Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo tại các trường đại học - Pdf 26

ii
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập kinh tế quốc tế đã, đang và sẽ ngày càng trở nên một nhu cầu
tất yếu và cần thiết của Việt Nam. Gia nhập Hiệp hội các quốc gia Đông Nam
Á (ASEAN) năm 1995, ký kết và phê chuẩn Hiệp định Thương mại Việt
Nam- Hoa Kỳ (BTA) năm 2000, ký kết và phê chuẩn các Hiệp định thương
mại đầu tư với nhiều quốc gia là một số ví dụ điển hình về các hoạt động hội
nhập tích cực của Việt Nam. Gần đây nhất là việc Việt Nam trở thành thành
viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Trở thành thành
viên của tổ chức này đồng nghĩa với việc Việt Nam phải tham gia tất cả các
hiệp định đa biên của WTO, trong đó có Hiệp định về các khía cạnh liên quan
tới thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt là Hiệp định TRIPS).
Quyền sở hữu trí tuệ lần đầu tiên được bàn tới trong chương trình nghị
sự của Hiệp định chung về Thương mại và Thuế quan (GATT) tại Vòng đàm
phán về hàng giả ở Tokyo năm 1978. Tuy nhiên phải đến Vòng đàm phán
Urugoay của GATT (1986-1994), quyền sở hữu trí tuệ mới thực sự trở thành
đối tượng thuộc phạm vi điều chỉnh của GATT và với việc thông qua Hiệp
định TRIPS, quyền sở hữu trí tuệ trở thành đối tượng điều chỉnh của WTO.
Tại các nước phát triển, nơi có nền kinh tế tri thức, thương mại điện tử và
khoa học công nghệ ở trình độ cao, vai trò của bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
được nhìn nhận và đánh giá đúng giá trị đích thực của nó. Tuy nhiên, tại các
nước đang phát triển và đặc biệt là chậm phát triển thì quyền sở hữu trí tuệ
đang bị vi phạm nghiêm trọng. Các sản phẩm sao chép, bắt chước được bán
với giá thấp hơn rất nhiều so với các sản phẩm hợp pháp. Kết quả là nhà sản
xuất chân chính không có khả năng thu hồi vốn và lợi nhuận cần thiết để tiếp
tục tồn tại, tiếp tục nghiên cứu và tiếp tục sáng tạo.
ii
Việt Nam không nằm ngoài hiện tượng trên. Là một nước đang phát
triển, đang trong quá trình chuyển đổi, Việt Nam đang phải đối mặt với nạn
hàng giả, hàng nhái tràn lan. Bản thân các doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa

- Jorge A. Z. Bermudez và Maria Auxiliadora Oliveira, Rio de Janeiro
(2004), Sở hữu trí tuệ trong bối cảnh WTO/TRIPS : thách thức với sức khoẻ
cộng đồng.
- Hansen, Hugh (2004), Sở hữu trí tuệ : Khó khăn về đạo đức, pháp
luật, Ohio State University.
- Tổ chức Sở hữu trí tuệ Thế giới (2001), Cẩm nang sở hữu trí tuệ :
Chính sách, pháp luật và áp dụng.
- Liên minh sở hữu trí tuệ quốc tế (International Interlectual Property
Alliance- IIPA) (2005-2007), Báo cáo tình hình vi phạm sở hữu trí tuệ ở Việt
Nam.
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu về xây dựng hệ thống
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ phù hợp với hiệp định TRIPS.
2.2. Ở Việt Nam
Ở Việt Nam cũng có những công trình đáng chú ý sau :
- Trần Hồng Minh (2006), So sánh hệ thống pháp luật về sở hữu trí tuệ
của Việt Nam theo Hiệp định TRIPS- WTO, đề tài nghiên cứu khoa học cấp
Bộ.
- Đinh Thị Mai Phương (2004), Cẩm nang pháp luật về sở hữu trí tuệ
ii
và chuyển giao công nghệ (Dùng cho doanh nghiệp, doanh nhân), Nxb Chính
trị Quốc gia.
- Nguyễn Thị Quế Anh (2005), Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện các
quy định về xác lập quyền sở hữu công nghiệp, Tạp chí Dân chủ và pháp luật
số tháng 3.
- Đoàn Năng (2005), Thực trạng pháp luật về sở hữu trí tuệ ở Việt nam,
Tạp chí Dân chủ và Pháp luật số tháng 3.
- Trần Lê Hồng (2007), Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn để đưa
sở hữu trí tuệ vào giảng dạy và đào tạo tại các trường đại học, đề án Nghiên
cứu Khoa học cấp Bộ.
Các công trình xuất bản ở nước ngoài nêu trên chỉ tập trung khai thác

- Nêu rõ sự cần thiết khách quan phải xây dựng hệ thống bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ phù hợp với hiệp định TRIPS.
- Phân tích thực trạng bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam hiện nay
và nêu bật những bất cập, nguyên nhân cũng như thực trạng xây dựng hệ
thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam, đặc biệt trong khoảng thời
gian 2 năm kể từ khi Việt Nam trở thành thành viên của WTO và phải thực thi
các cam kết theo yêu cầu của Hiệp định TRIPS.
- Chỉ ra các điểm chưa tương thích giữa hệ thống bảo hộ quyền sở hữu
trí tuệ ở Việt Nam so với các yêu cầu của Hiệp định TRIPS.
- Đề xuất các giải pháp cụ thể về xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở
ii
hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp với các quy định của Hiệp định TRIPS
nhằm tạo thuận lợi để Việt Nam thực hiện tốt các cam kết quốc tế của mình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận án bao gồm những vấn đề liên quan
đến sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hệ
thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Đối tượng nghiên cứu của Luận án còn bao
gồm những quy định của Hiệp định TRIPS, của Việt Nam về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ và xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Ngoài ra, để
hoàn thành luận án, việc phân tích kinh nghiệm của một số nước về xây dựng
hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng là đối tượng nghiên cứu của luận
án.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về mặt nội dung, phạm vi nghiên cứu của Luận án giới hạn ở việc
phân tích các quy định trong pháp luật Việt Nam và của Hiệp định TRIPS về
quyền sở hữu trí tuệ, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ và hệ thống bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ.
Hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là một khái niệm rất rộng và phức
tạp với ý nghĩa là tập hợp các bộ phận có mối quan hệ hữu cơ với nhau. Trong

- Luận án đã đánh giá một cách khách quan thực trạng bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ và thực trạng xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở Việt
ii
Nam.
- Đề xuất phương hướng và các giải pháp cụ thể về xây dựng hệ thống
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ hữu hiệu ở Việt Nam phù hợp với các quy định
của Hiệp định TRIPS.
7. Bố cục của luận án
Ngoài lời nói đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các bảng biểu,
nội dung của Luận ánđược phân bổ thành ba chương, cụ thể:
Chương 1: Cơ sở khoa học của việc xây dựng hệ thống bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ phù hợp với Hiệp định TRIPS.
Chương 2: Thực trạng xây dựng hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở
Việt Nam.
Chương 3: Phương hướng và giải pháp xây dựng hệ thống bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ ở Việt Nam phù hợp với Hiệp định TRIPS.

ii
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VIỆC XÂY DỰNG HỆ THỐNG BẢO HỘ
QUYỀN SỞ HỮU TRÍ TUỆ PHÙ HỢP VỚI HIỆP ĐỊNH TRIPS
1.1. Sở hữu trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ và bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ
1.1.1. Sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ
Sở hữu trí tuệ là một thuật ngữ được cấu tạo bởi hai cụm từ là cụm từ
“sở hữu” và cụm từ “trí tuệ”. Muốn hiểu rõ khái niệm này, cần phải tìm hiểu
nghĩa cả hai cụm từ “sở hữu” và “trí tuệ”.
“Sở hữu” là khái niệm dùng để chỉ sự chiếm hữu của con người đối với
tài sản. Sự chiếm hữu như vậy xuất hiện trong quá trình con người lao động
sản xuất ra của cải vật chất cho xã hội. Trong quá trình lao động sản xuất này,
con người đã tham gia vào các mối quan hệ xã hội- quan hệ sản xuất, đồng

Một người đầu tư công sức, tiền bạc để viết một cuốn sách nhưng sau
khi công bố thì thông tin trong cuốn sách trở thành của chung và ai cũng có
thể sử dụng và hưởng thụ thông tin đó. Như vậy, từ giác độ kinh tế, nếu
không có một cơ chế hoàn trả chi phí thì sẽ không thể khuyến khích các chủ
thể sáng tạo, càng không thể phát triển nền kinh tế dựa trên tri thức. Vì thế,
chính sách và pháp luật phải được ban hành để bảo hộ tài sản trí tuệ nhằm xác
lập, thừa nhận, củng cố quyền sở hữu trí tuệ, tạo điều kiện cho tài sản trí tuệ
phát triển và đóng góp vào sự tăng trưởng kinh tế của đất nước.
Quyền sở hữu trí tuệ là tập hợp các quy phạm pháp luật được ban
hành nhằm xác lập, ghi nhận, củng cố và bảo vệ các quan hệ sở hữu trí tuệ
trong xã hội. Theo từ điển tiếng Việt năm 2008, khái niệm quyền sở hữu trí
tuệ được hiểu là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ” [46,
ii
tr.1076]. Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam năm 2005 quy định rằng quyền sở hữu
trí tuệ là “quyền của tổ chức, cá nhân đối với tài sản trí tuệ, bao gồm quyền
tác giả và quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và
quyền đối với giống cây trồng.” (Điều 4, khoản 1 Luật Sở hữu trí tuệ năm
2005). Quyền sở hữu công nghiệp được hiểu (tại điều 4 khoản 4 Luật này) là
quyền đối với sáng chế, kiểu dáng công nghiệp, thiết kế bố trí mạch tích hợp
bán dẫn, bí mật kinh doanh, nhãn hiệu, tên thương mại và chỉ dẫn địa lý.
Pháp luật nhiều nước không định nghĩa thế nào là quyền sở hữu trí tuệ
mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ.
.
Ví dụ, Bộ luật Sở hữu
trí tuệ năm 2003 của Pháp không nêu khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ mà
chỉ liệt kê những đối tượng thuộc sự điều chỉnh của Bộ luật này, đó là quyền
tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền đối với giống cây trồng mới tại
điều L111-1, L412-1, L511-1, L611-2 [63]. Theo đó, quyền sở hữu công
nghiệp gồm quyền đối với phát minh, sáng chế, nhãn hiệu hàng hoá, kiểu
dáng công nghiệp và bí quyết công nghệ.

hiểu “là các quyền hợp pháp xuất phát từ hoạt động trí tuệ trong các lĩnh vực
công nghiệp, khoa học, văn học và nghệ thuật” [47, tr.3].
Từ phân tích nêu trên, có thể rút ra những nhận xét sau:
- Pháp luật quốc tế và pháp luật nhiều nước không đưa ra một khái
niệm về quyền sở hữu trí tuệ mà chỉ liệt kê các đối tượng của quyền sở hữu trí
tuệ. Nói cách khác, khái niệm về sở hữu trí tuệ và quyền sở hữu trí tuệ là
những vấn đề còn bỏ ngỏ, chưa được giới luật gia các nước đầu tư nghiên cứu
và xây dựng.
- Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ, theo quy định của pháp luật
các nước mặc dù có những điểm khác nhau nhưng về cơ bản đều có điểm
ii
chung là đều quy định về quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng.
- Đối tượng được bảo hộ trong quyền sở hữu công nghiệp có thể được
mở rộng hoặc thu hẹp tuỳ theo cách quy định của từng nước. Ví dụ như quyền
sở hữu công nghiệp ở Hoa Kỳ và Nhật không bao gồm chỉ dẫn địa lý trong
khi đây lại là đối tượng của quyền sở hữu công nghiệp theo Hiệp định
TRIPS, WIPO, Việt Nam, v.v.
Trên cơ sở nhận xét ở trên, tác giả Luận án cố gắng phân tích để làm rõ
hơn khái niệm về quyền sở hữu trí tuệ. Quyền sở hữu trí tuệ là quyền chiếm
hữu, sử dụng và định đoạt các tài sản trí tuệ. Không phải mọi tài sản trí tuệ
đều được nhà nước ghi nhận và bảo hộ. Pháp luật các nước đều liệt kê các tài
sản trí tuệ mà các chủ thể có quyền sở hữu. Luận án chọn cách liệt kê của
Hiệp định TRIPS về các tài sản trí tuệ được bảo hộ để nghiên cứu, theo đó
quyền sở hữu trí tuệ gồm quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng. Quyền sở hữu công nghiệp gồm quyền đối với nhãn
hiệu hàng hoá, chỉ dẫn địa lý, kiểu dáng công nghiệp, patent (bằng phát
minh), thiết kế bố trí mạch tích hợp, bảo hộ thông tin bí mật và khống chế các
hoạt động chống cạnh tranh trong các hợp đồng li- xăng.
Quyền sở hữu trí tuệ có những đặc điểm sau:

- Quyền sở hữu trí tuệ không mang tính tuyệt đối và vô thời hạn như
quyền sở hữu các tài sản hữu hình. Một bài thơ hay, một bức tranh đẹp không
nên chỉ dành cho một người hay một nhóm người chiêm ngưỡng mà phải
được chia sẻ với xã hội, tức là mang lại phúc lợi cho toàn bộ xã hội. Vì thế,
quyền sở hữu trí tuệ luôn luôn bị giới hạn bởi lợi ích cộng đồng. Do đó tác
giả, chủ sở hữu một tác phẩm không thể có độc quyền chiếm hữu, sử dụng và
ii
định đoạt vô thời hạn đối với tác phẩm. Độc quyền này chỉ được tồn tại trong
một thời hạn nhất định, ví dụ, ở Việt Nam, độc quyền sử dụng một cuốn sách
chỉ tồn tại trong khoảng thời gian là cuộc đời của tác giả và 50 năm sau khi
tác giả qua đời. Hoặc như quyền đối với bằng phát minh sáng chế, bên cạnh
giới hạn về thời gian (ví dụ 20 năm ở Việt Nam) còn có giới hạn về điều kiện
sử dụng (như li- xăng bắt buộc ở Việt Nam trong trường hợp bảo đảm mục
tiêu an ninh, quốc phòng, dân sinh và các lợi ích khác của Nhà nước và xã
hội).
- Cùng với sự phát triển của nền kinh tế và thương mại hiện đại, ngày
nay vai trò của tri thức, của tài sản trí tuệ ngày càng được khẳng định. Giá trị
kinh tế và khả năng sinh lợi của tài sản trí tuệ đã dẫn đến một thực tế ngày
càng trở nên hiện hữu. Đó là tài sản trí tuệ cũng mang tính thương mại và vì
vậy, pháp luật phải có cách tiếp cận mới đối với quyền sở hữu trí tuệ: tính
thương mại của quyền sở hữu trí tuệ.
- Quyền sở hữu trí tuệ dễ bị xâm phạm hơn bất kỳ quyền sở hữu tài sản
hữu hình nào. Những sản phẩm sáng tạo của trí tuệ một khi đã được bộc lộ
công khai sẽ dễ dàng được phổ biến và bị khai thác giá trị kinh tế thông qua
hệ thống thông tin của một quốc gia, của một khu vực, của các tổ chức quốc
tế. Việc xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng phát triển và đã vượt ra
ngoài phạm vi quốc gia, ngoài khả năng kiểm soát của chủ sở hữu và quan
trọng hơn cả là khó có thể ngăn chặn nếu không có những cơ chế bảo hộ hữu
hiệu. Quyền sở hữu trí tuệ được ghi nhận và bảo hộ ở một quốc gia thì không
có nghĩa là sẽ được bảo hộ ở các quốc gia khác. Việc xâm phạm có thể diễn ra

dựng pháp luật nhằm xác lập quyền sở hữu của sở hữu chủ đối với tài sản trí
ii
tuệ và phương diện thứ hai là thực thi pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí
tuệ.
- Chủ sở hữu, trên cơ sở các quy phạm pháp luật về bảo hộ quyền sở
hữu trí tuệ do Nhà nước ban hành, thực hiện các thủ tục cần thiết để xác lập
quyền sở hữu đối với tài sản trí tuệ của mình. Ngoài ra, khi các quyền và lợi
ích hợp pháp bị xâm phạm, chủ sở hữu phải có biện pháp tự bảo vệ và yêu cầu
pháp luật bảo vệ.
- Quyền sở hữu trí tuệ chỉ có thể được bảo hộ một cách hữu hiệu khi có
sự tham gia bảo hộ của cả cộng đồng xã hội. Cộng đồng xã hội bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ thể hiện qua sự tôn trọng quyền sở hữu trí tuệ của chủ sở hữu và
tích cực tuân thủ pháp luật về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ. Tiêu chí để đo
lường cụ thể về hoạt động bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng xã hội
là tỷ lệ vi phạm quyền sở hữu trí tuệ. Tỷ lệ này càng thấp thì hoạt động bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ của cộng đồng xã hội càng hiệu quả.
Như vậy, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tất cả những biện pháp được áp
dụng nhằm bảo đảm cho các chủ sở hữu của tài sản trí tuệ- những người sáng
tạo ra tài sản trí tuệ- có thể khai thác lợi ích thiết thực từ những tài sản do họ
sáng tạo ra. Nếu phân tích từ góc độ dân sự, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là
xác lập, củng cố và bảo vệ quyền sở hữu (gồm quyền chiếm hữu, quyền sử
dụng và quyền định đoạt) của các chủ sở hữu đối với tài sản trí tuệ. Xác lập
quyền sở hữu trí tuệ là xác nhận về mặt pháp lý rằng một người sáng tác, một
nhà viết kịch, một nhà sáng chế là chủ sở hữu của sáng tác, của kịch bản đó.
Khi là chủ sở hữu của những tài sản này, họ có quyền thủ đắc, có quyền sử
dụng, có quyền bán, tặng, cho
Nếu phân tích từ góc độ kinh tế và cụ thể hơn là từ góc độ thương mại,
bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ là tất cả các biện pháp được áp dụng nhằm đảm
bảo cho các chủ sở hữu của các tài sản trí tuệ có thể khai thác giá trị kinh tế,
ii

quan đến cách thể hiện của suy nghĩ. Việc thể hiện không nhất thiết phải mới
nhưng nhất thiết không phải là sự sao chép. Các quốc gia khác nhau sẽ đòi hỏi
mức độ của tính mới khác nhau. Australia và Anh quy định tính mới ở mức
độ thấp, theo đó, ngay cả danh mục các con số in sẵn dành cho trò chơi
“Bingo” hay danh mục liệt kê tên và vị trí các con ngựa đua cũng được bảo hộ
như tác phẩm [79, tr. 603-604]. Với những quốc gia này, một tác phẩm có nội
dung không có chất lượng, không có giá trị thực tiễn và thẩm mỹ nhưng nếu
nó được tác giả sáng tạo ra một cách độc lập, không sao chép đã thoả mãn yêu
cầu về tính mới. Trong khi đó, Hoa Kỳ lại đòi hỏi tính mới ở mức độ cao hơn,
thể hiện ở sự nỗ lực sáng tạo của tác giả, theo đó thì người liệt kê các số điện
thoại trong quyển niêm giám điện thoại dù có “ý đồ sáng tạo” cũng không thể
được coi là có quyền tác giả đối với quyển niêm giám điện thoại đó [45,
tr.47]. Đức thậm chí còn đòi hỏi cao hơn, đó là tính mới phải bảo đảm “một
sáng tạo trí tuệ mang dấu ấn cá nhân”.
Quyền tác giả bao gồm quyền tài sản và quyền nhân thân. Ý tưởng của
tác giả được toát ra từ tác phẩm, siêu hình, không thể chiếm hữu, nắm bắt và
xác định ở dạng vật chất. Vì vậy, như đã trình bày ở trên, những quyền này
thuộc về tác giả của tác phẩm ở bất kỳ hình thức vật chất nào, như tác phẩm
văn học, nghệ thuật, âm nhạc hay hội hoạ; tác phẩm âm thanh; phim, chương
trình phát thanh và TV; và (ở một số nước như Việt Nam, Australia, Anh,
Hoa Kỳ) là các chương trình phần mềm máy tính. Chủ sở hữu quyền tác giả
không thể ngăn người khác sử dụng ý tưởng hay kiến thức trong tác phẩm của
mình; chủ sở hữu quyền chỉ có thể hạn chế việc sử dụng chính tác phẩm.
ii
Quyền tài sản là quyền của tác giả được nhà nước thừa nhận trong việc
khai thác tác phẩm để thu được lợi ích kinh tế. Thường có hai cách để thu lợi
ích kinh tế từ tác phẩm. Một là qua các kênh trung gian (tức là tác phẩm được
in và phân phối qua các cửa hàng sách, cửa hàng bán đĩa nhạc, v.v.) và hai là
qua kênh giải trí (tức là tác phẩm được trình chiếu ở nhà hát, buổi hoà nhạc,
phòng triển lãm tranh, v.v.). Nội dung này được ghi nhận ở Điều 15 Luật Bản

tới công chúng.
Với sự phát triển nhanh chóng của công nghệ, buổi biểu diễn của các
nghệ sỹ sẽ không chấm dứt cùng với vở diễn mà sẽ lưu truyền với đĩa hát,
radio, phim ảnh, v.v. Công nghệ giúp cho khả năng tái hiện buổi biểu diễn
được dễ dàng, lặp đi lặp lại với số lần không hạn chế và cho một số lượng
khán giả không hạn chế, vượt ra ngoài biên giới quốc gia và không nhất thiết
phải thoả thuận với người biểu diễn. Do đó, vấn đề bảo hộ các quyền liên
quan ngày càng trở nên cấp thiết cùng với sự ra đời và phát triển các ngành
công nghiệp sao chép.
Pháp luật các nước khác nhau có các quy định khác nhau về nội dung
của các quyền liên quan. Tuy nhiên, điểm chung mà pháp luật các nước
thường gặp nhau là: quyền của người biểu diễn đối với việc thu, ghi, định
hình, phát sóng trực tiếp hay truyền tới công chúng buổi biểu diễn của họ,
quyền của các nhà sản xuất chương trình ghi âm đối với việc sử dụng các
chương trình của họ và nhập khẩu, phân phối các phiên bản chương trình,
quyền của các tổ chức phát thanh truyền hình đối với việc phát lại, định hình
và làm bản sao chương trình phát thanh truyền hình của họ.
Quyền tác giả và các quyền liên quan cũng mang đặc điểm chung của
quyền sở hữu trí tuệ về tính tương đối. Chủ sở hữu quyền tác giả không có
ii
quyền tuyệt đối đối với tác phẩm của mình. Họ chỉ có quyền trong một
khoảng thời gian nhất định, kéo dài từ lúc tác phẩm được sáng tạo ra cho đến
một giai đoạn sau khi tác giả qua đời. Ngoài ra, họ cũng chỉ có quyền sở hữu
tại quốc gia bảo hộ mà thôi trừ phi quốc gia này là thành viên của những điều
ước quốc tế về quyền tác giả. Trong một số trường hợp, xã hội có thể sử dụng
tác phẩm mà không cần xin phép chủ sở hữu. Ví dụ việc sử dụng tác phẩm
không nhằm mục đích thương mại mà nhằm mục đích chính đáng như nghiên
cứu, học tập, giáo dục, hoặc chỉ nhằm mục đích sử dụng cá nhân.
1.1.3.2. Quyền sở hữu công nghiệp
- Nhãn hiệu hàng hoá

xuất hàng hoá, cách thức cung cấp dịch vụ, chất lượng, độ chính xác, độ an
toàn hoặc các đặc tính khác của hàng hoá, dịch vụ mang nhãn hiệu.
Nhãn hiệu liên kết là các nhãn hiệu do cùng một chủ thể đăng ký, trùng
hoặc tương tự nhau dùng cho sản phẩm, dịch vụ cùng loại hoặc tương tự nhau
hoặc có liên quan với nhau.
Nhãn hiệu hàng hoá được bảo hộ trên cơ sở việc sử dụng hoặc đăng ký.
Việc sử dụng giữ vai trò quan trọng trước hết tại các nước mà việc bảo hộ
nhãn hiệu hàng hoá có truyền thống căn cứ vào việc sử dụng như Anh,
Australia, còn việc đăng ký nhãn hiệu chỉ nhằm khẳng định quyền đối với
nhãn hiệu hàng hoá đã có được thông qua sử dụng. Do đó, ở những nước này,
người sử dụng đầu tiên sẽ được ưu tiên trong các vụ tranh chấp về nhãn hiệu
hàng hoá chứ không phải là người đầu tiên đăng ký nhãn hiệu hàng hoá. Vụ
tranh chấp giữa nguyên đơn là công ty Targetts Pty Ltd và bị đơn là công ty
Target Australia Pty Ltd vào năm 1993 là một ví dụ điển hình. Công ty
ii
Targetts Pty Ltd sử dụng nhãn hiệu hàng hoá được đăng ký là từ “Target” và
hình một cái mỏ neo. Công ty Target Australia Pty Ltd cũng sử dụng nhãn
hiệu tương tự nhiều năm trước khi công ty Targetts Pty Ltd đăng ký nhãn hiệu
trên. Tuy nhiên, nhãn hiệu của Target Australia Pty Ltd chưa được đăng ký.
Toà án liên bang (Federal Court) của Australia đã quyết định quyền ưu tiên sử
dụng sẽ thuộc về công ty Target Australia Pty Ltd và công ty Targetts Pty Ltd
chỉ được sử dụng nhãn hiệu này ở khu vực địa lý cách trụ sở của công ty
Target Australia Pty Ltd 30 km [79, tr. 622].
- Chỉ dẫn địa lý
“Champagne”, “Chianti”, “Tequila” là những địa danh nổi tiếng ở
Pháp, Ý và Mehico. Nhưng khi nhắc đến chúng, người ta lại liên tưởng ngay
“Champagne” với rượu vang nổ, “Chianti” với rượu vang đỏ và “Tequila” với
loại rượu mạnh. Đây chỉ là một số ít các ví dụ về những địa danh nổi tiếng
làm người ta nghĩ ngay đến những sản phẩm tự nhiên và có chất lượng cao
trên thế giới. Điều đó có nghĩa là chúng có thể là tài sản thương mại có giá trị.

trình công nghiệp hoá và sự ra đời của phương thức sản xuất hàng loạt. Tại
Anh, lần đầu tiên kiểu dáng in vải bông, vải lanh, vải in hoa và vải muslin
được bảo hộ với danh nghĩa kiểu dáng công nghiệp vào năm 1787. Ở Pháp,
bảo hộ kiểu dáng công nghiệp ra đời nhờ sự phát triển của ngành công nghiệp
dệt [471, tr. 111-112].
Muốn được đăng ký bảo hộ, một kiểu dáng phải nhìn thấy được. Kiểu
dáng công nghiệp chỉ đề cập đến hình dáng bên ngoài của sản phẩm mà
không đề cập đến chức năng của nó, hình dáng bên ngoài chỉ có thể lôi cuốn
người mua sản phẩm và thúc đẩy nhu cầu mua nếu nó được nhìn thấy thực sự.
Do đó, yêu cầu về thị giác là một trong những điều kiện bảo hộ. Ví dụ, kiểu

Trích đoạn Đánh giá mức độ phù hợp của hệ thống bảo hộ quyềnsở hữu trí tuệ ở Phương hướng xây dựng
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status