa hồng Kỳ hạn
(FCM- tổ chức thơng gia). Ngời trung gian hoa hồng chỉ đơn giản thực hiện các
giao dịch cho khách hàng của FCM. Ngời trung gian hoa hồng kiếm tiền bằng
cách thu một khoản hoa hồng từ mỗi giao dịch.
Tổ chức hoa hồng kỳ hạn là một tổ chức rất quan trọng trong ngành kỳ
hạn và đóng vai trò tơng tự nh tổ chức môi giới trong ngành chứng khoán. Một

đợc điều này ngời giao dịch phải hành động không chần chừ và phải có một
trình độ chuyên môn nhất định. Một số quy định giới hạn các giao dịch hai tay
đã đuợc ban hành trong thời gian gần đây ở hầu hết các nớc trên thế giới.
Căn cứ vào đặc trng của các nhóm giao dịch trên thị trờng kỳ hạn, ta có
thể tiến hành phân loại theo các kiểu nh sau.
1.3.1 Phân loại theo chiến lợc giao dịch:
Ngời giao dịch kỳ hạn có thể đợc phân loại theo chiến lợc mà họ sử
dụng.
22
Ngời áp dụng nghiệp vụ đối xung sở hữu một số hợp đồng trên thị trờng
giao dịch ngay. Việc này có thể đòi hỏi phải sở hữu một loại hàng hoá, hoặc chỉ
đơn giản là ngời này dự định cam kết sẽ mua hoặc bán loại hàng hoá đó. Việc
mua một hợp đồng kỳ hạn đối ứng với các hợp đồng giao dịch ngay sẽ giảm bớt
rủi ro. Ví dụ, nếu bạn sở hữu một bộ cổ phiếu, bạn có thể bảo toàn giá trị của bộ
cổ phiếu đó bằng cách bán một hợp đồng kỳ hạn chỉ số cổ phiếu. Nếu giá cổ
phiếu giảm xuống, bộ cổ phiếu sẽ mất giá, nhng giá của hợp đồng kỳ hạn cũng
có khả năng giảm xuống. Vì bạn đã đầu cơ giá xuống bằng hợp đồng kỳ hạn,
bạn có thể mua lại hợp đồng kỳ hạn với giá thấp hơn, vì vậy thu đợc một khoản
lợi nhuận. Khoản lợi nhuận từ số hợp đồng kỳ hạn sẽ phần nào bù trừ cho sự
thua lỗ trên bộ cổ phiếu. Ngời đầu cơ bằng nghiệp vụ đối xung cố gắng kiếm lợi
từ dự đoán chiều hớng diễn biến của thị trờng.
Nghiệp vụ đối xung là một hoạt động quan trọng ở bất cứ thị trờng kỳ hạn
nào. ở đây mới chỉ trình bày một cái nhìn tổng quát về nghiệp vụ này.
Ngời kinh doanh sai biệt sử dụng sai biệt kỳ hạn để đầu cơ với mức rủi ro
thấp nhất. Giống nh sai biệt quyền mua bán tự chọn, sai biệt kỳ hạn đòi hỏi một
ngời đầu cơ giá lên trong một hợp đồng này và một ngời đầu cơ giá xuống trong
hợp đồng kia. Sai biệt có thể là sai biệt nội hàng hoặc sai biệt liên hàng. Sai biệt
nội hàng giống nh sai biệt thời gian trong hợp đồng quyền mua bán tự chọn.
Ngời kinh doanh sai biệt mua một hợp đồng có tháng hết hạn nào đó và bán một
hợp đồng này chỉ khác hợp đồng kia bởi tháng hết hạn. Sai biệt liên hàng, th-

chào bán của ngời giao dịch. Họ theo dõi thờng xuyên để chờ những lợng lớn
đơn hàng mới tung ra thị trờng và các biến động ngắn hạn. Vì họ hoạt động với
mức phí giao dịch rất thấp nên họ có thể kiếm lợi từ những biến động nhỏ của
giá hợp đồng. Hoạt động kiếm lợi nhanh, nhiều, nhỏ đợc gọi là giao dịch nhỏ.
Ngời giao dịch trong ngày giữ hợp đồng của mình không quá thời gian
một ngày giao dịch. Giống nh ngời giao dịch nhỏ, họ kiếm lợi từ biến động ngắn
hạn của thị trờng; tuy nhiên họ giữ các hợp đồng của mình lâu hơn những ngời
giao dịch nhỏ. Họ không muốn chấp nhận rủi ro của giá biến động ngợc lại có
thể xảy ra ngày hôm sau hay vào kỳ nghỉ cuối tuần.
Ngời giao dịch theo số lợng giữ hợp đồng lâu hơn ngời giao dịch nhỏ và
ngời giao dịch trong ngày. Ngời giao dịch theo số lợng tin vào khả năng dự đoán
của mình để có thể kiếm lợi bằng cách đợi cho đến khi thị trờng có biến động
mạnh. Biến động mong đợi có thể đến sau vài tuần hoặc có thể chẳng bao giờ
xảy ra.
Ngời giao dịch nhỏ, ngời giao dịch trong ngày và ngời giao dịch theo số l-
ợng không hoàn toàn tách bạch. Trong thực tế ngời đầu cơ có thể sử dụng bất cứ
nghiệp vụ nào trong tất cả các nghiệp vụ nói trên trong quá trình giao dịch.
Cùng với những ngời tham gia giao dịch của Sở Giao dịch còn có nhiều cá nhân
giao dịch ngoài Sở Giao dịch và họ cũng sử dụng một số nghiệp vụ tơng tự.
1.4. Quang cảnh khung trờng ( diễn biến ở khung trờng)
Mọi giao dịch kỳ hạn đều phải thực hiện tại khung trờng (sàn giao dịch)
của Sở giao dịch. Ngời môi giới khung trờng đảm nhiệm việc thi hành lệnh để
mua bán những hợp đồng kỳ hạn đợc FCM chấp thuận.
Các nhà kinh doanh ở khung trờng có thể mua bán bằng chính tài khoản
riêng của họ hoặc tài khoản của khách hàng. Các thủ tục mua bán ở khung trờng
và những quy tắc điều hành công việc đều do Sở giao dịch quy định và giám sát
cùng với những quy định của CFTC đối với các sở giao dịch, các nhà kinh
doanh ở khung trờng cũng phải tuân theo những quy định của CFTC.
Các khung trờng giao dịch đợc tổ chức thành nhiều phòng trọng mãi (ổ
pít), tại đây diễn ra việc mua bán hợp đồng kỳ hạn. Do vậy, các nhà kinh doanh

dùng tay ra hiệu (dĩ nhiên, không phải lúc nào cũng tuân theo chính xác qui
chế). Giá nêu trong một hợp đồng đã cho thờng thờng chào theo một đơn vị
thuận tiện ví nh một giạ (bushel) ngũ cốc, aoxơ (ounce) vàng, thùng (barel) dầu,
kể cả khi một hợp đồng có bội số của đơn vị (ví dụ 5000 giạ ngô). Quy ớc điển
hình để tuyên bố một đơn chào bán là:
n với p
Đây là một đề nghị chào bán n hợp đồng với giá đơn vị p. Vì thờng có
tiếng ồn lớn, lệnh gọi giá và số lợng phải ngợc nh trên giữa gọi thầu và chào bán
nhằm giảm bớt nhiều lần. Để nhanh gọn, chỉ có phần phân số của giá thờng đợc
xớng lên vì giá thờng biến động ở mức các con số đủ để loại trừ sự mập mờ. Sự
biến động giá biến đổi theo phân số, hay là dấu (tick) đợc quy định trong hình
mẫu hợp đồng. Ví dụ biến động giá tối thiểu với ngũ cốc thờng là 1/4 xen (xu
Mỹ) một giạ.
Gọi thầu và chào bán còn đợc thể hiện bằng tín hiệu tay. quy ớc sau đây
đợc sử dụng tại Sở giao dịch thơng mại Chicago.
1. Chào bán đợc biểu hiện bằng quay gan bàn tay ra ngoài ngợc với phía ngời
nói; gọi thầu thì quay gan bàn tay vào trong hớng về phía ngời nói.
2. Giá nêu lên đợc ra hiệu bằng tay trực tiếp trớc mặt ngời nói. Giá thể hiện
bằng số lợng dấu ở trên toàn bộ số giá hiện thời. Ký hiệu khối lợng đợc biểu
diễn bằng tay hớng ra cạnh thân thể, số lợng báo hiệu thể hiện số hợp đồng.
25
Bàn Điện thoại
FCM


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status