Các quy định của pháp luật đất đai về xử lý vi phạm pháp luật đối với người quản lý đất đai - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Ly hôn là một hiện tượng xã hội xuất hiện ngày càng nhiều cùng với sự
phát triển của xã hội và ngày càng được xã hội quan tâm vì những hậu quả nặng
nề, không mong muốn của nó. Khi cuộc sống vợ chồng rơi vào tình trạng trầm
trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt
được thì ly hôn là lối thoát cho cuộc sống bế tắc, không còn tình cảm của hai vợ
chồng. Nhưng hậu quả pháp lý và xã hội mà nó để lại ảnh hưởng nghiêm trọng
đến một đối tượng vốn là niềm hạnh phúc của hai vợ chồng - đó là những đứa
con. Những đứa trẻ ngây thơ vốn cần sự yêu thương, chăm sóc của cả cha và mẹ
trong một gia đình êm ấm phải chịu cảnh gia đình tan nát, nếu không có sự bảo
vệ sẽ rất dễ đánh mất cả tuổi thơ và tương lai. Vì vậy, vấn đề rất được xã hội
quan tâm khi vợ chồng ly hôn là bảo vệ quyền lợi của những đứa con. Và pháp
luật đã đóng vai trò không thể thiếu để bảo vệ những đứa trẻ vô tội này. Đó cũng
là nguyên tắc cơ bản, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong Luật HN&GĐ Việt Nam.
Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời đã góp phần tích cực và quan trọng trong
việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn với những nội dung cơ bản như
quy định về nguyên tắc giao con cho ai nuôi là vì quyền lợi mọi mặt của con;
quy định về mức cấp dưỡng, phương thức cấp dưỡng nuôi con, quyền thăm nom
con; quy định về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con khi quyền lợi mọi mặt
của con không được đảm bảo …
Tuy nhiên, bên cạnh những tác dụng lớn lao mà nguyên tắc đem lại, trên
thực tế vấn đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn còn gặp nhiều khó
khăn, vướng mắc do nhiều nguyên nhân khác nhau.Vậy, trên thực tế, nguyên tắc
đó đã được Toà án áp dụng như thế nào, những gì đã làm được và chưa làm
được và những giải pháp thích hợp để nguyên tắc đó được áp dụng hiệu quả
trong các vụ ly hôn là một vấn đề thực tế rất cần được quan tâm.
Được nghiên cứu rõ hơn về nguyên tắc này là nung nấu của tôi từ khi
bước chân vào trường đại học Luật, và với sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo
Website: Email : Tel : 0918.775.368
trong tổ bộ môn Luật HN&GĐ, tôi mạnh dạn chọn đề tài : ‘‘Bảo vệ quyền lợi

C.Mác đã nói: Pháp luật là ý chí của giai cấp thống trị được đề lên thành luật
(1)
.
Vì vậy, khi các hình thái kinh tế xã hội thay đổi theo hướng ngày càng tiến bộ
thì vấn đề ly hôn ngày càng được nhìn nhận một cách tiến bộ hơn.
Đặc trưng của quan hệ HN&GĐ dưới chế độ phong kiến là tư tưởng trọng
nam khinh nữ, bảo vệ quyền gia trưởng của người đàn ông, chế độ đa thê và
những quy định hà khắc, những căn cứ bất bình đẳng về ly hôn… Khi hôn nhân
không xuất phát từ tình yêu, gia đình không được xây dựng trên nguyện vọng
cùng nhau xây đắp thì ly hôn chỉ là một thứ công cụ để bảo vệ cho hệ tư tưởng
của chế độ phong kiến cũng như lợi ích của giai cấp phong kiến. Nó chỉ là công
cụ để người chồng có cơ hội tự cho mình quyền bỏ vợ với những lý do hết sức
bình thường như không có con, ghen tuông, lắm lời… và lấy đi của người vợ
quyền bỏ chồng khi cuộc hôn nhân đó chỉ còn là xiềng xích trói buộc, là một sự
đau khổ dằn vặt về cả thể chất lẫn tinh thần.
1()
Theo Mac-Anghen, Tuyển tập, Tập 1, Nxb. Sự thật, H. 1980, tr.262, 263
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Trong xã hội tư sản, khi xã hội đã tiến lên một bước dài trong lịch sử,
những quan hệ về HN&GĐ cũng có sự phát triển đáng kể với những quy định
như tự do yêu đương, hôn nhân một vợ một chồng, tự do ly hôn… Tuy nhiên,
nhìn vào bản chất vấn đề, những quy định trên vẫn không thoát khỏi hệ tư tưởng
của giai cấp tư sản do bị rằng buộc bởi những quy định ngăn cấm của nhà làm
luật. Vì vậy, những quy định này dù rất tiến bộ nhưng rất khó thực hiện trên
thực tế, và chỉ mang tính hình thức. Lê nin đã nói: ‘‘Dưới chế độ tư bản chủ
nghĩa, quyền ly hôn cũng như tất cả mọi quyền dân chủ khác, không loại trừ một
quyền nào đều không thể thực hiện một cách dễ dàng được, nó lệ thuộc vào nhiều
điều kiện, bị giới hạn, bị thu hẹp và có tính chất hình thức’’
(1)
. Chúng ta có thể

Nam năm 2000 quy định: ‘‘ Ly hôn là việc chấm dứt quan hệ hôn nhân do Toà
án công nhận hoặc quyết định theo yêu cầu của vợ hoặc của chồng hoặc cả hai
vợ chồng’’. Như vậy khi nhận thấy cuộc hôn nhân của mình là sai lầm, quan hệ
vợ chồng luôn căng thẳng, nặng nề thì ai cũng có thể đứng ra yêu cầu Toà án
chấm dứt quan hệ đó. Toà án sẽ là người thứ ba nhìn nhận, xem xét toàn diện
vấn đề và đưa ra quyết định cuối cùng. Đảm bảo quyền tự do ly hôn là một nội
dung quan trọng của nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ đã được ghi nhận
tại Điều 64 Hiến pháp Việt Nam năm 1992 và được cụ thể hoá tại Điều 2 Luật
HN&GĐ năm 2000. Tuy nhiên, tự do ly hôn không phải là tự do một cách tuỳ
tiện mà phải dựa vào những căn cứ luật định. Đó là khi quan hệ vợ chồng lâm
vào “tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn
nhân không đạt được’’(Khoản 1 Điều 89 Luật HN&GĐ năm 2000). Và ly hôn
chỉ có giá trị pháp lý khi nó được Toà án công nhận.
Căn cứ ly hôn đã được đánh giá một cách tổng quát mà sâu sắc, đi đến tận
cùng bản chất của mọi nguyên nhân. Đó là khi quan hệ hôn nhân ấy thực sự tan
vỡ, mọi cố gắng để duy trì đời sống chung đã trở thành vô ích, sự tồn tại của nó
chỉ làm cho tình trạng gia đình càng thêm trầm trọng. Điều này rất khác với
những căn cứ ly hôn dựa vào yếu tố lỗi – chỉ dựa vào hiện tượng mà không đi
vào bản chất của vấn đề.
Như vậy, trong các thời kỳ khác nhau, khái niệm ly hôn được hiểu rất
khác nhau về bản chất. Ở chế độ phong kiến và tư sản ly hôn chỉ được nhìn nhận
dưới góc độ tiêu cực: do lỗi của một bên gây ra, thì ở chế độ XHCN nó được
nhìn nhận ở một khía cạnh tích cực: là lối thoát cho một cuộc sống bế tắc. Vì
vậy, căn cứ ly hôn và vai trò của cơ quan xét xử ở các thời kỳ khác nhau cũng
rất khác nhau. Ở thời kỳ phong kiến và tư bản, cơ quan xét xử không quan tâm
nhiều đến cuộc sống tình cảm của vợ chồng đã thực sự chấm dứt chưa mà chỉ
cần xem xét “ lỗi’’ mà các bên đưa ra có đúng và hợp lý không. Vì vậy, việc xét
xử hoàn toàn thụ động. Còn ở chế độ XHCN, Toà án với vai trò là người thứ ba
nhìn nhận vấn đề một cách khách quan, đi vào bản chất của vấn đề để quyết định
Website: Email : Tel : 0918.775.368

Website: Email : Tel : 0918.775.368
với tình cảm yêu thương, quấn quýt nhau giữa các anh, chị, em trong một gia
đình.
Sau khi ly hôn, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ và con vẫn không hề thay
đổi nhưng do con chỉ được sống với một người nên cách thức thực hiện các
quyền và nghĩa vụ của cha mẹ có một số thay đổi, đặc biệt là đối với người
không trực tiếp nuôi con. Đứa con chỉ được sự chăm sóc, nuôi dưỡng trực tiếp
bởi một người và người kia thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình một cách gián
tiếp. Đối với người không trực tiếp nuôi con, trẻ chỉ nhận được sự chăm sóc,
nuôi dưỡng qua việc thăm nom, cấp dưỡng. Đây chỉ là một sự cố gắng bù đắp
chứ không thể lấp đầy khoảng trống về tình cảm trong lòng những đứa trẻ còn
ngây thơ. Chính những hậu quả pháp lý đó đã gây ra những hậu quả về mặt xã
hội rất nặng nề, ảnh hưởng tới cuộc sống và sự phát triển của các em.
Cha mẹ bất hoà luôn ảnh hưởng tới sự phát triển của con về mặt tâm lý.
Những cảnh cãi vã nhau, những câu chì chiết, những câu chửi hay những lần
đánh nhau trước mặt con lúc nào cũng có hại và sẽ rất khó xoá nhoà trong những
ký ức tuổi thơ của con. Trẻ rơi vào tình trạng luôn lo lắng, bất an, có cảm giác bị
bỏ rơi. Cũng có trường hợp trẻ tự kết tội mình có phần nào trách nhiệm trong sự
chia ly của bố mẹ. Sự buồn bã, sự suy nhược, sự cách ly, sự mất ngủ, những cơn
ác mộng và những nỗi sợ hãi, ám ảnh ban đêm… đều có khả năng chế ngự trong
đời sống tinh thần của đứa trẻ. Kết quả học tập cũng có phần sụt giảm. Đôi khi
đứa trẻ chuyển sự thô bạo trong gia đình sang những quan hệ xã hội. Trong
những trường hợp khác, chúng chọn thái độ của một người lớn trưởng thành
sớm, chúng già dặn và không còn sự hồn nhiên như bạn bè cùng lứa.
Trẻ sống trong các gia đình ly hôn thường rất mặc cảm trong cuộc sống,
ngại tiếp xúc, kín kẽ khi nói về bản thân và gia đình không trọn vẹn của mình.
Nhìn xa hơn ở những trường hợp cha mẹ ly hôn mà cả hai đều chạy theo cuộc
sống riêng tư của mình, những đứa trẻ bỗng dưng bị bỏ rơi, lạc lõng giữa cuộc
đời. Và một thực tế là những trẻ đó rất dễ vướng vào những cạm bẫy của cuộc
đời và rơi vào con đường phạm pháp.

đúng nghĩa vụ của mình.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
 Sự cụ thể hoá của nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em trong
trường hợp đặc biệt
Bảo vệ trẻ em luôn là một điều được xã hội quan tâm, nhất là trong giai
đoạn hiện nay. Cả xã hội đã luôn cố gắng tạo điều kiện cho trẻ em được phát
triển một cách toàn diện. Nhà nước đã đưa ra rất nhiều chủ trương, chính sách
và nâng lên thành luật. Rất nhiều quyền lợi của trẻ được pháp luật bảo vệ như
quyền được cha mẹ chăm sóc, nuôi dưỡng, được học hành, được vui chơi và
phát triển toàn diện… Trẻ em có cha mẹ ly hôn là một đối tượng đặc biệt bởi vì
so với những trẻ khác thì chúng phải chịu nhiều thiệt thòi và bất hạnh. Do vậy,
pháp luật đã có những quy định để bảo đảm quyền lợi cho chúng. Và những quy
định của Luật HN&GĐ về trách nhiệm của cha mẹ khi ly hôn và những quyền
lợi của trẻ chính là một sự cụ thể hoá của nguyên tắc bảo vệ trẻ em trong trường
hợp đặc biệt.
 Sự tiếp nối truyền thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc.
Lịch sử đất nước ta từ xưa đến nay, tình mẫu tử, tình phụ tử luôn chiếm
một vị trí thiêng liêng trong trái tim người Việt. Dù cuộc sống vất vả, lam lũ, dù
đất nước chiến tranh liên miên nhưng giữa những khó khăn ấy vẫn sáng loà tình
cảm gia đình, tình yêu thương, sự hy sinh của cha mẹ cho con cái. Nó đã kết tinh
thành một giá trị tinh thần quý báu, đó là truyền thống dân tộc. Ngày nay khi
đất nước đang có những bước chuyển lớn trong lịch sử, truyền thống đó vẫn
được tiếp nối. Khi xã hội càng phát triển, sự quan tâm của xã hội đến trẻ em
ngày càng được chú trọng. Chúng ta đang cùng nhau nỗ lực để xây dựng một
nhà nước pháp quyền. Sự ghi nhận nghĩa vụ nuôi con của cha mẹ trong pháp
luật là một trong những biểu hiện của sự tiếp nối truyền thống đạo đức dân tộc,
đặc biệt là trong Luật HN&GĐ
 Thể hiện tính chất công bằng, dân chủ, nhân đạo của pháp luật
xã hội chủ nghĩa
Qua phân tích về bản chất của ly hôn dưới chế độ XHCN, chúng ta đã

việc quy định năm duyên cớ ly hôn chung cho cả vợ và chồng (Điều 2). Về vấn
đề bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn, Sắc lệnh đã có những quy định
Website: Email : Tel : 0918.775.368
rất tiến bộ, dù còn đơn lẻ: ‘‘Toà sẽ căn cứ vào quyền lợi của con vị thành niên để
ấn định việc trông nom, nuôi nấng và dạy dỗ chúng. Hai vợ chồng đã ly hôn phải
cùng nhau chịu phí tổn về việc nuôi dạy con, mỗi bên tuỳ theo khả năng của
mình’’ (Điều 6). Với những quy định hết sức tiến bộ, Sắc lệnh đã thể hiện được
tinh thần bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ và trẻ em, góp phần xoá bỏ hôn
nhân phong kiến, và là cơ sở để xây dựng Luật HN&GĐ năm 1959 và các Luật
HN&GĐ tiếp theo. Tuy nhiên, hạn chế của Sắc lệnh là sự quy định chưa đầy đủ,
ví dụ chưa có quy định nào bảo vệ những người con đã thành niên nhưng không
có khả năng tự đảm bảo cuộc sống.
Cuối những năm 50, ở miền Bắc, cuộc cải cách ruộng đất đã căn bản hoàn
thành, đất nước ta đang chuẩn bị những điều kiện vật chất và con người để tiến
lên XHCN nhưng những tàn dư của chế độ HN&GĐ phong kiến vẫn còn tác
động rất lớn đến cuộc sống của gia đình và xã hội. ‘‘Việc ban hành một đạo luật
mới về HN&GĐ trở thành một đòi hỏi cấp bách của toàn thể xã hội. Đó là một
tất yếu khách quan thúc đẩy sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc
nước ta’’
(1)
. Ngày 29/12/1959, Luật HN&GĐ đầu tiên của Nhà nước ta ra đời, là
công cụ pháp lý nhằm xoá bỏ những tàn tích của chế độ HN&GĐ phong kiến,
chống những ảnh hưởng của hôn nhân tư sản, xây dựng chế độ HN&GĐ mới
XHCN. Luật dựa trên bốn nguyên tắc cơ bản: hôn nhân tự do tiến bộ; một vợ
một chồng; nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ trong gia
đình; bảo vệ quyền lợi của con cái. Luật đã dành hẳn một chương để quy định về
vấn đề ly hôn và hậu quả pháp lý của ly hôn. Luật quy định: ‘‘Vợ chồng đã ly
hôn vẫn có đầy đủ quyền và nghĩa vụ đối với con chung’’ (Điều 31); ‘‘Khi ly hôn,
việc cho ai nuôi nấng, giáo dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền
lợi mọi mặt của con cái. Về nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ phụ trách. Người

ảnh hưởng của quan niệm về ly hôn của chủ nghĩa tư bản, việc giải quyết ly hôn
dựa trên cơ sở lỗi của hai vợ chồng nên những quy định về quyền và nghĩa vụ
của vợ chồng cũng đi theo hướng đó. Người không có lỗi trong việc làm gia
đình tan vỡ sẽ đương nhiên có quyền nuôi con dưới 16 tuổi, còn người có lỗi thì
có nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom con (Điều 89 và 90 Sắc luật số
15/64). Mặc dù đã có quy định cụ thể, rõ ràng về người trực tiếp nuôi con sau
khi vợ chồng ly hôn nhưng quy định này vẫn còn nhiều hạn chế. Con cái được
Website: Email : Tel : 0918.775.368
giao cho ai nuôi không dựa trên nguyên tắc vì quyền lợi của con mà dựa vào
những sai lầm của bố mẹ, cho dù sai lầm đó có thể là nhất thời, không liên quan
đến khả năng chăm sóc, nuôi dưỡng con cái. Vì vậy trong nhiều trường hợp,
quyền lợi chính đáng của con không được bảo vệ mặc dù có khả năng thực hiện
được điều đó.
Bước sang những năm 80, khi đất nước đã thống nhất và dần ổn định, tình
hình kinh tế xã hội đã có những biến chuyển, Hiến pháp năm 1980 ra đời quy
định nhiều nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của trẻ em… việc ban hành Luật
HN&GĐ mới áp dụng trên phạm vi cả nước là một nhu cầu cấp bách. Và sự ra
đời của Luật HN&GĐ năm 1986 đã tạo nên một bước phát triển lớn của pháp
luật HN&GĐ Việt Nam nói chung và bảo vệ quyền lợi của trẻ em khi cha mẹ ly
hôn nói riêng. Lần đầu tiên, bảo vệ quyền lợi của bà mẹ và trẻ em được ghi nhận
là một nguyên tắc cơ bản của Luật HN&GĐ (Điều 3).
Đến những năm 90, đất nước ta đã gặt hái được những thành công của
công cuộc đổi mới. Hiến pháp năm 1992 và BLDS năm 1995 là những văn bản
pháp luật lớn ra đời bổ sung rất nhiều quy định quan trọng liên quan đến lĩnh
vực HN&GĐ. Để cụ thể hoá các quy định trong Hiến pháp năm 1992 và BLDS
năm 1995 về HN&GĐ, củng cố gia đình theo truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
tránh ảnh hưởng của lối sống thực dụng của kinh tế thị trường đối với quan hệ
HN&GĐ, ngày 9/6/2000, Quốc hội đã thông qua Luật HN&GĐ năm 2000. Luật
HN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận bảo vệ quyền lợi của trẻ em là một trong
những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ : “Cha mẹ có nghĩa vụ nuôi dạy

cho các thành viên trong gia đình xa cách và dù thế nào cũng để lại một nổi
buồn lặng suốt quảng đời còn lại của mỗi người. Nhưng đáng thương hơn cả là
những đứa con. Chúng còn thơ dại chưa từng biết sự phức tạp của cuộc sống,
chưa thể hiểu được tại sao gia đình tan nát lại phải hứng chịu những mất mát đó.
Vì vậy, khi rơi vào cảnh cha mẹ ly hôn nhiều đứa trẻ đã trở nên thay đổi tính
nết, chúng già dặn hơn so với tuổi, hoặc trở thành những đứa trẻ trầm lặng, lầm
lỳ vì mặc cảm với bạn bè, hoặc trở nên thù ghét cha mẹ, thù ghét cuộc đời và rất
dễ hư hỏng. Sự phát triển và trưởng thành của những đứa trẻ luôn cần có sự vỗ
về yêu thương, chăm sóc dịu dàng của người mẹ, sự dìu dắt, dạy dỗ của người
cha. Nếu thiếu đi một người, sự phát triển về tính cách, lối sống, suy nghĩ của
đứa trẻ sẽ không đầy đủ và toàn diện. Và dù cuộc sống vật chất có đầy đủ thì
cũng khó mà bù đắp được cho tuổi thơ của các em, khó xóa đi được những mặc
Website: Email : Tel : 0918.775.368
cảm của các em trước xã hội. Cũng từ những vấn đề đó đã nảy sinh nhiều vấn đề
đáng quan tâm trong xã hội. Một phần lớn những đứa trẻ hư hỏng là những em
có gia đình không hạnh phúc, cha mẹ ly hôn, con cái không được quan tâm và
phạm pháp khi chúng còn vị thành niên. Vì vậy, sự can thiệp của xã hội, của
pháp luật để cha mẹ chúng thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình sau
khi ly hôn là rất cần thiết. Khoản 1 Điều 92 Luật HN&GĐ năm 2000 cũng quy
định : ‘‘Sau khi ly hôn, vợ chồng vẫn có nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, giáo dục,
nuôi dưỡng con chưa thành niên hoặc con đã thành niên bị tàn tật, mất năng lực
hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi
mình’’.
Như vậy, theo quy định của pháp luật thì đối tượng con mà cha mẹ có
nghĩa vụ nuôi dưỡng và được pháp luật bảo vệ quyền lợi khi cha mẹ ly hôn có
thể chia làm hai nhóm:
1.1. Các con chưa thành niên
Theo quy định của pháp luật dân sự, người chưa thành niên là người chưa
đủ mười tám tuổi. Ở lứa tuổi này các em có quyền nhận được sự chăm sóc, nuôi
dưỡng, giáo dục của cha mẹ vì chúng còn ngây thơ, chưa thể tự lo cho bản thân

trong trường hợp này là nghĩa vụ bắt buộc. Quy định này thể hiện tính nhân văn
sâu sắc, tính nhân đạo của pháp luật. Bởi vì, nếu chỉ dựa vào đạo đức, trách
nhiệm của cha mẹ, quyền lợi của những người con này không phải lúc nào cũng
được đảm bảo. Việc nó trở thành một nghĩa vụ luật định đã nâng cao trách
nhiệm của những người làm cha, mẹ. Pháp lệnh người tàn tật năm 1998 quy
định : người tàn tật là người ‘‘… bị khiếm khuyết một hay nhiều bộ phận cơ thể
hoặc chức năng biểu hiện dưới những dạng tật khác nhau, làm suy giảm khả
năng hoạt động, khiến cho lao động, sinh hoạt, học tập gặp nhiều khó khăn’’.
Nhưng không phải mọi người con đã thành niên bị tàn tật cha mẹ đều có nghĩa
vụ nuôi dưỡng mà chỉ những người không có khả năng lao động và không có tài
sản để tự nuôi mình. Còn những người đã đủ mười tám tuổi, bị tàn tật nhưng vẫn
lao động được thì họ có trách nhiệm với bản thân mình chứ không được dựa
dẫm hết vào cha mẹ.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Người mất năng lực hành vi dân sự theo quy định của BLDS là người do
bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được
hành vi của mình và có quyết định của Toà án tuyên bố người đó mất năng lực
hành vi dân sự. Vì vậy, pháp luật cũng quy định ‘‘Giao dịch dân sự của người
mất năng lực hành vi dân sự phải do người đại diện theo pháp luật xác lập, thực
hiện’’ (Khoản 2 Điều 22 BLDS năm 2005). Thường thì người tàn tật có thể nhận
thức được nhưng họ lại không có sức khoẻ để lao động, vì vậy họ cần người
nuôi dưỡng, chăm sóc ; người mất năng lực hành vi dân sự có thể có sức khoẻ
nhưng họ lại không ý thức được việc mình làm vì vậy họ phải có người trông
nom, chăm sóc và đại diện trước pháp luật. Vì vậy, luật HN&GĐ năm 2000 nêu
ra các đối tượng này là rất cụ thể và đầy đủ.
Nghĩa vụ và quyền của cha mẹ đối với con là nội dung cơ bản của Luật
HN&GĐ trong các thời kỳ. Tuy nhiên, quy định của pháp luật trong từng giai
đoạn có sự khác nhau và càng về sau càng tiến bộ, hợp lý hơn. Nếu như Luật
HN&GĐ năm 1959 mới chỉ dừng lại ở quy định một cách chung chung ‘‘Cha
mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái’’ (Điều 17) thì đến Luật

cho bố dượng hoặc mẹ kế những nghĩa vụ như nuôi con, cấp dưỡng cho con,
thăm nom con... mặc dù khi chưa ly hôn đứa con sống cùng trong gia đình và
việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con là nghĩa vụ luật định của họ.
Một đối tượng rất cần chú ý mà pháp luật cần quan tâm bảo vệ, đó là
những người con nuôi. Pháp luật Việt Nam quy định : ‘‘Nhà nước và xã hội
không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con
đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú’’ (Khoản 5 Điều 2 Luật
HN&GĐ năm 2000). Tuy nhiên, dù thế nào thì những người con này cũng
không có quan hệ huyết thống với cả cha và mẹ nuôi nên khi tình cảm giữa cha
mẹ nuôi đã hết, mái ấm gia đình không còn thì quyền lợi của các em cũng rất
mong manh. Trên cơ sở không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, pháp
luật đã mặc nhiên thừa nhận và bảo vệ quyền lợi của các em. Vì vậy, sau khi ly
hôn cha mẹ nuôi vẫn phải thực hiện nghĩa vụ của mình cho đến khi các em đã
thành niên và có khả năng lao động hoặc có tài sản để tự nuôi sống bản thân.
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2. Vấn đề giao con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất năng
lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để tự
nuôi mình cho ai nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp
Giao con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục là một vấn đề hết sức quan trọng,
có ý nghĩa quyết định đối với cuộc sống, với tương lai của các con. Bởi vì,
người trực tiếp nuôi con là người cùng sống với con trong một mái nhà, là người
có ảnh hưởng sâu sắc đến sự phát triển về nhân cách, trí tuệ, thể chất của người
con. Một quyết định sai lầm khi giao con cho người kia nuôi có thể dẫn đến
những hậu quả nghiêm trọng không thể khắc phục được. Vì vậy, dù việc giao
con cho ai nuôi dưỡng, giáo dục trực tiếp là sự thoả thuận của cha mẹ hay quyết
định của Toà án thì đều phải được xem xét một cách toàn diện và cẩn thận, dựa
trên quyền lợi của con.
2.1. Nguyên tắc giao con chưa thành niên, con đã thành niên bị tàn tật, mất
năng lực hành vi dân sự, không có khả năng lao động và không có tài sản để
tự nuôi mình cho bên nào nuôi dưỡng, giáo dục là vì quyền lợi mọi mặt của

người trực tiếp nuôi con. Quyền lợi về mọi mặt của con không chỉ là đáp ứng
những nhu cầu tối thiểu mà còn bao gồm những điều kiện cần thiết cho sự phát
triển về thể chất và trí tuệ của con. Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP ngày
23/12/2000 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn áp dụng một số quy
định của Luật HN&GĐ năm 2000 chỉ rõ quyền lợi mọi mặt của con là ‘‘các
điều kiện cho sự phát triển thể chất, bảo đảm việc học hành và các điều kiện cho
sự phát triển tốt về tinh thần ’’.
Cũng có trường hợp cả cha và mẹ không ai có đủ tư cách hoặc điều kiện
để được trực tiếp nuôi con thì có thể giao con cho một người khác nuôi dưỡng.
Người đó có thể là ông bà, cô, gì, chú, bác... của đứa trẻ. Người đó cũng có thể
là anh chị đã thành niên, có điều kiện bảo đảm cuộc sống ổn định của đứa trẻ.
Miễn sao quyền lợi của những đứa con được bảo vệ toàn diện nhất. Tất nhiên là
nghĩa vụ của cha mẹ đối với con cái cũng không vì thế mà mất đi.
Xuất phát từ lợi ích của con, pháp luật quy định : ‘‘Nếu con từ đủ chín
tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con’’ (Điều 92 Luật HN&GĐ năm
2000). Nghị quyết 02/2000/NQ-HĐTP quy định cụ thể : ‘‘... nếu con từ đủ chín
Website: Email : Tel : 0918.775.368
tuổi trở lên, thì trước khi quyết định, Toà án phải hỏi ý kiến của người con đó về
nguyện vọng được sống trực tiếp với ai’’. Như vậy, pháp luật đã giành cho
những đứa con từ đủ chín tuổi quyền lựa chọn sẽ ở với cha hay với mẹ. Ở độ
tuổi này, đứa con đã có thể nhận thức được cha hay mẹ là người quan tâm, chăm
sóc mình nhiều hơn, ở với ai thì tốt hơn cho chúng. Quy định này là rất phù hợp
vì con là nhân vật chính trong mối quan hệ này và chúng là người có thể cảm
nhận được tốt nhất tình cảm của cha mẹ qua sự chăm sóc, quan tâm hàng ngày
của họ. Chúng biết mình ở với ai thì hợp về tính cách và lối sống. Trong một vụ
án ly hôn, việc xem xét ý kiến, nguyện vọng của con và coi đó là một trong
những cơ sở để Toà án quyết định giao con cho ai nuôi là cần thiết xét cả góc độ
lý luận và thực tiễn. Bởi vì, khi cha mẹ ly hôn, con mất đi một điểm tựa quan
trọng nhất, đó chính là mái ấm gia đình. Việc hỏi ý kiến của con giúp nói lên
tâm tư, nguyện vọng của mình. Điều này là hoàn toàn chính đáng và nó cũng

trực. Hơn nữa ở độ tuổi ‘‘còn bú’’ này, đứa trẻ nào cũng cần nguồn dinh dưỡng
quý giá từ người mẹ. Vì vậy, người gần gũi và chăm bẵm cho trẻ thường là mẹ.
Người mẹ cũng là người khéo léo kiên nhẫn và chu đáo hơn trong việc nuôi con,
đặc biệt là khi con còn nhỏ. Vì vậy, nếu không có lý do gì khác thì việc để cho
người mẹ quyền trực tiếp nuôi con dưới 3 tuổi là vì lợi ích mọi mặt của đứa trẻ.
Tuy nhiên, không phải lúc nào người mẹ cũng chăm sóc con tốt hơn người cha
hoặc những người trong gia đình người cha. Vì vậy, việc giao con cho mẹ nuôi
chỉ trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác. Thông tư liên tịch số
01/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BTP hướng dẫn : ‘‘Trong trường hợp
các bên có thoả thuận thì có thể giao con ‘‘dưới ba tuổi’’ cho người bố hoặc
người khác nuôi giữ ’’. Như vậy, pháp luật tôn trọng quyền quyết định của cha
mẹ. Các bên có quyền thoả thuận ai sẽ là người trực tiếp nuôi con vì họ là những
người nắm rõ nhất ai nuôi con thì tốt hơn. Quy định ưu tiên sự thoả thuận của
cha mẹ trong trường hợp này cũng giống như trong những trường hợp con trên
ba tuổi. Điểm khác nhau của hai trường hợp là nếu như trường hợp con trên ba
tuổi mà cha mẹ không có sự thoả thuận về người trực tiếp nuôi con thì Toà án sẽ
xem xét về điều kiện của cả người cha lẫn người mẹ, và ai có điều kiện tốt hơn
có thể đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho con thì Tòa án sẽ giao con cho người
Website: Email : Tel : 0918.775.368
đó. Còn trong trường hợp con dưới ba tuổi thì nếu cha mẹ mà không có thoả
thuận thì Toà án không cần xem xét điều kiện của hai bên bởi vì luật đã quy
định một nguyên tắc : giao cho người mẹ. Trường hợp này nhà làm luật đã dựa
vào những điều kiện thực tế, khi con dưới ba tuổi thì ở với mẹ là tốt hơn cho con
vì những lý do như chúng ta đã phân tích ở trên. Luật pháp đã mặc nhiên thừa
nhận người mẹ là người có thể trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng con tốt hơn trong
giai đoạn này. Tuy nhiên, cũng không phải là không có những ngoại lệ. Vì vậy
nhà làm luật đã nhấn mạnh cụm từ : ‘‘Về nguyên tắc’’ để khi Toà án xem xét mà
có trường hợp ngoại lệ thì Toà án cũng phải xem xét cẩn thận vấn đề bằng thực
tế. Nếu thực sự người mẹ không thể thực hiện được trách nhiệm trực tiếp nuôi
con tốt bằng người cha mà hai bên cũng không có thoả thuận trước thì Toà án

sống với người nhận nuôi con sẽ không đảm bảo quyền lợi về mọi mặt cho
chúng. Tình cảm riêng tư của cha mẹ đã làm mất đi những quyền lợi chính đáng
của người con. Toà án nên can thiệp vào sự thoả thuận này vì dù sao đây cũng là
một sự thoả thuận không hợp lý.
2.3. Trường hợp không có sự thoả thuận của cha mẹ
Trên thực tế, khi ly hôn, hầu như cha mẹ nào cũng thương con và muốn
trực tiếp nuôi con để bù đắp những thiệt thòi, mất mát, những nỗi bất hạnh do
chính họ gây ra cho con. Đó là xu hướng tích cực thể hiện tinh thần trách nhiệm
của các bậc cha mẹ. Nhưng theo quy định của pháp luật, đứa con chỉ có thể sống
với một người. Cũng vì thế mà nhiều vụ ly hôn cha mẹ không thoả thuận được
về người trực tiếp nuôi con. Theo quy định của pháp luật, khi các bên không
thoả thuận được thì Toà án sẽ là người đưa ra quyết định, căn cứ vào quyền lợi
mọi mặt của con. Khi yêu cầu Toà án giải quyết, bên nào cũng cố gắng đưa ra
những lý do, nêu ra các điều kiện tốt nhất để giành được quyền nuôi con. Vì vậy,
Toà án phải hết sức cẩn thận để xem xét tất cả các điều kiện. Khi xem xét giao
con cho ai trực tiếp nuôi dưỡng thì phải căn cứ vào rất nhiều yếu tố như đạo đức,
lối sống, điều kiện kinh tế, công tác, thời gian, môi trường sống... của cả cha và
mẹ, ai là người đã trực tiếp chăm sóc con trước khi ly hôn. Người trực tiếp nuôi
con có ảnh hưởng rất lớn đến con vì vậy, những vấn đề trên cần được Toà án
xem xét một cách cẩn thận và chính xác.

Trích đoạn Thực tiễn áp dụng nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn trong hoạt động xét xử của Toà án Một số khó khăn, vướng mắc trong công tác thi hành án về cấp dưỡng nuôi con khi cha mẹ ly hôn Những tồn tại trong việc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của con khi cha mẹ ly hôn
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status