Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Trường đại học lâm nghiệp
đỗ văn nhân
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại
rừng tại huyện mang yang - tỉnh gia lai
chuyên ngành: lâm học
mã số: 60.62.60.
luận văn thạc sỹ khoa học lâm nghiệp
Hà tây - 2007
Bộ giáo dục và đào tạo
bộ nông nghiệp và ptnt
Trường đại học lâm nghiệp
đỗ văn nhân
nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn quy hoạch 3 loại
rừng tại huyện mang yang - tỉnh gia lai
chuyên ngành: lâm học
hưởng đến an ninh, quốc phòng quốc gia.
Bên cạnh đó, hàng hoá lâm sản từ rừng cũng là một nguồn lực to lớn để đáp
ứng cho yêu cầu cho quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cũng như cho
nhu cầu sinh sống của người dân.
Do sự phân bố của rừng trên các điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội khác nhau
nên vai trò bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học và vai trò kinh tế xã hội của
rừng cũng không đồng nhất ở mọi nơi. Những nơi rừng ở độ cao, dốc, lượng mưa,
2
đất đai có kết cấu thấp, tầng mỏng thì yêu cầu phòng hộ cần được ưu tiên hàng đầu.
Ngược lại, rừng bằng phẳng, phân bố trên độ cao, độ dốc thấp ít ảnh hưởng đến chức
năng phòng hộ bảo vệ môi trường thì vai trò sản xuất cần được ưu tiên. Quy hoạch
lợi dụng tài nguyên rừng một cách hợp lý, dựa trên những cơ sở khoa học và phù
hợp với điều kiện thực tiễn là nền tảng của việc quản lý và phát triển rừng bền vững
Tây Nguyên là một trong những vùng tập trung nhiều đất lâm nghiệp nhất
trên cả nước, chiếm 22,2%. Tài nguyên thực động vật rừng khá phong phú, trữ lượng
rừng khá cao, đặc biệt Tây Nguyên còn được coi là mái nhà của ba nước Đông
Dương nên có vai trò vô cùng quan trọng trong việc phòng hộ đầu nguồn. Tuy
nhiên, hiện tại nơi đây tài nguyên rừng đang bị suy thoái mạnh mẽ trước sức ép từ
nhiều phía, diện tích rừng tự nhiên hàng năm giảm trên 45.000 ha trong giai đoạn
1992-2004, diện tích rừng trồng tăng không đáng kể [30]. Nhiều diện tích rừng tự
nhiên có chất lượng kém, hiệu quả kinh tế cũng như môi trường thấp vẫn chưa có
giải pháp để nâng cao giá trị sử dụng đất, tạo việc làm cho gần 2 triệu người dân và
sản phẩm cho xã hội. Đặc biệt là trước trình độ quản lý, sử dụng, phát triển rừng yếu
kém cũng như yêu cầu mạnh mẽ của quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước.
Trước tình hình đó mà việc phát triển, sử dụng tài nguyên rừng một cách có
cơ sở khoa học, hợp lý, bền vững phù hợp với điều kiện thực tiễn địa phương nhằm
phát huy một cách tối đa chức năng của từng loại rừng là đòi hỏi cấp bách của công
theo đó Việt Nam có 15 vùng sinh thái khác nhau [25].
Tổ chức bảo tồn chim quốc tế (Birdlife) đề xuất dùng các loài chim đặc hữu
làm chỉ thị cho đa dạng sinh học [25].
1.1.2. Về phân chia, phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn
Công tác phân cấp rừng phòng hộ đầu nguồn ở ngoài nước đã được chú ý
cũng từ khá lâu. Khởi đầu là các nghiên cứu về xói mòn đất, tiêu biểu như:
- Wischmeier W.H. và Smith D.D. (1978) [35] khi nghiên cứu về lượng đất
mất do mưa đã xây dựng được phương trình dự báo lượng đất xói mòn như sau:
4
A = 2,47.R.K.LS.C.P
Trong đó:
A = Lượng đất xói mòn (tấn/ha/năm)
2,47 = hệ số chuyển đổi từ acre sang hecta
R = hệ số xói mòn do mưa
K = hệ số xói mòn đất
LS = nhân tố địa hình
C = hệ sô thảm thực vật
P = hệ số bảo vệ đất
+ Với hệ số xói mòn do mưa (R): Theo lý thuyết, lượng mưa bình quân năm
càng cao thì hệ số xói mòn càng lớn, dẫn tới đất bị xói mòn càng mạnh.
+ Với hệ số xói mòn đất (K): Đất có hệ số xói mòn cao thì dễ bị xói mòn hơn
là đất có hệ số xói mòn thấp khi cùng chịu cường độ mưa như nhau. Hay nói cách
khác hệ số K xác định mức độ bền vững một cách tương đối của các loại đất khác
nhau đối với xói mòn. Qua nghiên cứu cho thấy K phụ thuộc vào bản chất của đất,
tức phụ thuộc một cách tổng hợp vào những phần tử cấu thành nên đất như thành
phần cơ giới, kết cấu bền vững trong nước, khả năng thấm nước, hàm lượng chất hữu
a, b, c, d, e, f và g là các hệ số của phương trình tương quan.
X1, X2, X3, X4, X5, X6 lần lượt là độ dốc, dạng đất, độ cao, địa hình, đất
(tính chất của đất) và thảm thực vật rừng.
Phương trình tính theo phương pháp raster: Theo phương pháp này đầu nguồn
được chia thành những ô vuông với ô kích thước 1 km2. Các biến số được xem xét
trong mỗi ô vuông và được gán cho mỗi giá trị trên cơ sở từ bản đồ địa hình tỷ lệ
1/50.000. Từ các giá trị của biến số này, trị số phân cấp đầu nguồn được tính toán
theo mô hình trên. Phương pháp raster có nhược điểm là không xác định được về
mặt địa lý và không linh hoạt, không thể sử dụng tách biệt từng lớp bản đồ của mỗi
biến số. Diện tích 1 km2 là quá lớn cho một đơn vị đầu nguồn nên tính đồng nhất
không cao.
Kết quả là 5 lớp của vùng đầu nguồn được xây dựng Thái Lan để phát triển
các dự án quản lý đất cho tài nguyên nước, lâm và nông nghiệp, từ vùng cao xuống
vùng thấp, bao gồm:
6
+ Lớp đầu nguồn 1: Rừng phòng hộ, bảo tồn và đầu nguồn nước
+ Lớp đầu nguồn 2: Rừng sản xuất
+ Lớp đầu nguồn 3: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất
+ Lớp đầu nguồn 4: Nông nghiệp vùng cao
+ Lớp đầu nguồn 5: Nông nghiệp vùng thấp
- Năm 1989, dự án thực hiện tại Lào và Việt Nam (Campuchia tham gia sau
này) cũng sử dụng phương pháp phân cấp đầu nguồn được sử dụng ở Thái Lan,
nhưng vì không có tài liệu về đất, địa hình và thảm thực vật rừng nên chỉ đưa 3 tiêu
chí là độ dốc, dạng đất và độ cao vào để tính toán [34]. Phương pháp tính toán giống
phương pháp ở Thái Lan. Phương trình như sau:
WSC = a + b*X1 + c*X2 + d*X3
Trong đó:
Việt Nam vốn là một đất nước có nguồn tài nguyên rừng giàu có và tính đa
dạng sinh học cao, được xếp là một trong 16 nước có tính ĐDSH cao nhất thế giới
[22]. Vì vậy từ trước tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về cơ sở để phân chia, phân
loại loại rừng này, dưới đây là một số nghiên cứu tiêu biểu:
- Vũ Dũng, 1987 [9] trong đề tài Xác định hệ thống các khu rừng để bảo vệ
các loài động thực vật quý hiếm ở Tây Nguyên đã sử dụng bộ tiêu chuẩn xếp hạng
của IUCN, tập trung chọn các loài động thực vật thuộc nhóm rất nguy cấp (E) và
nhóm nguy cấp (V) làm đối tượng ưu tiên bảo vệ. Đề tài tiến hành xây dựng bản đồ
vùng phân bố của từng loài, sau đó xác định các ranh giới khu rừng bảo vệ theo
phương pháp diện tích tối thiểu của tác giả Iuri Iazan. Theo phương pháp này, cần vẽ
sơ đồ phân bố các loài động thực vật quý hiếm và các đối tượng cần bảo vệ lên giấy
can cùng tỷ lệ. Khi đặt các bản đồ chồng lên nhau, diện tích nhỏ nhất mà xếp được
nhiều khu phân bố nhất sẽ được coi là diện tích tối thiểu của khu rừng cần bảo vệ.
Kết quả thu được gồm 8 khu rừng cấm cấp nhà nước và 5 khu rừng cấm cấp tỉnh.
- Việc phân các vùng địa sinh học trên phạm vi lớn tại Việt Nam thường dựa
trên các yếu tố như: Yếu tố địa hình, địa mạo; khí hậu và trên cơ sở sự khác nhau về
tổ hợp loài và các giới hạn phân bố các loài chỉ thị [21], chia Việt Nam thành 9 đơn
vị địa sinh học sau:
+ Đông Bắc Việt Nam;
+ Hoàng Liên Sơn (Bắc của Trung tâm Đông Dương);
+ Nam Trung tâm Đông Dương;
+ Đồng bằng sông Hồng;
8
+ Bắc Trung bộ;
+ Nam Trung bộ;
+ Đồng bằng sông Mê Kông;
+ Tây Nguyên; và
+ Đà Lạt.
+ Các phương pháp tiếp cận, gồm:
Phương pháp tiếp cận loài
Việc mô tả, đánh giá về đa dạng sinh học của khu vực được ưu tiên hàng đầu
cho giai đoạn xây dựng dự án. Mức độ hiểu biết về khu hệ động thực vật Việt Nam
đến nay vẫn chưa đầy đủ. Có thể chia mức độ hiểu biết thành 2 cấp:
(i) Hiểu biết khá đầy đủ có thể là: Chim, các loài linh trưởng, một số loài
thú đặc biệt thuộc bộ móng guốc.
(ii) Hiểu biết chưa đầy đủ: Các loài ếch nhái, nhiều loài bò sát, các loài
dơi, các loài côn trùng.
Để có được đầy đủ số lượng các loài ở Việt Nam sẽ mất rất nhiều thời gian,
công sức (đôi khi không thể làm được) cho công tác khảo sát, đánh giá. Cho nên
phương pháp lựa chọn các loài chỉ thị để lựa chọn các KBTTN được áp dụng. Các
loài chỉ thị bao gồm các loài đặc hữu, các loài đang bị đe doạ ở mức độ quốc gia và
quốc tế. Các loài chỉ thị là các loài thuộc các bậc phân loại khác nhau, đã được hiểu
biết đầy đủ, đã ổn định về mặt phân loại học và phân bố của chúng đã được biết
chính xác.
Phương pháp tiếp cận hệ sinh thái
Các hệ sinh thái bao gồm các vùng sinh học (Biological zones) và các vùng địa
lý sinh học (Biogeographycal zones). Hiện tại có một số phương pháp phân chia một
lãnh thổ một nước thành các vùng sinh thái khác nhau:
(i)
Các đơn vị sinh học (Biounits) được áp dụng trong hệ thông quản lý
thông tin về sinh học (chương trình này đang được Viện ĐTQHR ứng dụng trong
việc quản lý số liệu hệ thống rừng đặc dụng Việt Nam).
10
(ii) Các vùng sinh thái (Ecoregions) do Ngân hàng thế giới và Quỹ động
11
chí phân loại cho các loại rừng đặc dụng gồm VQG, KBTTN và Khu BVCQMT
(không gồm KRNC-TNKH) áp dụng cho đất lâm nghiệp. Các tiêu chí tập trung vào
các tiêu chuẩn cụ thể cho từng loại RĐD là:
+ Giá trị, ý nghĩa của hệ sinh thái;
+ Quy định về số loài đặc hữu, loài ghi trong sách đỏ Việt Nam;
+ Quy định về diện tích tối thiểu đảm bảo mục tiêu bảo tồn;
+ Quy định về tỷ lệ đất nông nghiệp và thổ cư trong KRĐD.
Đây là các tiêu chí cụ thể nhất, chi tiết nhất và đầy đủ nhất cho đến nay phục
vụ cho công tác quy hoạch, xây dựng RĐD.
Từ trên thấy rằng, các tiêu chí và phương pháp phân loại rừng đặc dụng ngày
càng đầy đủ và hoàn thiện, thể hiện tính chuyên sâu và là cơ sở pháp lý cho việc quy
hoạch hệ thống RĐD, đảm bảo đúng chức năng là duy trì, bảo tồn, phát triển ĐDSH
ở Việt Nam.
1.2.2. Về phân cấp, phân chia rừng phòng
1.2.2.1. Về phân cấp, phân chia rừng phòng hộ đầu nguồn
- Phương pháp phân cấp do Viện ĐTQHR đề xuất và áp dụng trong Chương
trình 327
Phương pháp này đã được ứng dụng để xây dựng lâm phận phòng hộ quốc gia
và bổ sung các dự án thuộc Chương trình 327. Qua trình phân cấp xung yếu được
chia làm 3 bước:
Bước 1: Đánh giá tổng hợp các yếu tố ảnh hưởng quan trọng và quyết định
đến mức xung yếu thông qua mô hình định lượng:
PH1 = DELTA H^0,5 x DOC^ 0,75 x MUA^1,5
(1)
Trong đó:
DELTA H là độ chênh cao địa hình trong mỗi lưu vực cấp 3, là hiệu số giữa
độ cao tại điểm đang xét với độ cao thấp nhất trong lưu vực cấp 3.
13
sông và các nhà máy thuỷ lợi, thuỷ điện phía Nam Việt Nam như Dầu Tiếng, Thác
Mơ,...
Phương pháp phân cấp này dựa trên việc cho điểm các nhân tố ảnh hưởng tới
xói mòn đất và dòng chảy, thang điểm cho từng nhân tố có thể dao động từ 1 đến 10
hoặc hơn. Các nhân tố tự nhiên ảnh hưởng tới mức xung yếu đầu nguồn gồm:
+ Độ cao tuyệt đối;
+ Độ dốc;
+ Chiều dài sườn dốc;
+ Lượng mưa bình quân năm;
+ Thảm thực vật; ...
Khi xuất hiện nhân tố chủ đạo (có ảnh hưởng lớn nhất) thang điểm của nhân
tố này sẽ được nhân với hệ số lớn hơn 1 tuỳ mức độ có thể chọn 1,2; 2,0;... Điểm
đánh giá năng lực phòng hộ của các kiểu thảm thực vật là điểm âm (-), khi có rừng
tự nhiên 3 tầng với độ tàn che > 0,7 sẽ đạt trị số tối đa và bằng 100% điểm dương
của tổng số điểm xung yếu tự nhiên cao nhất. Thang điểm âm các kiểu thảm thực
vật khác sẽ tính bằng 90%, 80%, 70%, .... của rừng 3 tầng nói trên.
Các bước tiến hành phân cấp như sau:
Bước 1: Chia vùng đầu nguồn thành mạng lưới các ô vuông diện tích 1 km X
1 km hoặc 0,5 km X 0,5 km gọi là đơn vị đầu nguồn.
Bước 2: Xem xét các nhân tố ảnh hưởng chính và xây dựng thang điểm cho
từng nhân tố để đưa vào đánh giá.
Bước 3: Trên mỗi diện tích ô vuông tiến hành cho điểm đối với từng nhân tố
ảnh hưởng rồi tính tổng điểm của các nhân tố đó. Công việc thực hiện cho tất cả đơn
vị đầu nguồn.
Bước 4: Căn cứ vào tổng số điểm thu được trên các ô vuông của toàn bộ vùng
đầu nguồn sẽ chia ra 3 - 5 cấp xung yếu khác nhau được thể hiên trên bản đồ với các
màu sắc khác nhau. Những vùng có số điểm cao sẽ có mức xung yếu cao hơn vùng
15
nguyên thuỷ của phương trình của Uỷ ban sông Mê Kông (áp dụng ở 3 nước Lào,
Việt Nam và Campuchia), kết quả thu được là:
Y (GT) = 1,709 0,022 x1 + 0,135x2 0,001 x3 0,985 x4 + 0,009 x5
Phương trình được tính toán bằng phần mềm SPSS, lưới ô vương kích thước
50 X 50 m .
Kết quả thu được là vùng phân bố của rừng Khộp vùng Buôn Hồ nằm trên các
cấp là:
Cấp II. Rừng sản xuất
Cấp III: Vườn cây ăn quả và rừng sản xuất
Cấp IV: Nông nghiệp vùng cao
- Biện pháp kỹ thuật xác định lâm phận phòng hộ cấp tỉnh của Bộ
NN&PTNT
Phương pháp này dựa trên bản tiêu chí phân cấp rừng phòng hộ [5], diện tích
tiến hành là trên diện tích đất lâm nghiệp (gồm đất có rừng và chưa có rừng quy
hoạch cho mục đích lâm nghiệp). Các tiêu chí được chọn là các tiêu chí có ảnh
hưởng đến xói mòn đất và dòng chảy đó là:
+ Độ dốc
+ Đai cao
+ Lượng mưa
+ Loại đất
Các nhân tố được đưa vào tính toán, chồng xếp, sau đó tiến hành điều chỉnh
ngoại nghiệp như vùng ven hồ, đập, sông, suối, ...
Điểm số được cho theo cấp (chỉ tiêu) của tiêu chí. Tiêu chí được cho theo 3
mức tương đối là cấp 1 đến cấp 3 (theo mức độ từ nguy cấp đến ít nguy cấp), tương
ứng cho điểm từ 3 xuống 1. Căn cứ vào điều kiện thực tế tại địa phương để xác định
tiêu chí ảnh hưởng để nhân hệ số cho từng tiêu chí. Có thể tóm tắt quá trình xây
dựng bản đồ PCPHĐN qua các bước sau:
cũng có thể nhận thấy một số điểm chung của các phương pháp như sau:
Điểm chung của các phương pháp
17
(i) Các phương pháp phân cấp đầu nguồn đều dựa trên cơ sở đánh giá ảnh
hưởng của các nhân tố tới xói mòn đất và điều tiết nước, chủ yếu là các nhân tố tự
nhiên.
(ii) Phương pháp chính được sử dụng để tính toán mức độ ảnh hưởng tổng
hợp các nhân tố tới PHĐN là chồng ghép các bản đồ đơn nhân tố. Việc chồng ghép
các bản đồ có thể được tiến hành bằng phương pháp thủ công hoặc trên máy vi tính
với sự trợ giúp của công nghệ GIS.
(iii) Các phương pháp PCPH đều chia đầu nguồn thành những đơn vị nhỏ để
xử lý và tính toán, thường là những lưới ô vuông có diện tích 1 km2 (có thể to hoặc
nhỏ hơn tuỳ theo độ chính xác yêu cầu) hoặc những vùng có các điều kiện tương đối
đồng nhất.
(iv) Các phương pháp đều sử dụng các mô hình định lượng để phân cấp đầu
nguồn dựa trên cơ sở phân chia thang điểm các nhân tố ảnh hưởng.
Điểm khác biệt của các phương pháp
(i) Các phương pháp sử dụng các nhân tố ảnh hưởng khác nhau, ví dụ: Viện
ĐTQHR và Phương pháp dùng cho dự án khu vục lâm nghiệp thì sử dụng 4 nhân tố
(độ cao, độ dốc, mưa và đất), phương pháp sông Mê Kông sử dụng 3 nhân tố ( độ
đốc, dạng đất và độ cao), phương pháp do Viện KHLN Việt Nam và của tác giả
Hoàng Sỹ Động đề xuất, áp dụng thì sử dụng nhiều nhân tố hơn, đặc biệt phương
pháp của Viện KHLN sử dụng nhân tố thảm thực vật.
(ii) Nội dung phân cấp của các phương pháp có khác nhau. Phương pháp
sông Mê kông thực chất đi sâu vào phân chia tiềm năng sử dụng đất đầu nguồn;
phương pháp Viện ĐTQHR đi vào phân cấp xung yếu tự nhiên; phương pháp phân
cấp do Viện Khoa học Lâm nghiệp Việt Nam đề xuất có thể áp dụng phân cấp xung
yếu tự nhiên và hiện thời.
nguyên tắc là diện tích đất lâm nghiệp thuộc 2 cấp RXY và XY được lấy cho đối
tượng đất rừng phòng hộ, diện tích đất lâm nghiệp thuộc cấp IXY lấy là đất rừng sản
19
xuất, trong đó có cân nhắc đến nhu cầu sử dụng lâm sản của nền kinh tế quốc gia
cũng như của người dân địa phương.
Như vậy, khi đã xây dựng, quy hoạch cho 2 đối tượng rừng nói trên cũng
chính là đã quy hoạch cho rừng sản xuất. Theo nguyên tắc quy hoạch, rừng đặc
dụng thường chiếm một tỷ lệ không lớn, rừng phòng hộ phân bố ở những vị trí có độ
cao, độ dốc lớn, có tiềm năng xói mòn cao. Còn lại diện tích đất lâm nghiệp sản
xuất nhìn chung tương đối bằng phẳng, thuận lợi cho việc kinh doanh lợi dụng rừng.
Một số nghiên cứu tiêu biểu về phân loại thảm thực vật phục vụ sản xuất lâm
nghiệp là:
- Phân loại thảm thực vật rừng của Thái Văn Trừng (1978) [27]:
Tác giả nghiên cứu trên cơ sở các nhân tố sinh thái phát sinh hệ sinh thái rừng
tự nhiên Việt Nam là:
(i) Nhóm nhân tố địa lý - địa hình;
(ii) Nhóm nhân tố khí hậu - thuỷ văn;
(iii) Nhóm nhân tố đá mẹ - thổ những;
(iv) Nhóm nhân tố khu hệ thực vật; và
(v) Nhóm nhân tố sinh vật và con người.
Trên cơ sở nghiên cứu phân tích 5 nhóm nhân tố trên, tác giả đã phân loại
thảm thực vật rừng Việt Nam thành 14 kiểu thảm thực vật rừng (hệ sinh thái rừng)
chính, gồm:
(i) Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới;
(ii) Kiểu rừng kín nửa thường xanh ẩm nhiệt đới
(iii) Kiểu rừng rụng lá ẩm nhiệt đới;
(iv) Kiểu rừng kín rụng lá hơi ẩm nhiệt đới;
(v) Kiểu rừng kín lá cứng hơi khô nhiệt đới;
chia thành:
(i) Kiểu IA: Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cỏ, lau lách hoặc chuối
rừng.
(ii) Kiểu IB: Kiểu này được đặc trưng bởi lớp thực bì cây bụi, cũng có thể có
một số cây gỗ, tre mọc rải rác.
(iii) Kiểu IC: Kiểu này được đặc trừng bởi cây thân gỗ tái sinh với số lượng
đáng kể nằm trong hai kiểu trên. Chỉ được xếp vào kiểu này khi số lượng cây tái
sinh có chiều cao trên 1 mét đạt từ 1.000 cây/ha trở lên.
Nhóm trạng thái II: Nhóm rừng phục hồi
Kiểu rừng cây phục hồi cây tiên phong có đường kính nhỏ, tuỳ theo hiện
trạng và nguồn gốc mà chia ra:
21
(i) Kiểu IIA: Rừng phục hồi sau nương rẫy, đặc trưng bởi lớp cây tiên phong,
ưa sáng, mọc nhanh, đều tuổi, một tầng.
(ii) Kiểu IIB: Kiểu rừng phục hồi sau khai thác kiệt, phần lớn kiểu này bao
gồm những quần thụ non với những loài cây tương đối ưa sáng, thành phần phức tạp,
đều tuổi, độ ưu thế không rõ ràng. Vượt lên khỏi tán rừng kiêủ này có thể còn sót lại
một số cây của quần thụ cũ nhưng trữ lượng không đáng kể.
Chỉ được xếp vào kiểu này những quần thụ mà đường kính phổ biến không
vượt quá 20 cm.
Nhóm trạng thái III: Nhóm rừng thứ sinh đã bị tác động
Các quần thụ đã chịu tác động khai phá của con người ở nhiều mức độ khác
nhau làm cho kết cấu ổn định của rừng ít nhiều đã có sự thay đổi khác nhau, tuỳ
theo mức độ tác động và khả năng cung cấp lâm sản mà nhóm này có thể được chia
ra hai kiểu:
(i) Kiểu IIIA: Đặc trưng bởi những quần thụ đã bị khai thác nhiều, khả năng
khai thác hiện tại bị hạn chế. Cấu trúc ổn định của rừng bị thay đổi hoàn toàn hoặc
thay đổi về cơ bản. Kiểu này được chia thành 3 kiểu phụ:
Kiểu RIII: Rừng bị tác động mạnh, cấu trúc ổn định của rừng đã bị
phá vỡ, khả năng khai thác gỗ lớn không còn hoặc không đáng kể, tuỳ theo mức độ
phá hoại mà chia ra:
* Kiểu phụ RIIIA: Rừng bị phá hoại mạnh, cấu trúc rừng bị phá vỡ hoàn toàn,
rừng có trữ lượng thấp, G/ha < 10 m2. Đại bộ phận cây có đường kính nhỏ (D30 cm) nhưng cong queo, sâu bệnh. Tuỳ theo
tình hình phá hoại mà chia ra:
Kiểu rừng RIIIA1: Rừng có trữ lượng thấp, phát triển trên lập địa xấu, trơ sỏi
đá. Đại bộ phận cây có đường kính nhỏ (D30