1
BỘ KHOA HỌC CÔNG NGHỆ
VIỆN ĐÁNH GIÁ KHOA HỌC
VÀ ĐỊNH GIÁ CÔNG NGHỆ BÁO CÁO TỔNG KẾT ĐỀ ÁN
NGHIÊN CỨU CƠ SỞ KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN ĐỂ XÂY DỰNG
PHƯƠNG PHÁP, TIÊU CHÍ VÀ QUY TRÌNH ĐÁNH GIÁ CHƯƠNG
TRÌNH KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ Chủ nhiệm đề án: Nguyễn Thị Thu Oanh
8945
Hà Nội tháng 11 năm 2011
trung vào việc tổng kết về tình hình thực hiện kế hoạch, sử dụng tài chính, liệt kê
kết quả cụ thể của các đề tài, dự án. Mặc dù báo cáo tổng kết có nêu được những
thành công và tồn tại, tuy nhiên chưa phân tích, đánh giá một cách hệ thống, chủ
yếu là những nhận xét, kiến nghị mang tính định tính.
Nhằm nâng cao hiệu quả của các chương trình KH&CN, thời gian qua, Bộ
Khoa học và Công nghệ đã ban hành một số văn bản quy định về công tác quản lý
chương trình, ví dụ : QĐ 18/2006/QĐ-BKHCN về việc ban hành “Quy chế tổ chức
quản lý hoạt động chương trình khoa học và công nghệ trọng điểm cấp nhà nước
giai đoạn 2006-2010”; Thông tư 19/2011/TT-BKHCN về việc Quy định tổ chức
quản lý hoạt độ
ng Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-
2015; Thông tư 20/2011/TT-BKHCN về Quy định tổ chức và hoạt động của Ban
Chủ nhiệm Chương trình KH&CN trọng điểm cấp nhà nước giai đoạn 2011-2015;
tuy nhiên chưa có văn bản quy định, hướng dẫn về đánh giá chương trình.
Đặc thù của các chương trình KH&CN là có tính liên ngành, được đầu tư
kinh phí trong một giai đoạn dài, tập hợp lực lượng t
ừ nhiều cơ quan khoa học
công nghệ để thực hiện các mục tiêu lớn về khoa học và công nghệ của đất nước,
do đó việc quản lý và đánh giá các chương trình đóng vai trò rất quan trọng. Đánh
giá chương trình sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách, nhà quản lý biết : Liệu
chương trình có đi đúng hướng không? Chương trình có đem lại hiệu quả mong
đợi không? Những vấn đề nào còn tồn tại trong quá trình thực hiệ
n và điều chỉnh
chúng như thế nào? Kết quả chương trình được đo lường ra sao? Đâu là thành
công, đâu là thất bại? Với lý do như vậy, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê
duyệt và giao cho Trung tâm Hỗ trợ đánh giá khoa học và công nghệ thực hiện đề
án “Nghiên cứu cơ sở khoa học và thực tiễn để xây dựng phương pháp, tiêu chí và
4
quy trình đánh giá các chương trình KH&CN” làm cơ sở xây dựng văn bản quy
V. Phương pháp tiến hành
- Nghiên cứu văn bản pháp luật, tài liệu về đánh giá KH&CN và chương
trình KH&CN của Việt Nam và của nước ngoài;
- Thảo luận nhóm;
- Tham vấn ý kiến chuyên gia;
- Hội thảo khoa học.
VI. Sản phẩm của đề án
Bộ tài liệu “Hướng dẫn đánh giá chương KH&CN” áp dụng đánh giá 4 giai
đoạn : Đánh giá thẩm định (đầu kỳ); Đánh giá giữa kỳ; Đánh giá cuối kỳ và Đ
ánh
giá tác động, gồm những nội dung sau :
- Tiêu chuẩn đánh giá
- Phương pháp đánh giá
- Quy trình đánh giá
- Tiêu chí đánh giá
- Lựa chọn thành viên hội đồng đánh giá
- Các bảng biểu thực hiện đánh giá.
B. NỘI DUNG CHÍNH CỦA ĐỀ ÁN
I. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC VÀ TRONG NƯỚC
1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ngoài nước
Trong hai thập kỷ qua, việc đổi mới công nghiệp dựa trên nền tảng là khoa
học và công nghệ được coi là động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội. Vấn đề này
đã làm cho các nhà hoạch định chính sách nghiên cứu-phát triển (R&D) tại các
nước phát triển và cả các nước đang phát triển phải tìm tòi hướng đi phù hợp nhằm
6
nâng cao hiệu quả và hiệu suất của các chương trình R&D của các quốc gia. Trong
một điều kiện ngân sách cũng như các nguồn lực khác (con người, hạ tầng cho
nghiên cứu) là có hạn, đánh giá trở thành công cụ hữu hiệu và là tiêu chuẩn để xác
định mục đích và kinh phí cho các chương trình R&D.
R&D, các tiêu chí này bộc lộ một số bất cập, chẳng hạn việc đo lường nghiên cứu,
đặc biệt là nghiên cứu cơ bản. Nghiên cứu cơ bản là một quá trình, do đó việc đo
lường kết quả nghiên cứu hàng năm một cách trực tiếp là không thực hiện được, vì
lợi ích của các tri thức mới vốn d
ĩ khó đoán trước. Lợi ích của nghiên cứu cơ bản
cần phải được đo bằng cách theo dõi theo tiến trình lịch sử trong một thời gian dài.
Theo dõi tiền sử sẽ giúp nhận biết một cách rõ ràng qua các phép đo, rằng lợi ích
đối với nước Mỹ trong việc dẫn đầu về nghiên cứu cơ bản là rất cao, chẳng hạn :
an toàn sự sống, phát triển các phát minh, tăng việc làm và phúc lợi. Lịch sử c
ũng
chỉ ra rằng nghiên cứu cơ bản trong khoa học và kỹ thuật đem đến những kết quả
ngoài sự kỳ vọng, hoặc các kết quả có thể xuất hiện sau nhiều năm, thậm chí vài
thập kỷ. Đối với nghiên cứu ứng dụng thì vấn đề có thể đơn giản hơn : nghiên cứu
ứng dụng thường xác định được các mốc thời gian để đạt
được các kết quả và đóng
góp hàng năm cũng như kết quả cuối cùng, do đó có thể đo lường kết quả hàng
năm. Ví dụ, Bộ Năng lượng đã xây dựng chương trình R&D với mục đích là sản
xuất năng lượng mặt trời có giá rẻ hơn, như vậy có thể đo lường kết quả nghiên
cứu cuối cùng một cách trực tiếp căn cứ
vào giá thành của pin mặt trời và kết quả
hàng năm căn cứ vào tiến độ đã xác định.
Để giải quyết các vấn đề về đo lường nghiên cứu khi thực hiện đánh giá các
chương trình R&D, Hội đồng Khoa học, Kỹ thuật và Chính sách công của Mỹ đã
kiến nghị: đối với chương trình nghiên cứu ứng dụng, các tổ chức phải đo lường
tiến bộ theo các k
ết quả thực tế, đối với chương trình nghiên cứu cơ bản, các tổ
chức phải đo lường sự phù hợp, chất lượng và sự dẫn đầu về trình độ nghiên
cứu. Đánh giá của chuyên gia cùng ngành được áp dụng rộng rãi, được sử dụng để
giúp các tổ chức trả lời ba loại câu hỏi cụ thể liên quan đến Luật về Thực hiện và
Kế
9
3. Quản lý chương trình (7 câu hỏi) : 20%
4. Kết quả chương trình (5 câu hỏi) : 50%
Ngoài 25 câu hỏi chính, tùy vào loại hình chương trình sẽ có các câu hỏi bổ
sung liên quan đến đặc tính cụ thể của chương trình. Đối với chương trình R&D,
ngoài 25 câu hỏi chung phải trả lời thêm 3 câu hỏi bổ sung :
1. Nếu được ứng dụng, có thể đánh giá và so sánh về lợi ích và nỗ lực của
chương trình với chương trình có cùng mục tiêu khác không?
2. Chương trình có sử dụng quá trình lự
a chọn ưu tiên khi hướng dẫn kêu gọi
tài trợ và quyết định phân bổ kinh phí không?
3. Đối với những chương trình R&D không tài trợ theo cạnh tranh, việc phân
bổ kinh phí và quá trình quản lý chương trình có đảm bảo duy trì chất lượng của
chương trình không?
Mỗi câu hỏi trong 3 nhóm đầu của PART được trả lời theo dạng Có/Không.
Các câu hỏi ở nhóm 4 (Kết quả chương trình) có thể trả lời Có, Mức độ cao, Mức
độ thấp hoặc Không có.
Đi kèm mỗi câu trả lời phải có sự giải thích tóm tắt bao
gồm cả việc diễn giải các bằng chứng phù hợp để chứng minh cho câu trả lời. Câu
hỏi trong mỗi nhóm được cho trọng số (chấm điểm) bằng nhau, trừ trường hợp
chuyên gia đánh giá thay đổi trọng số để nhấn mạnh vào các nhân tố chính hoặc
quan trọng đối với chương trình.
Cấu trúc của PART được xây d
ựng rõ ràng, mỗi câu trả lời "Có" phải được
làm rõ và phải phản ánh kết quả đạt tiêu chuẩn cao. Câu trả lời đối với mỗi câu hỏi
phải được giải thích rõ ràng và trích dẫn các bằng chứng phù hợp, chẳng hạn như
thông tin hoạt động của tổ chức, các đánh giá độc lập, và thông tin về tài chính.
Các câu trả lời phải dựa vào bằng chứng và không dựa vào cảm tính hoặc những
cái chung chung.
chính sách của Uỷ ban Ngân sách, độc lập với bộ phận quản lý, kết quả đánh giá
phải được chia sẻ với các cơ quan bên ngoài có quan tâm, ví dụ như Uỷ ban Ngân
sách, các Uỷ ban khác của Quốc hội. Phần lớn, khung đánh giá được thiết lập ngay
từ khi chương trình khởi động.
Là một lĩnh vực chuyên ngành, đánh giá chương trình KH&CN trong phạm
vi chính quyền Liên bang trở nên phổ biến vào đầu những năm 80, khoảng 5 nă
m
sau khi đánh giá được thực hiện một cách nề nếp. Chính sách đánh giá đòi hỏi việc
đánh giá phải cung cấp thông tin về ba vấn đề cơ bản liên quan đến các chương
trình, trong đó bao gồm cả chương trình R&D :
• Sự phù hợp của chương trình (liệu chương trình có phù hợp với các ưu tiên
của tổ chức và chính phủ không, có đáp ứng được nhu cầu hiện hành
không?)
• Thành công của chương trình (li
ệu các sáng kiến có đáp ứng được mục tiêu
và đạt kết quả như mong đợi không?)
• Hiệu quả chi phí (liệu chương trình có tập hợp được các thiết kế và cách
thức thực hiện hiệu quả nhất không?)
Ở các tổ chức như Hội đồng Nghiên cứu Khoa học tự nhiên và kỹ thuật, Hội
đồng Tài nguyên và Hội đồng Nghiên cứu Quốc gia Canada, phần lớn các nguồn
lực là dành để
thực hiện các chương trình R&D, do đó năng lực đánh giá KH&CN
chuyên nghiệp đã được phát triển. Đánh giá của chuyên gia cùng ngành (peer
review) là phương pháp được sử dụng phổ biến khi đánh giá chất lượng R&D
trong các tổ chức này từ những năm 60. Các phương pháp đánh giá bổ sung, ví dụ
như các khảo sát về khách hàng, khách hàng tiềm năng và đội ngũ nhân viên bắt
đầu được áp dụng cùng với những nghiên cứu tình huống và phân tích chi phí-lợi
ích.
12
năm 90 việc đánh giá các chương trình R&D mới được bắt đầu, các Bộ ngành tự tổ
chức điều phối thực hiện chương trình R&D do mình quản lý.
Trong vòng 15 năm qua, ngân sách quốc gia của Hàn Quốc dành cho R&D
tăng gấp 10 lần. Với số tiền 8,9% ngân sách chi cho R&D lên đến 8,9 tỷ đôla Mỹ
(năm 2006) và số lượng các chương trình cũng như số các đơn vị tham gia thực
hiện nghiên cứu càng tăng thì yêu cầu bả
o đảm tính hiệu quả và minh bạch trong
việc phân bổ và sử dụng ngân sách R&D của chính phủ được chú trọng đặc biệt.
Yêu cầu đặt ra là phải tiến hành đánh giá quá trình thực hiện các chương trình
R&D. Đánh giá chương trình R&D ở Hàn Quốc được thực hiện hàng năm để kết
luận về tính hợp lý và kết quả thực hiện chương trình trong năm qua, qua đó sẽ có
định hướng tiếp tục đầu t
ư cho chương trình như thế nào trong năm tới, đưa ra
những kiến nghị để cải tiến phương pháp thực hiện chương trình. Ví dụ một
chương trình mà 2 năm liền bị đánh giá là kém thì Hội đồng Khoa học và Công
nghệ Quốc gia - NSTC (cơ quan quyền lực cao nhất về khoa học và công nghệ của
Hàn Quốc) sẽ quyết định dừng chương trình, từ đó Bộ Kế hoạch và Ngân sách
không c
ấp tiền tiếp.
Tháng 5 năm 1997, Chính phủ Hàn Quốc đã ban hành “Luật về cải cách
Khoa học và Công nghệ” và bắt đầu thực hiện công tác “điều tra, phân tích và đánh
giá” các chương trình R&D quốc gia theo tinh thần của Bộ luật trên. Năm 1999,
thành lập Hội đồng Khoa học và Công nghệ Quốc gia - NSTC để chỉ đạo về khoa
học & công nghệ, đặc biệt trong vai trò giám sát điều hành các hoạt động liên quan
đến đánh giá và điều ch
ỉnh trước đối với các chương trình R&D quốc gia có nguồn
vốn từ ngân sách của nhà nước.
Trong các quốc gia thuộc OECD, Hàn Quốc được coi là nước đang tiến
vững chắc trên con đường đến giám sát đánh giá, có mô hình triển khai hoạt động
đánh giá các chương trình R&D đồng bộ và nhất quán. Hệ thống đánh giá chương
- Các viện nghiên cứu cơ bản
- Các viện nghiên cứu công nghệ công
nghiệp
- Các viện nghiên cứu công nghệ phục vụ
công ích
15
Hội đồng KH&CN quốc gia (NSTC) không đánh giá các chương trình:
• Khoa học xã hội & nhân văn, nghiên cứu chính sách
• Chương trình quốc phòng được xếp loại là bí mật
Các chương trình này do các cơ quan khác thực hiện đánh giá.
Để tiết kiệm thời gian và đầu tư vào đánh giá chương trình, Hàn Quốc chỉ
đánh giá những chương trình R&D đáp ứng 2 điều kiện sau:
• Kinh phí trên 10 triệu US$
• Có tầm quan trọng đặc biệt vớ
i chiến lược phát triển KHCN quốc gia
Công tác đánh giá hàng năm các chương trình R&D ở Hàn Quốc được chia
ra làm 3 giai đoạn: a) lập kế hoạch và chuẩn bị; b) đánh giá; c) điều chỉnh và tổng
hợp kết quả đánh giá.
a) Giai đoạn chuẩn bị : (3 tháng)
• Tháng 12
: Lập kế hoạch đánh giá cho năm sau
NSTC với sự trợ giúp của KISTEP và một cơ quan chuyên trách thuộc Bộ
KH&CN lập kế hoạch tổng thể cho công tác đánh giá các chương trình R&D trong
năm tới.
• Cuối tháng 1
: Thông báo kế hoạch đánh giá đến các Bộ ngành liên quan
• Giữa tháng 2
: Thành lập các hội đồng đánh giá
KISTEP thành lập các hội đồng đánh giá dựa vào cơ sở dữ liệu các nhà
2- Hiệu quả quản lý chương trình
3-Kết quả và hiệu quả của chương trình (đầu ra và hiệu quả output &
outcome).
Căn cứ vào bản chất và đặc tính của từng chương trình, các hội đồng sẽ xây
dựng các câu hỏi cụ thể cho từng tiêu chí trên. Ví dụ, câu hỏi đối với tiêu chí "hiệu
quả quản lý chương trình" là :
17
- Kế hoạch triển khai thực hiện các hoạt động cụ thể của chương trình có
được xây dựng một cách hệ thống và có chiến lược không?
- Quy trình thực hiện có nhất quán với kế hoạch thực hiện chương trình
không?
- Chương trình có phối hợp với các bên có liên quan không?
- Kinh phí của chương trình có được phân bổ và sử dụng hiệu quả không?
- Những tồn tại nêu trong kết quả đánh giá và điều chỉ
nh kinh phí trước đây
có được khắc phục/sửa chữa không?
Về xếp hạng chương trình : Hội đồng đánh giá sử dụng phương pháp
"đánh giá tương đối", căn cứ vào phần trăm để chấm điểm và xếp hạng chương
trình. Việc xếp hạng được phân thành 3 hoặc 5 mức, cụ thể :
- 5 mức : A (cao nhất, số điểm > 90%); B (từ 70 - 90%), C (từ 30-70%), D
(t
ừ 10-30%) và E (dưới 10%).
- 3 mức : Xuất sắc (> 70%); Trung bình (30 - 70%); Kém (< 30%).
Ở bước này, mỗi hội đồng sẽ thảo luận về các chương trình do hội đồng
mình đảm nhận đánh giá, điền các ý kiến đánh giá vào phiếu (trả lời các câu hỏi
trong từng tiêu chí đánh giá), thống nhất xếp hạng chương trình theo 3/5 mức.
• Tổng hợp kết quả đánh giá của 10 hội đồng
Hội đồng đánh giá t
ổng hợp họp để xem xét và thông qua kết quả đánh giá
ại, Hàn Quốc vẫn luôn tìm cách cải tiến hệ thống đánh giá khoa học và
công nghệ của mình, học tập kinh nghiệm của các nước phát triển, tham gia hiệp
hội đánh giá nghiên cứu của thế giới (WREN=World Research Evaluation
Network)… nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động đánh giá nói chung và đánh giá
chương trình R&D nối riêng.
1.4 Trung Quốc
Năm 1994, Bộ Khoa học và Công nghệ Trung Quốc đã thành lập Trung tâm
Đánh giá khoa học và công nghệ Quốc gia (NCSTE). Trung tâm đóng vai trò quan
trọng trong việc cung cấp nội dung và đánh giá khách quan nhằm giúp các cơ quan
19
nhà nước, các công ty và các tổ chức đầu tư ra quyết định liên quan đến việc phát
triển khoa học và công nghệ. Một trong những nhiệm vụ chính của Trung tâm là
đánh giá các đề tài, chương trình khoa học và công nghệ do Chính phủ tài trợ, bao
gồm đánh giá thẩm định, đánh giá giữa kỳ và đánh giá kết thúc. Trung tâm Đánh
giá khoa học và công nghệ quốc gia Trung Quốc đã xây dựng bộ “Tiêu chuẩn để
đánh giá KH&CN”, bộ Tiêu chuẩn được ban hành năm 2001, theo 3 cấ
p độ. Cấp
độ đầu tiên là tiêu chuẩn cơ bản, bao gồm các nguyên tắc chính, quy tắc đạo đức và
các thuật ngữ về đánh giá KH&CN. Cấp độ thứ hai là các tiêu chuẩn kỹ thuật, bao
gồm các quy trình, nghĩa vụ và quyền hạn chính của các bên liên quan trong đánh
giá. Cấp độ thứ ba, bao gồm các cam kết đối với tiêu chuẩn, như làm thế nào để
duy trì tính độc lập, khách quan và công bằng. Tiêu chí đánh giá theo bộ Tiêu
chuẩn như sau :
•
Tiêu chí về chính sách : Các hoạt động R&D có chú ý đến chính sách phát
triển của quốc gia không?
• Tiêu chí mục tiêu : Chương trình có phù hợp với mục tiêu R&D không?
• Tiêu chí kết quả : Các đầu ra/kết quả có theo đúng mục tiêu không?
chuẩn bị trước; (3) Khuyến khích m
ọi người trao đổi với các quan điểm khác nhau;
(4) Thảo luận kết quả, cả đồng thuận hoặc khác biệt, phải có Biên bản hội nghị.
Những nguyên tắc này phải được thông báo trước cho tất cả những người tham dự.
Kết quả đánh giá cho thấy, chương trình 863 đã huy động được thế mạnh
trong giới khoa học Trung Quốc, do đó hình thành nên được đội ngũ nghiên cứu
phát triển công ngh
ệ cao ở tầm quốc gia, tuy nhiên mới chỉ có các viện trong khu
vực công và trường đại học tham gia là chủ yếu, khu vực doanh nghiệp tham gia
21
với mức độ rất thấp (chiếm 5%), lực lượng tham gia chủ yếu tập trung ở Bắc Kinh
và Thượng Hải. Chương trình 863 đã đào tạo được một số lượng lớn các nhà khoa
học công nghệ cao có năng lực, do đó đã xây dựng được đội ngũ cán bộ cốt lõi cho
công tác nghiên cứu phát triển công nghệ cao của đất nước, đã thúc đẩy sự hợp tác
và trao đổi quốc t
ế về công nghệ cao của Trung Quốc.
Điểm đặc biệt khi đánh giá chương trình 863 là đã tổ chức cho các nhà
nghiên cứu sau tiến sĩ đưa ra các đề xuất cho việc đánh giá chương trình để nhằm
thấy được quan điểm và dự báo của họ là gì đối với sự phát triển công nghệ cao ở
Trung Quốc từ góc độ của các nhà khoa học trẻ. Các điều tra khảo sát cho thấy
chươ
ng trình 863 có ảnh hưởng khá đáng kể đối với nhóm sau tiến sĩ, họ thể hiện
mong muốn mạnh mẽ rằng chính phủ sẽ tạo điều kiện để những nhà khoa học trẻ
và trung niên có thể đóng vai trò lớn hơn trong các chương trình R&D, tức là họ
không chỉ đảm đương công tác nghiên cứu công nghệ cụ thể mà còn tham gia vào
việc lựa chọn dự án và nghiên cứu chiến lược.
Qua kết quả
đánh giá, chính phủ cũng thấy cần phải cải tiến hơn nữa để mở
rộng sự tham gia của các doanh nghiệp trong các kế hoạch công nghệ cao của
- Hai hình thức trên có điểm mạnh và yếu của chúng. Nếu có thể phối hợp
lại thì chúng s
ẽ bổ xung cho nhau. Loại hình thứ ba là một tổ chức bao gồm cả
trong và ngoài chính phủ (the united group of inside and outside government)
chuyên trách. Loại hình này có nhiều ưu điểm nên ngày càng được nhiều quốc gia
lựa chọn.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu trong nước
Trong những năm gần đây, nhận thức được tầm quan trọng của việc đánh giá
trong hệ thống quản lý KH&CN, Bộ Khoa học và Công nghệ đã phê duyệt một số
nhiệm vụ
nhằm nâng cao nhận thức, năng lực về đánh giá KH&CN và góp phần hỗ
23
trợ cho việc xây dựng chính sách KH&CN, nâng cao năng lực nghiên cứu. Ví dụ
các dự án sau:
2.1 Dự án VISION
“Đánh giá hệ thống khoa học và công nghệ của Việt
Nam”do Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách KH&CN phối hợp với các
chuyên gia Viện Nghiên cứu Hệ thống sản xuất và Công nghệ thiết kế Fraunhofer
(Fraunhofer Institute for Production Systems and Design Technology - IPK) thực
hiện năm 2004-2005. Mục tiêu của dự án là phân tích và đánh giá hệ thống
KH&CN với việc xem xét mục tiêu ngắn hạn, trung hạn và dài hạn của hệ thống.
Dự án thực hiện ba nội dung chính : 1) Phân tích nhu cầ
u của khu vực công nghiệp
đối với khoa học và công nghệ; 2) Đánh giá kết quả hoạt động KH&CN hiện tại -
đánh giá kết quả hoạt động của các tổ chức nghiên cứu trong các trường đại học và
không thuộc đại học; 3) Đề xuất nguyên tắc thiết kế để cấu trúc lại hệ thống
KH&CN.
2.2 Nhiệm vụ KH&CN theo Nghị định thư “Xây dựng phương pháp, tiêu chí
đánh giá chương trình, đề tài khoa học và công nghệ tại Việt Nam” do Viện Ứng
của Việt Nam
Qua nghiên cứu hoạt động đánh giá chương trình KH&CN của một số nước
và thực tiễn về đánh giá chương trình KH&CN của Việt Nam, có thể rút ra một số
bài học áp dụng cho Việt Nam trong bối cả
nh hiện nay như sau :
- Với quy mô đầu tư cho các chương trình KH&CN, trình độ quản lý
KH&CN của nước ta như hiện nay, bước đầu nên tập trung vào đánh giá thử một
số chương trình KH&CN có ý nghĩa quan trong đối với sự phát triển KH&CN và
kinh tế-xã hội (chương trình nghiên cứu về nông nghiệp, nông thôn, nghiên cứu
phát triển các ngành công nghiệp chủ chốt, nghiên cứu cơ bản );
- Mục đích của việc đánh giá nên hướng vào việc hỗ tr
ợ quá trình ra quyết
định và quản lý nhằm rút bài học kinh nghiệm và nâng cao hiệu quả cho các
25
chương trình KH&CN trong thời gian tới, chưa nên thực hiện đánh giá hiệu quả và
tác động của các chương trình;
- Vì năng lực và kinh nghiệm đánh giá còn hạn chế, hệ thống quản lý thông
tin KH&CN còn chưa phát triển đồng bộ và chưa minh bạch, đề nghị thực hiện
đánh giá theo phương pháp, tiêu chí phù hợp, dễ áp dụng (chẳng hạn áp dụng theo
cách thực hiện của Trung Quốc và Hàn Quốc) và mời chuyên gia nước ngoài,
chuyên gia Việt Nam ở
nước ngoài tham gia thực hiện để học hỏi và nâng cao năng
lực trong quá trình thực hành;
- Tổng kết kinh nghiệm và bài học sau khi thực hiện đánh giá thử, xây dựng
mô hình đánh giá chương trình KH&CN áp dụng thống nhất trong cả nước.
II. NHỮNG NỘI DUNG ĐÃ THỰC HIỆN
Xây dựng “Hướng dẫn đánh giá chương trình khoa học và công nghệ” bao
gồm những nội dung sau : (Xem phụ lục đính kèm báo cáo)
1. Giải thích từ ngữ