Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông
đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa Nguyễn Văn Minh Trường Đại học Quốc gia Hà Nội; Khoa Luật
Chuyên ngành: Lý luận và lịch sử nhà nước và pháp luật; Mã số: 60.38.01
Người hướng dẫn: GS. TS. Phạm Hồng Thái
Năm bảo vệ: 2012 Abstract. Phân tích những vấn đặc điểm hệ thống Giao thông đường bộ (GTĐB), hành lang an
toàn giao thông đường bộ (ATGTĐB) tại tỉnh thanh hóa. Phân tích, đánh giá thực trạng
ATGTĐB nói chung và hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh thanh hóa từ năm 2003 đến
năm 2010, công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB của các lực lượng chức
năng. Tìm hiểu những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vi phạm pháp luật GTĐB, đề xuất những giải
pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về GTĐB; đưa ra giải pháp nhằm kiềm chế Tai nạn
giao thông (TNGT) , hạn chế vi phạm pháp luật GTĐB, tăng cường hiệu quả công tác xử lý vi
phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, thực hiện tốt công tác giữ gìn trật tự ATGTĐB, quản lý
và bảo vệ hành lang ATGTĐB nhằm tăng cường hiệu quả công tác Quản lý nhà nước (QLNN)
trong lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh thanh hóa.
Keywords: Luật hành chính; Vi phạm hành chính; Giao thông đường bộ; Thanh Hóa
Content.
PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Trong đời sống xã hội mỗi hoạt động của con người đều gắn liền với một loại hình giao thông nhất
định, nhưng phổ biến nhất là giao thông đường bộ (GTĐB). Là một bộ phận quan trọng trong kết cấu hạ
cứu liên quan đến lĩnh vực GTĐB có thể kể ra như sau:
- Nguyễn Quang Huy- Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông (qua
thực tế tỉnh Thái Nguyên). Luận văn thạc sỹ Luật học, Đại học quốc gia Hà Nội năm 2007.
- Đào Văn Minh, Quản lý nhà nước bằng pháp luật về trật tự an toàn giao thông đường bộ của chính
quyền cơ sở ở tỉnh Thanh Hóa hiện nay. Luận văn thạc sỹ bảo vệ tại Học viện Chính trị- Hành chính quốc
gia Hồ Chí Minh năm 2008.
-Vũ Ngọc Dương, Thực trạng và giải pháp về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh
Hải Dương, tạp chí khoa học công nghệ và môi trường số 4 năm 2009 đề tài nghiên cứu cấp Bộ năm
2009.
-Trần Văn Luyện, Trần Sơn, Nguyễn Văn Chính, Trật tự an toàn giao thông đường bộ, thực trạng và giải
pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, năm 2003.
- Lê Ngọc Tiến, Giáo dục pháp luật- biện pháp quan trọng trong giảm thiểu tai nạn giao thông, Tạp
chí Giao thông vận tải số 7 năm 2004. Lý Huy Tuấn, Quản lý nhà nước trong lĩnh vực giao thông đô thị,
Tạp chí QLNN số 3 năm 2003, Lê Ngọc Tiến, Giáo dục pháp luật- biện pháp quan trọng trong giảm
thiểu tai nạn giao thông đường bộ, Tạp chí giao thông vận tải số 7 năm 2004.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
- Mục đích
Luận văn góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận chung vấn về GTĐB và một số đặc điểm của hệ thống
GTĐB tỉnh Thanh Hóa. Trên cơ sở nắm vững đặc điểm của GTĐB và thực trạng vi phạm hành chính trong
lĩnh vực GTĐB.
- Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, luận văn thực hiện các nhiệm vụ sau:
+ Phân tích những vấn đặc điểm hệ thống GTĐB, hành lang ATGTĐB tại tỉnh Thanh Hóa.
+ Phân tích, đánh giá thực trạng ATGTĐB nói chung và hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh
Thanh Hóa từ năm 2003 đến năm 2010, công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB của các
lực lượng chức năng.
+ Tìm ra những nguyên nhân cơ bản dẫn đến vi phạm pháp luật GTĐB, đề xuất những giải pháp nhằm
hoàn thiện hệ thống pháp luật về GTĐB; đưa ra giải pháp nhằm kiềm chế TNGT, hạn chế vi phạm pháp luật
GTĐB, tăng cường hiệu quả công tác xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, thực hiện tốt công
tác giữ gìn trật tự ATGTĐB, quản lý và bảo vệ hành lang ATGTĐB nhằm tăng cường hiệu quả công tác
Thông qua nghiên cứu đề tài xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa, giúp cho học viên nắm vững các chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước
về GTĐB, chiến lược phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng GTĐB của tỉnh Thanh Hóa.
Các kết quả nghiên cứu của đề tài có thể là nguồn tài liệu tham khảo cho các cơ quan QLNN về
GTĐB, cơ quan nghiên cứu, giảng dạy, làm tài liệu tập huấn, phổ biến tuyên truyền giáo dục pháp luật về
GTĐB cho cán bộ, công chức có thẩm quyền xử lý vi phạm pháp luật về GTĐB.
Một số kiến nghị, giải pháp của đề tài có giá trị tham khảo đối với các cơ quan nhà nước trong việc
xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện pháp luật về GTĐB.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung của luận văn gồm 3
chương:
Chương 1: Những vấn đề chung về giao thông đường bộ.
Chương 2: Thực trạng vi phạm pháp luật giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Chương 3: Một số giải pháp hạn chế vi phạm pháp luật giao thông đường bộ, nâng cao hiệu quả công tác
xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ
1.1. Giao thông, giao thông đường bộ, hành lang an toàn đường bộ
1.1.1. Giao thông
Khi nói đến giao thông là nói đến "việc đi lại từ nơi này đến nơi khác của người và phương tiện
chuyên chở".
Theo Từ điển Tiếng Việt thì đường bộ được hiểu là "Thứ đường đi trên đất liền dùng cho người đi bộ
và xe cộ, nói chung". Theo Luật GTĐB năm 2008 thì định nghĩa "Đường bộ gồm đường, cầu đường bộ,
hầm đường bộ, bến phà đường bộ".
1.1.2. Giao thông đường bộ
GTĐB là một hiện tượng xã hội có xu hướng biến động phát triển mạnh mẽ không chỉ ở Việt Nam mà
còn diễn ra hầu hết các quốc gia trên thế giới. GTĐB và phát triển GTĐB đang được xem xét ở nhiều góc
độ kinh tế- xã hội, chính trị dưới tác động của sự phát triển khoa học- kỹ thuật tiên tiến.
Trên cơ sở của những khái niệm về đường bộ tại mục 1.1.1 có thể hiểu GTĐB là việc đi lại từ nơi này
Luật GTĐB quy định: "Hành lang an toàn đường bộ là giải đất dọc hai bên đất của đường bộ, tính
từ mép ngoài đất của đường bộ ra hai bên để đảm bảo an toàn giao thông đường bộ".
1.2. Trật tự an toàn giao thông đường bộ
Theo từ điểm Bách khoa Công an nhân dân thì: Trật tự ATGTĐB là hệ thống các mối quan hệ xã hội
được hình thành và điều chỉnh bởi các quy phạm pháp luật trong lĩnh vực giao thông vận tải công cộng mà
mọi người tham gia giao thông phải tuân theo để đảm bảo hoạt động giao thông thông suốt, trật tự an toàn, hạn
chế thấp nhất TNGT, gây thiệt hại về người và tài sản
Trật tự ATGTĐB được hiểu là:
- Hoạt động giao thông được điều chỉnh bằng một hệ thống quy phạm pháp luật bắt buộc mọi chủ thể
tham gia giao thông phải tuyệt đối tuân theo.
- Hạn chế thấp nhất TNGT xảy ra, đảm bảo an toàn cho người và tải sản khi tham gia giao thông.
- Hạn chế ùn tắc giao thông, đảm bảo giao thông thuận lợi, có hiệu quả, tiết kiệm được chi phí vận
chuyển, thời gian hành trình trên đường.
Trật tự ATGTĐB có mối quan hệ khăng khít với TTATXH. Trong đó, TTATXH có thể được hiểu: là
trạng thái của các quan hệ xã hội được hình thành và điều chỉnh bởi hệ thống quy phạm pháp luật của
Nhà nước, quy phạm chính trị, quy phạm đạo đức, thuần phong mỹ tục trong đời sống cộng đồng của một
dân tộc, một Nhà nước, là tình trạng xã hội ổn định, ở đó mọi công dân sống và lao động có tổ chức, có
kỷ cương, mọi lợi ích chính đáng được bảo đảm, không bị xâm hại.
1.3. Xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực giao thông đường bộ
1.3.1. Khái niệm
Có thể hiểu: Luật GTĐB là tổng thể các quy định về quy tắc HTĐB; kết cấu hạ tầng GTĐB; phương
tiện và người tham gia GTĐB; vận tải đường bộ và QLNN về GTĐB.
Pháp luật GTĐB có thể khái quát: Pháp luật GTĐB là tổng thể các quy phạm pháp luật do Nhà nước
ban hành có nội dung điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực GTĐB.
Từ những khái niệm về pháp luật GTĐB, Luật GTĐB, thì có thể khái quát vấn đề vi phạm hành chính
trong lĩnh vực GTĐB như sau:
Vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB là những hành vi của cá nhân, tổ chức vi phạm quy định của
pháp luật trong lĩnh vực GTĐB một cách cố ý hoặc vô ý mà không phải là tội phạm và theo quy định của pháp
luật phải bị xử lý vi phạm hành chính, bao gồm: Các hành vi vi phạm quy tắc GTĐB; các hành vi vi phạm quy
định về kết cấu hạ tầng GTĐB; các hành vi vi phạm quy định về phương tiện tham gia GTĐB; các hành vi vi
Thanh Hóa có hệ thống giao thông thuận lợi cả về đường sắt, đường bộ và đường thủy.
- Tuyến đường sắt Bắc Nam chạy qua địa bàn Thanh Hóa dài 92 Km.
- Đường bộ có tổng chiều dài trên 8.000 km, trong đó có hệ thống quốc lộ quan trọng như:
+ Quốc lộ 1A, 45, 47, 217, 15, 10 và đường Hồ Chí Minh.
+ Hệ thống đường giao thông tỉnh tương đối đồng đều với hệ thống hơn 40 tuyến gồm các số hiệu từ
501 đến 530 và được đầu tư xây dựng với tổng chiều dài hơn 1.021,3 km.
+ Đường chuyên dùng có chiều dài 802 km.
+ Đường trục huyện, đường liên xã với chiều dài là: 1.964 km.
+ Đường trục xã với chiều dài: 3.136,6 km; và đường thôn xóm: 853,9 km.
Về mật độ giao thông:
- Thanh Hóa có hơn 1.600 km đường sông.
- Theo dân số: 3,274 km/1.000 người.
2.1.3. Đặc điểm giao thông đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Thanh Hóa là một tỉnh có vị trí địa lý, địa hình phức tạp, đồi núi và trung du, mạng lưới đường bộ
được hình thành lâu đời, phân bổ tương đối đồng đều giữa các vùng miền trong tỉnh, với các tuyến quốc
lộ: 1A, 217, 45, 47, 10, 15, và đường Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên do địa hình chia cắt, số lượng sông, suối nhiều, vì vậy Thanh Hóa cần một lượng kinh phí lớn để
đầu tư xây dựng mới và nâng cấp nhiều cầu, cống. Tính đến hết năm 2010, số lượng cầu được xây dựng tại các
quốc lộ 225 cầu, trên các tuyến đường tỉnh có 161 cầu.
2.1.4. Cơ cấu quản lý hệ thống giao thông đường bộ
Sở giao thông vận tải Thanh Hóa trực tiếp quản lý 554 km quốc lộ, còn lại do Công ty quản lý đường
bộ 472 (Thuộc Khu quản lý đường bộ IV- Cục đường bộ Việt nam) trực tiếp quản lý. Với 41 tuyến tỉnh
lộ, tổng chiều dài là 1.021,3 km, trong đó Sở giao thông vận tải Thanh Hóa trực tiếp quản lý 308 km còn
lại do các huyện trực tiếp quản lý.
Các tuyến đường do các huyện quản lý, huyện sử dụng các đội giao thông (hoặc đã chuyển đổi thành
các xí nghiệp) của huyện để trực tiếp quản lý. Các đơn vị được Sở giao thông vận tải giao quản lý đường
bộ và cơ cấu của các đơn vị như sau:
- Công ty quản lý đường bộ I Thanh Hóa có văn phòng Công ty và 07 hạt, 01 đội công trình.
- Công ty quản lý đường bộ II Thanh Hóa có văn phòng Công ty và 07 hạt, 01 đội công trình và 01
đội cơ giới.
phép lái xe 4.257 trường hợp, năm 2004 tước giấy phép lái xe 2.759 trường hợp, đánh dấu vi phạm trên
giấy phép lái xe 10.402 trường hợp, năm 2005 tước 2.778 trường hợp, đánh dấu vi phạm trên giấy phép
lái xe 23.785 trường hợp, năm 2006 tước giấy phép lái xe 1.021 trường hợp, đánh dấu vi phạm trên giấy
phép lái xe 2.638 trường hợp, năm 2007 tước giấy phép lái xe 1.111 trường hợp, đánh dấu vi phạm trên
giấy phép lái xe 796 trường hợp, năm 2008 tước giấy phép lái xe 1.798 trường hợp, năm 2009 tước giấy
phép lái xe 868 trường hợp và năm 2010 tước giấy phép lái xe 2.176 trường hợp.
Tai nạn GTĐB từ năm 2003 đến năm 2010 trên toàn tỉnh Thanh Hóa diễn biến phức tạp thể hiện qua
bảng tổng hợp:
2.3. Thực trạng vi phạm hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa và công tác
xử lý vi phạm
2.3.1. Tình hình vi phạm hành lang an toàn đường bộ
Tình hình vi phạm hành lang đối với các quốc lộ 1A, 45, 47, 10, 217, 15, đến tháng 12 năm 2010 qua
bảng tổng hợp sau:
Bảng 2.1: Thống kê số lượng nhà dân, công trình dịch vụ xăng dầu,
mở đường ngang đấu nối vào các quốc lộ 1A, 45, 47, 10, 217, 15
đến tháng 12 năm 2010
TT
Tên đường
Tổng số
Nhà ở (hộ)
Dịch vụ
xăng, dầu
(dịch vụ)
Mở đường
ngang đấu nối
vào quốc lộ
1
Quốc lộ 1A
1.066
875
08
293
Cộng
6.993
5.896
77
1.020
Nguồn: Sở Giao thông Vận tải tỉnh Thanh Hóa.
Tổng số công trình nằm trong hành lang ATGT đường Hồ Chí Minh theo thống kê đến tháng 12 năm
2010:
Bảng 2.2: Thống kê số công trình nằm trong hành lang ATGT
đường Hồ Chí Minh đến tháng 12 năm 2010
TT
Tên huyện
Tổng số công trình
Ghi chú
1
Huyện Cẩm Thủy
757 hộ
Km 109 Km 126
2
Huyện Thạch Thành
69 hộ
Từ Km 106 Km 109
3
Huyện Thường Xuân
348 hộ
Từ Km 167+435 Km 178+380
4
hành lang bảo vệ đường bộ an toàn đường bộ tại các quốc lộ và đường Hồ Chí Minh là: Quảng Xương,
Đông Sơn, Triệu Sơn, Thọ Xuân, Hà Trung,Vĩnh Lộc, Yên Định, Cẩm Thủy, Bá Thước, Quan Sơn, Ngọc Lặc,
Lang Chánh, Quan Hóa, Hậu Lộc, Yên Định;
- Lắp đặt hoàn thiện trên 11 tuyến đường tỉnh biển báo hiệu bắt buộc đội mũ bảo hiểm và các biển
báo theo quy định.
- Cải tạo 15 đường nhánh đấu nối vào đường chính.
- Xử lý các hành vi của tổ chức và cá nhân tự ý mở đường ngang đấu nối trái phép vào quốc lộ; lấn
chiếm và sử dụng lòng, lề đường làm nơi họp chợ; phơi rơm rạ, tự ý để các vật liệu, vật tư ra hành lang;
Từ việc lấn chiếm, xây dựng công trình trong hành lang an toàn đường bộ đã và đang gây ra nhiều
hậu quả nghiêm trọng. Đó là:
Thứ nhất, sẽ phá vỡ quy hoạch phát triển hạ tầng GTĐB, gây lãng phí đáng kể nguồn vốn đầu tư xây
dựng mạng lưới đường bộ.
Thứ hai, không đảm bảo các chỉ tiêu kỹ thuật ban đầu của đường bộ, hạn chế tầm nhìn cho phương
tiện tham gia giao thông, gây khó khăn cho công tác tổ chức GTĐB.
Thứ ba, hành vi vi phạm hành lang an toàn đường bộ là biểu hiện của việc coi thường pháp luật, ảnh
hưởng đến trật tự ATGT và TTATXH.
Điều này đòi hỏi các cấp, ngành trong toàn tỉnh Thanh Hóa cần nghiêm túc nhìn nhận và biện pháp
thực hiện các biện pháp:
Thứ nhất, là đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, pháp luật phải được mọi tổ chức, cá nhân tôn
trọng và thực hiện. Mọi hành vi vi phạm pháp luật phải được xử lý nghiêm minh, kịp thời. Mọi hậu quả
do hành vi vi phạm hành lang an toàn đường bộ phải được khắc phục theo quy định của pháp luật. Các
hình thức xử lý vi phạm phải đảm bảo được chức năng điều chỉnh của pháp luật, hướng các hoạt động bảo
vệ hành lang an toàn đường bộ vào đúng trật tự, đảm bảo sự bền vững của công trình và an toàn cho mọi
hoạt động GTĐB.
Thứ hai, xử lý tốt các hành vi vi phạm hành lang an toàn đường bộ sẽ góp phần rất lớn vào việc giảm
thiểu hậu quả dẫn tới đô thị hóa các tuyến đường, làm mặt đường bị thu hẹp, tạo ra các xung đột bất ngờ
trên đường chính, phá vỡ các chỉ tiêu kỹ thuật ban đầu của tuyến đường, làm phức tạp cho tổ chức giao
thông, gây mất an toàn cho người và phương tiện tham gia giao thông.
Thứ ba, việc xử lý nghiêm những vi phạm về hành lang an toàn đường bộ có tác dụng rất lớn trong
việc giáo dục người dân nâng cao ý thức hay nói cách khác là làm cho các tổ chức, cá nhân có thói quen
chỉnh các quan hệ phát sinh trong lĩnh vực GTĐB, tính đồng bộ chưa cao
Bà là, tính khoa học, chính xác, kỹ thuật lập pháp khi xây dựng pháp luật GTĐB chưa cao.
Điều 1 Luật GTĐB năm 2008 xác định phạm vi điều chỉnh là về quy tắc GTĐB; kết cấu hạ tầng
GTĐB; vận tải đường bộ và QLNN về GTĐB, mà hệ thống báo hiệu đường bộ không được đề cập đến, nó
được nhà làm luật đưa vào chương quy tắc GTĐB (Điều 10 và Điều 11).
Hệ thống báo hiệu đường bộ là cách thức dùng để báo, chỉ dẫn hoặc điều khiển quá trình tham gia
giao thông của người và phương tiện đường bộ nhằm đảm bảo ATGT. Khoản 1 Điều 10 Luật GTĐB năm
2008 quy định: "Hệ thống báo hiệu đường bộ gồm hiệu lệnh của người điều khiển giao thông, tín hiệu đèn
giao thông, biển báo hiệu, vạch kẻ đường, cọc tiêu hoặc tường bảo vệ, hàng rào chắn". Hệ thống báo hiệu
đường bộ có quan hệ hữu cơ với quy tắc GTĐB. Với đặc tính "thông báo", nó góp phần biểu thị quy tắc
GTĐB cho người đang lưu thông trên đường biết để tuân theo. Hệ thống báo hiệu đường bộ là một mắt xích
quan trọng để cấu thành pháp luật GTĐB luôn được bổ sung và sửa đổi thường xuyên để phù hợp với hoạt
động giao thông vận tải trong từng giai đoạn. Cho nên vấn đề này cần được xác định là một nội dung nằm
trong phạm vi điều chỉnh của Luật GTĐB và tách rời khỏi quy tắc GTĐB. Như vậy, nó sẽ khoa học và
chính xác hơn.
Tại Điều 3 Luật GTĐB năm 2008 đưa ra và giải thích 32 thuật ngữ liên quan đến hoạt động GTĐB.
Nhưng tại các điều khoản khác của Luật GTĐB lại tiếp tục giải thích các thuật ngữ khác (tại khoản 1 Điều 39
giải thích các thuật ngữ "mạng lưới đường bộ"; Điều 64 giải thích hoạt động vận tải đường bộ). Đáng lẽ phải
tập trung giải thích các thuật ngữ cần giải thích và một điều luật, như vậy nó sẽ tránh sự tản mạn, người đọc,
người nghiên cứu, người áp dụng sẽ thấy dễ hiểu, dễ áp dụng, thể hiện kỹ thuật lập pháp cao hơn. Mặt
khác nội dung giải thích thuật ngữ còn chưa đủ, chưa đảm bảo tính khái quát, chính xác và thật sự khoa
học. Chẳng hạn như thuật ngữ người tham gia GTĐB thì được giải thích là người điều khiển, người sử
dụng phương tiện tham gia GTĐB; người điều khiển, dẫn dắt súc vật; người đi bộ trên đường bộ còn
những người làm một số công việc khác như nhân viên môi trường, người sửa chữa, thay thế, sửa chữa,
làm mới các hạng mục nằm trong kết cấu hạ tầng không được là xác định là người tham gia giao thông.
Thứ sáu, công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật.
Công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật có nội dung và hình thức chưa thực sự phù hợp
với từng vùng, từng đối tượng, nhất là đồng bào ở nông thôn, vùng sâu, vùng xa, thường mới chỉ tập
trung ở các thành phố, thị xã, các huyện miền xuôi, đồng bằng, một số vùng miền núi công tác tuyên
truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật chưa thực sự đến được với đồng bào dân tộc thiểu số. Chưa có sự
GTĐB năm 2008 thành một luật riêng. Khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật GTĐB là phải đảm bảo được tính
đồng bộ với nhiều ngành luật như: Luật Hiến pháp, Luật hành chính, Luật hình sự, Luật đất đai.
3.2. Tăng cường tuần tra, kiểm soát, xử lý nghiêm minh, triệt để, kịp thời mọi hành vi vi phạm
pháp luật giao thông đường bộ
Hoạt động xử lý các hành vi vi phạm pháp luật GTĐB hiện nay có nhiều lực lượng tham gia như lực
lượng cảnh sát (chủ yếu là lực lượng Cảnh sát giao thông), lực lượng Thanh tra giao thông vận tải và chính
quyền các cấp.
Tiếp tục tập trung chỉ đạo, củng cố và tổ chức lại lực lượng tuần tra kiểm soát giao thông, nâng cao
trình độ, nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của những người thi hành công vụ, đảm bảo phát hiện kịp thời
mọi vi phạm pháp luật GTĐB và xử lý nghiêm minh.
Tiếp tục tăng cường trang thiết bị cho các lực lượng chức năng và biên chế cho các đơn vị cho phù hợp với
tình hình phát triển chung đặc biệt là với lực lượng Thanh tra giao thông vận tải tại tỉnh Thanh Hóa.
3.3. Tăng cường công tác kiểm định chất lượng an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường đối với
xe cơ giới, quản lý phương tiện xe cơ giới và công tác đào tạo, sát hạch thi cấp giấy phép lái xe
Để đảm bảo an toàn trong lĩnh vực GTĐB, các đơn vị chức năng trong tỉnh phải thực hiện tốt một số
nội dung:
- Tổ chức tổng kiểm tra phương tiện cơ giới. Trong đó đặc biệt chú ý đến hình thức kiểm định.
- Quản lý chặt chẽ hơn phương tiện, hạn chế và tiến tới không cho các loại phương tiện không đảm
bảo tiêu chuẩn an toàn kỹ thuật của phương tiện cơ giới đường bộ tham gia GTĐB.
- Tổ chức thực hiện nghiêm chỉnh quy định niên hạn sử dụng đối với xe ô tô chở hàng và xe ô tô chở
người.
Do vậy về phía cơ quan chuyên môn là Sở giao thông vận tải Thanh Hóa, cần tham mưu cho UBND
tỉnh đồng thời trong phạm vi chức năng cần quan tâm một số những nội dung sau:
- Các trường, trung tâm đào tạo, sát hạch lái xe đã được cấp phép trên toàn tỉnh phải nghiên cứu ứng dụng
khoa học công nghệ vào khâu sát hạch.
- Đối với Sở giao thông vận tải cần tham mưu cho UBND tỉnh có quy hoạch lại hệ thống cơ sở đào
tạo lái xe theo hướng mỗi pháp nhân chỉ có một điểm đào tạo tại một địa phương, liên kết các cơ sở đào
tạo nhỏ thành cơ sở đào tạo lớn.
- Thực hiện nghiêm túc các quy định về chương trình, thời gian đào tạo của Bộ giao thông vận tải,
đồng thời coi trọng việc đào tạo đội ngũ giáo viên, sát hạch viên có đủ trình độ chuyên môn và phẩm chất
đường bộ trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa" và trình bày một số nội dung khác trong phần mở đầu, luận văn
đã nghiên cứu một số vấn đề cơ bản sau:
1. Luận văn đã trình bày một số vấn đề chung về GTĐB với những vấn đề như đưa ra khái niệm về
giao thông, GTĐB, hành lang an toàn đường bộ, trật tự ATGTĐB, vi phạm hành chính trong lĩnh vực
GTĐB, xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB.
2. Luận văn nêu lên thực trạng vi phạm pháp luật GTĐB, hành lang an toàn đường bộ trên địa bàn
tỉnh Thanh Hóa từ năm 2003 đến 2010 và công tác xử lý vi phạm của các lực lượng chức năng. Tìm ra
nguyên nhân chính của việc vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, từ đó có thể giúp các cơ quan
QLNN hoạch định những chính sách nhằm đảm bảo ổn định trật tự ATGT trong tỉnh Thanh Hóa để phát
triển kinh tế- xã hội.
3. Từ việc đánh giá thực trạng ở Chương 2, tìm ra nguyên nhân của các hành vi vi phạm pháp luật
GTĐB ở Thanh Hóa, luận văn đã đưa ra những giải pháp nhằm hạn chế vi phạm pháp luật GTĐB trên địa
bàn tỉnh nhằm tăng cường hiệu quả xử lý vi phạm hành chính trong lĩnh vực GTĐB, hạn chế vi phạm
pháp luật GTĐB, đồng thời cung cấp những số liệu chính xác về tình hình trật tự ATGT tại tỉnh Thanh
Hóa như số vụ vi phạm pháp luật GTĐB, số người chết và bị thương do tai nạn GTĐB từ năm 2003 đến
năm 2010, giúp cho các cơ quan QLNN có cái nhìn tổng quát về tình hình trật tự ATGTĐB đồng thời đưa
ra những biện pháp quản lý mới, thiết thực phù hợp với văn hóa, đời sống, phong tục, tập quán sinh hoạt
của nhân dân trong tỉnh, nâng cao được hiệu quả hoạt động QLNN trong lĩnh vực GTĐB ở Thanh Hóa
hiện nay và những năm tiếp theo.
Đất nước ta kể từ Đại hội đại biểu lần thứ VI đã trải qua hơn 20 năm đổi mới phát triển đất nước theo
đường lối, quan điểm chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, kinh tế đã có những phát triển vượt bậc, văn hóa- xã hội và
đời sống nhân dân trong nước được nâng lên, an ninh quốc phòng được giữ vững. Lòng tin của nhân dân vào
Đảng và Nhà nước ngày càng mãnh liệt. Bên cạnh những thành tựu, trong bối cảnh đất nước ta đang đứng
trước những nhiệm vụ to lớn, tiếp tục thực hiện cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng nhà nước pháp quyền xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, là nhiệm vụ đặc biệt quan trọng, song cũng không kém phần khó khăn và phức tạp.
Trong những nội dung đã được trình bày trong luận văn, tác giả hy vọng những luận chứng, giải pháp đề cập
trong luận văn sẽ có những giá trị tham khảo đối với các cấp ủy, chính quyền tỉnh Thanh Hóa trong việc đưa ra
giải pháp giảm thiểu TNGT một cách ổn định, giữ vững trật tự ATGT, phát triển kết cấu hạ tầng GTĐB bền
vững phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế trong toàn tỉnh và thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp
hóa, hiện đại hóa do Tỉnh ủy, UBND tỉnh Thanh Hóa lãnh đạo.
14. Bộ Công an (2009), Thông tư số 27/2009/TT-BCA (C11) ngày 06/5 về quy trình tuần tra, kiểm soát
và xử lý vi phạm trong lĩnh vực giao thông đường bộ, Hà Nội.
15. Bộ Giao thông Vận tải (2001), Quyết định số 5952/GTVT ngày 29/01 về việc sử dụng hành lang an
toàn đường bộ và mở đường ngang đấu nối với quốc lộ, Hà Nội.
16. Bộ Giao thông Vận tải (2001), Quyết định số 4393/2001/QĐ-BGTVT ngày 20/12 Bộ Giao thông Vận
tải về việc ban hành Điều lệ báo hiệu đường bộ, Hà Nội.
17. Bộ Giao thông Vận tải (2001), Chương trình hành động quốc gia về an toàn giao thông giai đoạn
2001-2005, Hà Nội.
18. Bộ Giao thông Vận tải (2004), Thông báo số 380/TB-BGTVT ngày 06/8 về việc thông báo tình hình
vi phạm hành lang trên các tuyến quốc lộ, các biện pháp giải quyết, Hà Nội.
19. Bộ Giao thông Vận tải (2004), Quyết định số 38/2004/QĐ-BGTVT ngày 24/12 quy định trách nhiệm
và hình thức xử lý đối với tổ chức cá nhân vi phạm trong quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông
đường bộ, Hà Nội.
20. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Thông tư số 07/2010/TT-BGTVT ngày 11/ 02 quy định về tải trọng, khổ
giới hạn của đường bộ; lưu hành xe quá tải trọng, xe quá khổ giới hạn, xe bánh xích trên đường bộ;
vận chuyển hàng siêu trường, siêu trọng; giới hạn xếp hàng hóa trên phương tiện giao thông đường bộ
khi tham gia giao thông trên đường bộ, Hà Nội.
21. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Thông tư 08/2010/TT-BGTVT ngày 19/3 quy định nhiệm vụ, quyền
hạn của Thanh tra đường bộ, Hà Nội.
22. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Thông tư số 14/2010/TT- BGTVT ngày 24/6 quy định về tổ chức và
quản lý hoạt động vận tải bằng xe ô tô, Hà Nội.
23. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Thông tư số 21/2010/TT-BGTVT ngày 10/8 quy định nhiên hạn sử dụng đối
với xe ô tô chở hàng và ô tô chở người, Hà Nội.
24. Bộ Giao thông Vận tải (2010), Thông tư số 24/2010/TT-BGTVT ngày 31/8 quy định về bến xe, bãi đỗ
xe, trạm dừng, nghỉ và dịch vụ hỗ trợ vận tải đường bộ, Hà Nội.
25. Bộ Giao thông Vận tải - Bộ Tài chính (2010), Thông tư số 129/2010/TTLT-BGTVT-BTC ngày 27/8
hướng dẫn thực hiện giá cước vận tải đường bộ, Hà Nội.
26. Chính phủ (1995), Nghị định số 36/CP ngày 29/5 về đảm bảo trật tự an toàn giao thông đường bộ,
giao thông đô thị, Hà Nội.
27. Chính phủ (1995), Nghị định 49/NĐ-CP ngày 26/7 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh
43. Cục Đường bộ Việt Nam - Cục cảnh sát Quản lý hành chính và trật tự xã hội (2003), Quy chế phối hợp về
đảm bảo trật tự hành lang an toàn giao thông, bảo vệ công trình giao thông và hành lang an toàn đường bộ,
Hà Nội.
44. Vũ Ngọc Dương (2009), "Thực trạng và giải pháp về trật tự an toàn giao thông đường bộ trên địa bàn
tỉnh Hải Dương", (Đề tài nghiên cứu cấp Bộ), Khoa học công nghệ và môi trường, (4).
45. Đại học Quốc gia Hà Nội, Giáo trình Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Đại học quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
46. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XV, Thanh Hóa.
47. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2005), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, Thanh Hóa.
48. Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa (2010), Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII, Thanh Hóa.
49. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà
Nội.
50. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
51. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
52. Đảng Cộng sản Việt Nam (2001), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX, Nxb Chính trị
quốc gia, Hà Nội.
53. Đảng Cộng sản Việt Nam (2006), Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nxb Chính trị quốc
gia, Hà Nội.
54. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học nhà nước
và pháp luật, tập I: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
55. Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh (2007), Tài liệu học tập và nghiên cứu môn học nhà nước
và pháp luật, tập II: Lý luận chung về nhà nước và pháp luật, Nxb Lý luận chính trị, Hà Nội.
56. Nguyễn Quang Huy (2007), Thực hiện pháp luật trong lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông
(qua thực tế tỉnh Thái Nguyên). Luận văn thạc sĩ Luật học, Khoa Luật - Đại học quốc gia Hà Nội.
57. Lê Thị Huyền - Minh Trí, Từ điển tiếng Việt, Nxb Thanh niên, Hà Nội.
58. Trần Văn Luyện, Trần Sơn, Nguyễn Văn Chính (2003), Trật tự an toàn giao thông đường
bộ - Thực trạng và giải pháp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
59. C. Mác - Ph. Ăngghen - V.I. Lênin (1983), Bàn về giao thông vận tải, Nxb Sự thật, Hà Nội.
truyền, phổ biến pháp luật, Hà Nội.
79. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2003), Chỉ thị số 03/2003/CT-UB ngày 21/11 của Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc thực hiện một số biện pháp cấp bách làm giảm tai nạn giao thông,
Thanh Hóa.
80. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2004), Công văn số 2916/UB-CN ngày 29/7 về việc giải phóng
mặt bằng và bảo vệ hành lang an toàn trên các tuyến quốc lộ và đường Hồ Chí Minh, Thanh Hóa.
81. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2004), Quyết định số 2493/QĐ-UBND ngày 17/9 của Chủ tịch ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa phê duyệt Đề án "Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, vận động, hướng
dẫn quần chúng nhân dân chấp hành pháp luật về giao thông đường bộ", Thanh Hóa.
82. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2004), Quyết định số 2959/QĐ-CT ngày 21/9 của Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc giải phóng mặt bằng và bảo vệ hành lang an toàn giao thông trên
các tuyến quốc lộ và đường Hồ Chí Minh, Thanh Hóa.
83. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005), Công văn số 4455/UBND-CN ngày 28/10 về việc kiểm tra,
xử lý vi phạm hành lang an toàn giao thông đường Hồ Chí Minh, Thanh Hóa.
84. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005), Chỉ thị số 06/CT-UB ngày 24/01 của Chủ tịch Ủy ban nhân
dân tỉnh Thanh Hóa về công tác đảm bảo trật tự an toàn giao thông năm 2005, Thanh Hóa.
85. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005), Công văn số 285/CV-CT ngày 24/về việc giảm ngay các vi
phạm hành lang an toàn và tăng cường công tác quản lý hành lang an toàn giao thông đường bộ,
Thanh Hóa.
86. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005), Chỉ thị số 19/2005/CT-UBND ngày 15/5 của Chủ tịch ủy
ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc quản lý xe công nông tham gia giao thông đường bộ, Thanh
Hóa.
87. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2005), Quyết định số 1446/QĐ-CT ngày 01/6 của Chủ tịch ủy ban
nhân dân tỉnh Thanh Hóa về việc phê duyệt Đề án ngăn chặn đẩy lùi tai nạn giao thông trên các
tuyến quốc lộ 1A, 45, 47 và Đường Hồ Chí Minh- Tỉnh Thanh Hóa, Thanh Hóa.
88. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2006), Chỉ thị 04/CT-UBND ngày 20/01 về công tác bảo đảm trật tự
an toàn giao thông năm 2006, Thanh Hóa.
89. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2007), Chỉ thị số 02/CT-UBND ngày 12/01 về việc triển khai một
số biện pháp cấp bách làm giảm tai nạn giao thông trong dịp tết Đinh Hợi năm 2007, Thanh Hóa.
90. Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa (2007), Chỉ thị số 23/CT-UBND ngày 25/7 về một số giải pháp cấp