4
MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa Lời cam đoan Mục lục Danh mục các từ viết tắt Danh mục các bảng MỞ ĐẦU
1
Chương 1: PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
6
1.1.
5
thông đường bộ
1.2.4.
Các hình thức xử phạt vi phạm hành chính và các biện pháp
khắc phục hậu quả trong lĩnh vực giao thông đường bộ
16
1.2.5.
Thẩm quyền xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
23
1.2.6.
Thời hiệu xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
28
1.2.7.
Thủ tục xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ
29
Chương 2: THỰC TRẠNG XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ
ĐÀ NẴNG
31
2.1.
Khái quát hệ thống giao thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng
31
2.1.1.
Đặc điểm vị trí địa lý và dân cư tại thành phố Đà Nẵng
Công tác xử lý vi phạm hành lang an toàn đường bộ
56 6
2.4.
Nguyên nhân vi phạm pháp luật giao thông đường bộ
60
Chương 3: PHƢƠNG HƢỚNG NÂNG CAO HIỆU QUẢ VIỆC XỬ
LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO
THÔNG ĐƢỜNG BỘ TẠI THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
70
3.1.
Những thành tựu đạt được và những khó khăn còn tồn tại
trong công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng
70
3.1.1.
Thành tựu đạt được trong công tác xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng
70
3.1.2.
Những khó khăn, vướng mắc trong công tác xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại thành phố
Đà Nẵng
72
3.2.
Phương hướng nâng cao hiệu quả việc xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại thành phố Đà Nẵng
7
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ATGT
: An toàn giao thông
GTĐB
: Giao thông đường bộ
TNGT
: Tai nạn giao thông
TNGTĐB
: Tai nạn giao thông đường bộ
TTATGT
: Trật tự an toàn giao thông
UBND
: Ủy ban nhân dân 8
DANH MỤC CÁC BẢNG Số hiệu
tâm sâu sắc, mang tính toàn cầu mà tất cả các quốc gia trên thế giới không phân
biệt các nước phát triển, nước đang phát triển hay nước kém phát triển đều
phải đương đầu và nó đã là thách thức lớn của cả thế giới. Về kinh tế, TNGT
và ùn tắc giao thông hàng năm làm thiệt hại từ 1% đến 3% GDP chi phí hàng
năm của các nước đang phát triển, ước tính vào khoảng trên 100 tỷ USD.
Tai nạn giao thông ở Việt Nam cũng nằm trong tình trạng chung của
các nước đang phát triển, TNGT ở Việt Nam tăng liên tục trong nhiều năm và
tính nghiêm trọng ngày càng gia tăng (bình quân trên 13 nghìn người chết do
TNGT và khoảng 29.000 ca chấn thương sọ não/năm). TNGT luôn là nỗi ám
ảnh trong đời sống xã hội và là một trong những nguyên nhân cản trở sự phát
triển kinh tế của đất nước.
Những năm gần đây, Chính phủ Việt Nam đã nhận thức được mối
hiểm họa của TNGT. Để kiềm chế và giảm thiểu TNGT, Ban Bí thư Trung
ương, Chính phủ đã có nhiều văn bản chỉ đạo để ban hành và sửa đổi luật, các
nghị định quy định và thực hiện các biện pháp cấp bách phù hợp với tình hình
mới. Tuy nhiên, hiệu quả chưa cao do ý thức chấp hành luật của người tham
gia giao thông thấp, hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông chưa đồng bộ và yếu
kém, hiệu lực quản lý nhà nước chưa cao.
Ở khu vực miền trung tây nguyên nói chung và thành phố Đà Nẵng
nói riêng, có các tuyến quốc lộ 1A, quốc lộ 14B nối liền các địa phương trong
vùng đã tạo nên một hệ thống giao thông đườ ng bộ thuận tiện, hiệu quả. Trong
những năm qua, thành phố Đà Nẵng đã huy đ ộng toàn bộ sức mạnh hệ thống
chính trị của thà nh phố vào cuộc để triển khai và thực hiện tốt các luật của
Quốc hội, nghị định của Chính phủ về đảm bảo an toàn giao thông (ATGT), đặc 10
biệt là Luậ t Giao thông đường bộ (GTĐB) năm 2007. Sau hơn 04 năm triển
khai thực hiện Luật GTĐB, bước đầu đã thu được những kết quả nhất định, tình
hình trật tự an toàn giao thông (TTATGT) phần nào được cải thiện và đã hạn chế
học Luậ t Hà Nộ i, 2000. Luận văn đã phân tí ch cá c hình thứ c xử phạ t vi phạ m
hành chính được đề cập trong văn bản pháp luật , nhữ ng ưu điể m và hạ n chế
khi á p dụ ng trong thự c tiễ n và kiế n nghị hoà n thiệ n phá p luậ t về lĩnh vự c nà y.
Luậ n văn thạ c sĩ luậ t họ c : "Hon thin pháp lut v x l vi phm
hnh chnh đi vi người chưa thnh niên ", của Nguyễn Ngọc Bích , Trườ ng
Đạ i họ c Luậ t Hà Nội , 2003. Luận văn đề cậ p đế n nhữ ng ngu yên tắ c, thự c
trạng pháp luật về xử lý vi phạm hành chính đối với người chưa thành niên và
đề ra giải pháp hoàn thiện những quy định của pháp luật trong lĩnh vực này.
Luậ n văn thạ c sĩ luậ t họ c : "Pháp lut v x l vi p hm hnh chnh
trong lĩ nh vự c giao thông đườ ng bộ ở Việ t Nam hiệ n nay - Mộ t số vấ n đề lý
luậ n, thự c tiễ n và phương hướ ng hoà n thiệ n ", của Vũ Thanh Nhàn , Trườ ng
Đạ i họ c Luậ t Hà Nộ i, 2009. Luận văn nghiên cứ u thự c trạ ng phá p luậ t xử lý
vi phạ m hà nh chí nh trong lĩ nh vự c giao thông đườ ng bộ ở Việ t Nam từ đó
đưa ra giả i phá p hoà n thiệ n phá p luậ t trong lĩ nh vự c nà y.
Luận văn thạc sĩ luật học: "Thực hin pháp lut trong lĩnh vực đảm
bảo trt tự an ton giao thông qua thực tế tỉnh Thái Nguyên", của Nguyễn
Quang Huy, Đại học quốc gia Hà Nội, 2007. Luận văn đã làm sáng tỏ một số
vấn đề lý luận cơ bản về pháp luật GTĐB, thực hiện pháp luật và thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực GTĐB; phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến thực
hiện pháp luật trong việc đảm bảo ATGT đường bộ, đánh giá thực trạng thực
hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT đường bộ; những tồn tại, hạn
chế, nguyên nhân khách quan, chủ quan của những tồn tại hạn chế trong thực
hiện pháp luật trong lĩnh vực bảo đảm TTATGT đường bộ. Luận văn cũng
đưa ra quan điểm, một số giải pháp cơ bản nhằm nâng cao hiệu quả thực hiện
pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo TTATGT đường bộ.
Trong cá c công trì nh nghiên cứ u trên đây , trên cơ sở phân tí ch lý luậ n
và thự c tiễ n có liên quan, các tác giả đã giới thiệu, phân tí ch đá nh giá về phá p 12
Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu chính như: Phương pháp
phân tích tổng hợp, phương pháp so sánh, phương pháp lịch sử, phương pháp
thống kê xã hội học, các phương pháp xã hội học pháp luật.
5. Những đóng góp chủ yếu về mặt khoa học của đề tài
Đề tài là chương trình chuyên khảo về xử phạt vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng, đề tài đã đặt vấn đề tương đối hệ thống về
pháp luật xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng;
Phân tích tương đối cụ thể thực trạng thực thi các quy định pháp luật về xử lý
vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng; đề ra các giải pháp
hoàn thiện các quy định của pháp luật về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB tại Đà Nẵng.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Pháp luật xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao
thông đường bộ.
Chương 2: Thực trạng quy định pháp luật về xử lý vi phạm hành chính
trong lĩnh vực giao thông đường bộ tại Đà Nẵng.
Chương 3: Phương hướng nâng cao hiệu quả việc xử lý vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB tại thành phố Đà Nẵng.
14
Chương 1
PHÁP LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH
TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
1.1. VAI TRÕ CỦA CÔNG TÁC XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG
LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƢỜNG BỘ
tải luôn phát triển là một quy luật tất yếu. Tốc độ phát triển kinh tế và phát
triển GTĐB phải tỷ lệ thuận với nhau.
Để GTĐB là động lực, là mũi nhọn cho sự phát triển kinh tế - xã hội
thì phải không ngừng tăng cường sự quản lý của nhà nước trong lĩnh vực
GTĐB, và pháp luật GTĐB phải là một công cụ trong quản lý nhà nước, trong
đó quy định các chế tài xử phạt vi phạm sẽ là cần thiết cho sự phát triển về
GTĐB. Đồng thời pháp luật GTĐB cần được các cơ quan, đơn vị, ngành triển
khai kịp thời, nhanh chóng đến các chủ thể khác trong xã hội.
1.1.2. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng
bộ có tác dụng bảo đảm trật tự an toàn xã hội
Sử dụng pháp luật GTĐB làm công cụ để thực hiện tác động quản lý
lên các khách thể, các chủ thể có thẩm quyền trong lĩnh vực GTĐB hướng tới
mục tiêu là đảm bảo cho hoạt động GTĐB được trật tự, an toàn, nhanh chóng,
tiện lợi, thông suốt và bảo vệ môi trường. Do vậy, hoạt động tuần tra kiểm
soát, thanh tra, kiểm tra phát hiện, ngăn chặn và xử lý vi phạm pháp luật
GTĐB của các lực lượng chức năng, các cấp chính quyền phải kịp thời để hạn
chế thấp nhất vi phạm, chống được ùn tắc, kiềm chế TNGT đường bộ, ngăn
ngừa thiệt hại do TNGT đường bộ gây ra, đảm bảo TTATGT đường bộ và an
toàn xã hội.
Trật tự an toàn xã hội đảm bảo vững chắc là cơ sở, điều kiện để giữ
TTATGT đường bộ, củng cố phát huy tính pháp chế xã hội chủ nghĩa trong
lĩnh vực GTĐB. 16
1.1.3. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đƣờng
bộ có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế xã hội và bảo đảm an
ninh quốc phòng
Sự phát triển về kinh tế, chính trị, văn hóa xã hội của mỗi địa phương,
tỉnh, thành phố là tiền đề cho việc đảm bảo an ninh quốc phòng. Bởi lẽ một hệ
tôn trọng và thực hiện. Lĩnh vực GTĐB cũng không phải là ngoại lệ.
Thực hiện chủ trương của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng khẳng định:
"Quản lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [43, tr. 120]. Đến
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng tiếp tục khẳng định: "Quản
lý xã hội bằng pháp luật dưới sự lãnh đạo của Đảng" [44, tr. 94]. Để quản lý
nhà nước bằng pháp luật có hiệu quả, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII
của Đảng đưa ra yêu cầu: "Quản lý xã hội bằng pháp luật đồng thời coi trọng
việc giáo dục đạo đức" [45, tr. 129].
Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng lại tiếp tục đề cao vai
trò của pháp luật trong hệ thống các công cụ quản lý xã hội: "Nhà nước quản
lý xã hội bằng pháp luật. Mọi cơ quan, tổ chức, cán bộ, công chức, mọi công
dân có nghĩa vụ chấp hành Hiến pháp và pháp luật" [46, tr. 132].
Như vậy, từ Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đến Đại
hội IX của Đảng, mục tiêu quản lý xã hội bằng pháp luật là mục tiêu nhất quán.
Quan điểm, tư tưởng này của Đảng được thể chế hóa trong Hiến pháp năm 1992
và Nghị quyết sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết 51/2001-QH ngày 25 tháng 12
năm 2001 quy định: "Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật, không ngừng
tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Các cơ quan nhà nước, tổ chức kinh tế,
tổ chức xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân và mọi công dân phải nghiêm chỉnh
chấp hành Hiến pháp và pháp luật" [55].
Với sự quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực GTĐB, vấn đề đặt ra là
những quy định của nhà nước về vấn đề này như thế nào, luật GTĐB là gì? 18
Có thể hiểu: Luật GTĐB là tổng thể các quy định về quy tắc GTĐB;
kết cấu hạ tầng GTĐB; phương tiện và người tham gia GTĐB; vận tải đường
bộ và quản lý nhà nước về GTĐB.
Pháp luật GTĐB có thể khái quát: Pháp luật GTĐB là tổng thể các
những quan hệ pháp luật sau đây:
- Vi phạm pháp luật dân sự.
- Vi phạm pháp luật hành chính.
- Vi phạm kỷ luật nhà nước (đối với cán bộ, công chức, viên chức hành
chính trực tiếp thực hiện hoạt động quản lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB).
- Vi phạm pháp luật về đất đai.
Vậy xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực này như thế nào, và có
tác dụng như thế nào đối với hoạt động quản lý nhà nước? Xử lý vi phạm
hành chính trong lĩnh vực GTĐB có thể hiểu: là hoạt động của cơ quan nhà
nước áp dụng đối với các cá nhân, cơ quan, tổ chức có hành vi cố ý hoặc vô ý
vi phạm các quy định của pháp luật GTĐB về quy tắc GTĐB; các hành vi vi
phạm quy định về kết cấu hạ tầng GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về
phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về điều khiển
phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về vận tải đường
bộ; các hành vi vi phạm khác về GTĐB mà không phải là tội phạm và theo
quy định phải bị xử phạt hành chính.
1.2.2. Các yếu tố cấu thành vi phạm hành chính trong lĩnh vực
giao thông đƣờng bộ
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là một dạng của vi phạm
pháp luật. Do đó, những vi phạm này cũng có các yếu tố cấu thành pháp lý
gồm: mặt khách quan, mặt chủ quan, chủ thể và khách thể. Các yếu tố cấu
thành vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB nói riêng nằm trong một thể thống nhất. 20
Thứ nhất: Mặt khách quan
Mặt khách quan của vi phạm hành chính nói chung và vi phạm hành
chính trong lĩnh vực GTĐB nói riêng là tổng hợp các dấu hiệu bên ngoài của
vi phạm hành chính bao gồm: hành vi trái pháp luật, tính nguy hiểm cho xã
chính do cố ý. Như vậy, khi xác định người ở độ tuổi này có vi phạm hành
chính hay không, cần xác định yếu tố lỗi trong mặt chủ quan của họ. Pháp
lệnh xử lý vi phạm hành chính hiện hành không định nghĩa thế nào là lỗi cố ý
hoặc vô ý trong vi phạm hành chính. Tuy nhiên, thông thường người thực
hiện hành vi hành chính với lội cố ý là người nhận thức được hành vi của
mình là nguy hiểm cho xã hội, bị pháp luật cấm mà vẫn cố tình thực hiện.
Người đủ từ 16 tuổi trở lên vị xử phạt hành chính về mọi vi phạm
hành chính do mình gây ra.
Đối với chủ thể của vi phạm hành chính là tổ chức bao gồm: các cơ
quan nhà nước, các tổ chức xã hội, các đơn vị kinh tế, các đơn vị thuộc lực
lượng vũ trang nhân dân và các tổ chức khác có tư cách pháp nhân.
Bên cạnh đó, Quân nhân tại ngũ, quân nhân dự bị trong thời gian tập
trung huấn luyện và những người thuộc lực lượng Công an nhân dân vi phạm
hành chính thi bị xử lý như đối với các công dân khác; trong trường hợp cần áp
dụng hình thức phạt tước quyền sử dụng một số giấy phép hoạt động vì mục
đích quốc phòng, an ninh thì người xử phạt không trực tiếp xử lý mà đề nghị
cơ quan, đơn vị Quân đội, Công an có thẩm quyền xử lý theo Điều lệnh kỷ luật.
Đối với các nhân, tổ chức nước ngoài vi phạm hành chính trong phạm
vi lãnh thổ, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa nước Cộng hòa xã hội chủ
nghĩa Việt Nam thì bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp
luật Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà nước Việt Nam có ký kết
hoặc gia nhập có quy định khác.
Ngoài ra, một số trường hợp cá nhân, tổ chức không vi xử lý vi phạm
hành chính đó là: 22
Tình thế cấp thiết là tình thế của người vì muốn tránh một nguy cơ
đang thực tế đe dọa lợi ích của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, quyền và lợi ích
chính đáng của mình hoặc của người khác mà không còn cách nào khác là
hành chính do pháp luật quy định.
Cá nhân, tổ chức chỉ bị xử phạt vi phạm hành chính khi có hành vi vi
phạm hành chính được quy định cụ thể trong các văn bản luật của Quốc hội,
pháp lệnh của Ủy ban thường vụ Quốc hội và nghị định của Chính phủ.
Các văn bản do Thủ tướng Chính phủ, các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ
quan ngang Bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân (UBND) ban hành để
chỉ đạo hướng dẫn, tổ chức thực hiện xử lý vi phạm hành chính và hình thức,
mức xử phạt.
Thứ hai: Nguyên tắc kịp thời, nhanh chóng, triệt để.
Mọi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB phải được phát
hiện kịp thời và phải bị đình chỉ ngay. Việc xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB phải được tiến hành nhanh chóng, triệt để, mọi hậu quả do
hành vi vi phạm hành chính gây ra phải được khắc phục theo đúng quy định
của pháp luật.
Thứ ba: Một hành vi vi phạm hành chính chỉ bị xử phạt hành chính
một lần.
Nhiều người cùng thực hiện một hành vi vi phạm hành chính thì mỗi
người vi phạm đều bị xử phạt. Một người thực hiện nhiều hành vi vi phạm
hành chính thì bị xử phạt về từng hành vi vi phạm.
Một hành vi vi phạm đã được người có thầm quyền xử phạt ra quyết
định xử phạt hoặc đã lập biên bản để xử phạt thì không được lập biên bản, ra
quyết định xử phạt lần thứ hai đối với hành vi đó nữa. Trong trường hợp hành
vi vi phạm vẫn tiếp tục được thực hiện mặc dù đã bị người có thẩm quyền xử
phạt ra lệnh đình chỉ thì bị áp dụng tình tiết tăng nặng. 24
Một hành vi vi phạm hành chính đã được người có thẩm quyền xử
phạt ra quyết định xử phạt thì không đồng thời áp dụng biện pháp xử phạt
hành chính khác như giáo dục tại xã, phường, thị trấn; đưa vào trường giáo
Hình thức xử phạt đối với hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB thể hiện sự răn đe, trừng phạt của pháp luật đối với những cá nhân, tổ
chức có hành vi vi phạm các nguyên tắc quản lý nhà nước trong lĩnh vực
GTĐB, buộc người vi phạm phải chịu những hậu quả bất lợi về vật chất và
tinh thần.
Ngoài mục đích ngăn chặn hành vi vi phạm, các quy định này còn
mang tính giáo dục đối với các cá nhân, tổ chức bị xử phạt, góp phần nâng
cao ý thức của công dân trong việc chấp hành pháp luật và các quy tắc quản
lý nhà nước trong lĩnh vực GTĐB.
Theo Nghị định 34/2010/NĐ-CP hình thức xử phạt vi phạm hành
chính bao gồm: hình thức xử phạt chính và hình thức xử phạt bổ sung.
* Về hình thức xử pht chính
Với mỗi hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, cá nhân, tổ
chức phải chịu một trong các hình thức xử phạt chính là cảnh cáo và phạt tiền.
Về nguyên tắc cá nhân, tổ chức vi phạm chỉ bị xử phạt bằng một hình
thức xử phạt chính duy nhất. Pháp luật quy định và áp dụng hình thức xử phạt
cảnh cáo hay phạt tiền đối với hành vi vi phạm trên sự đánh giá của Nhà nước
về tính chất và mức độ xâm hại của hành vi đó đối với các quy tắc quản lý
nhà nước về GTĐB.
Hình thức pht tin
Đây là hình thức xử phạt phổ biến có tính chất kinh tế được áp dụng
với đa số hành vi vi phạm trong GTĐB. Phạt tiền là việc tước bỏ của cá nhân,
tổ chức vi phạm một khoản tiền nhất định để sung quỹ nhà nước. Phạt tiền tác
động trực tiếp đến vật chất, lợi ích kinh tế của cá nhân, tổ chức vi phạm, gây 26
cho họ những bất lợi về tài sản. Vì lý do đó, hình thức xử phạt này có hiệu
quả rất lớn trong việc phòng chống vi phạm hành chính trong GTĐB, đồng
thời thông qua đó giáo dục, phổ biến pháp luật cho người tham gia vào lĩnh
quá tốc độ quy định trên 35 km/giờ hoặc điều khiển xe lạng lách, đánh võng,
chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ, bị phạt từ 8 đến 10 triệu đồng. Nếu
điều khiển xe lạng lách, đánh võng, chạy quá tốc độ đuổi nhau trên đường bộ
mà gây tai nạn hoặc không chấp hành hiệu lệnh dừng xe của người thi hành
công vụ hoặc chống người thi hành công vụ, sẽ bị phạt từ 15 đến 25 triệu đồng.
Điều khiển xe môtô, xe gắn máy (kể cả xe máy điện), các loại xe tương
tự môtô và các loại xe tương tự xe gắn máy chạy quá tốc độ quy định từ 5km/giờ
đến dưới 10km/giờ, bị phạt từ 100 đến 200 nghìn đồng; chạy quá tốc độ quy định
từ 10km/giờ đến 20km/giờ, bị phạt từ 500 nghìn đến 1 triệu đồng; điều khiển
xe chạy quá tốc độ quy định trên 20km/giờ, bị phạt từ 2 đến 3 triệu đồng.
Lái xe có mùi rượu bia
Điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường mà trong
máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 50 miligam đến 80 miligam/100
mililít máu hoặc vượt quá 0,25 miligam đến 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt
từ 8 đến 10 triệu đồng; trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá 80
miligam/100 mililít máu hoặc vượt quá 0,4 miligam/1 lít khí thở, bị phạt từ 10
đến 15 triệu đồng.
Ngoài hai mức phạt trên, chỉ có "hơi men" (không cần đến số miligam
như nêu trên) khi điều khiển xe ôtô và các loại xe tương tự ôtô trên đường, là bị
phạt từ 2 đến 3 triệu đồng. Nói tóm lại, đã "lỡ uống" thì đừng ôm vô lăng lái xe.
Đua xe
Mức phạt nhẹ nhất (từ 1 đến 2 triệu đồng) đối với những người: tụ tập
để cổ vũ, kích động hành vi điều khiển xe chạy quá tốc độ quy định, lạng
lách, đánh võng, đuổi nhau trên đường hoặc đua xe trái phép; đua xe đạp, đua
xe đạp máy, đua xe xích lô, đua xe súc vật kéo, cưỡi súc vật chạy đua trái
phép trên đường giao thông. 28
Mức kế tiếp (từ 4 đến 6 triệu đồng) dành cho những người cổ vũ, kích