2. Tác động của nhập khẩu đối với môi trường........................................................................................4
2.1- Tác động tích cực...........................................................................................................................4
2.2- Tác động tiêu cực...........................................................................................................................5
3. Vai trò của pháp luật bảo vệ môi trường đối với hoạt động nhập khẩu..............................................6
II- Tác động của hội nhập kinh tế đến các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường trong các lĩnh vực
nhập khẩu......................................................................................................................................................6
1. Cơ sở pháp lý.........................................................................................................................................6
2. Chủ trương của Đảng và nhà nước về vấn đề bảo vệ môi trường trong lĩnh vực nhập khẩu.............7
3. Các quy định của pháp luật nhằm bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu............................8
3.1- Các quy định của pháp luật thuế...................................................................................................8
3.2- Các quy định về hàng rào phi thuế quan.......................................................................................9
3.3. Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết:................10
C. PHẦN KẾT....................................................................................................................................................11
A- PHẦN MỞ ĐẦU
Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thời kỳ mà quá trình toàn cầu hóa đang diễn ra với
tốc độ hết sức nhanh chóng. Toàn cầu hóa được coi là một xu thế tất yếu khách
quan, xuất phát từ bản thân quá trình phát triển của thế giới với những yếu tố tác
động cơ bản là sự phát triển của lực lượng sản xuất , của khoa học công nghệ và
kinh tế thị trường. Nó tạo nên quan hệ gắn kết và phụ thuộc, sự tác động qua lại lẫn
nhau giữa các nước trên thế giới. Quá trình này đòi hỏi các quốc gia phải hội nhập
hơn nữa với nền kinh tế thế giới, phải chấp nhận cạnh tranh và chủ động mở cửa
thị trường trong nước của mình.
Cùng với trào lưu chung đó, trong vòng một thập kỷ qua, Việt Nam đã thực
hiện chính sách mở cửa nền kinh tế với phương châm đa phương hóa, đa dạng hóa
trong quan hệ kinh tế quốc tế, từng bước hội nhập với nền kinh tế thế giới và khu
vực. Một trong những hoạt động thương mại giúp chúng ta mở rộng quan hệ với
các nước, đồng thời thúc đẩy nền kinh tế trong nước phát triển là hoạt động nhập
khẩu hàng hóa. Bên cạnh đó, một vấn đề được đặt ra và cần phải quan tâm là vấn
đề bảo vệ môi trường. Trong thời gian qua, hoạt động nhập khẩu hàng hóa đã có
những tác động tích cực tới nền kinh tế nhưng cũng ảnh hưởng không nhỏ tới môi
Theo lý luận thương mại quốc tế, nhập khẩu là việc quốc gia này mua hàng hóa và
dịch vụ từ quốc gia khác.
1.2- Thực trạng nhập khẩu hàng hóa
Trong điều kiện của nền kinh tế thị trường, mở cửa hội nhập hàng hóa nhập
khẩu có 3 loại : máy móc thiết bị dụng cụ, phụ tùng được nhập khẩu để đổi mới kỹ
thuật công nghệ; loại thứ hai là các nguyên liệu, nhiên vật liệu mà trong nước
không sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng không đủ hoặc không có hiệu quả
bằng nhập khẩu, và loại thứ ba là các hàng hóa tiêu dùng để đáp ứng nhu cầu phát
triển về số lượng, đa dạng phong phú về chủng loại, mẫu mã và cao hơn về chất
lượng.
Do giá thế giới giảm mạnh, nhiều mặt hàng trong nước đã dần thay thế được
hàng nhập khẩu, tiêu thụ trong nước chậm nên dự báo kim ngạch nhập khẩu của cả
nước có thể sẽ giảm.Tuy nhiên do tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng kinh tế
tài chính toàn cầu khiến giá hàng hóa,vật tư, máy móc, thiết bị giảm mạnh. Vì vậy
các doanh nghiệp ở trong nước sẽ tranh thủ cơ hội này để gia tăng hàng nhập về
với giá rẻ.
Theo số liệu Tổng cục Thống kê công bố chiều 26/1/2010, kim ngạch nhập
khẩu tháng một giảm nhẹ so với tháng mười hai (đạt gần 7,4 tỷ USD), song tăng
khá cao so với cùng kỳ năm ngoái. Cả 28 nhóm hàng hóa thuộc diện thống kê đều
tăng trưởng, thấp nhất là 20%, cao nhất cũng vượt 200% so với tháng một năm
ngoái. Đáng chú ý là các nhóm hàng nguyên vật liệu, thiết bị và máy móc đều tăng
trên dưới 50%. Trong đó nhập khẩu sắt thép đạt kim ngạch 283 triệu USD, tăng
gần 86%; phân bón tăng 188%; thuốc trừ sâu tăng 175%; máy móc thiết bị tăng
42%. Các doanh nghiệp dệt may cũng tăng cường nhập khẩu nguyên liệu, trong đó
nhập khẩu bông tăng 133%, nhập khẩu sợi dệt tăng 175%, vải tăng 65%...
Một vấn đề đáng chú ý là có một phần đáng kể máy móc, thiết bị cũ hay
đang trong quá trình thải loại của nước xuất khẩu. Việc nhập khẩu hàng hóa này sẽ
gây tác động rất xấu đến môi trường. Do đó cần tăng cao hơn nữa tỷ trọng nhập
khẩu máy móc, thiết bị, đồng thời cần lựa chọn trình độ kỹ thuật- công nghệ tiên
tiến để tránh thiệt hại “kép” : vừa tốn ngoại tệ, vừa biến Việt Nam thành bãi rác
càng nhận thức được tầm quan trọng của việc áp dụng các công nghệ sạch trong
quá trình sản xuất. Đó là việc ứng dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào hoạt
động sản xuất kinh doanh hay hoạt động khác bằng việc sử dụng máy móc hiện
đại, tiêu tốn ít nguyên vật liệu. Do đó lượng chất thải phát ra môi trường cũng sẽ
hạn chế ở mức tối đa. Một vấn đề bức xúc về môi trường hiện nay là việc xử lý và
thu gom chất thải. Các loại chất thải này phần lớn được sinh ra từ quá trình sản
xuất của các doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế Việt Nam lại chưa sản xuất được hệ
thống thiết bị, công nghệ xử lý và thu gom chất thải tiên tiến, đạt tiêu chuẩn, phù
hợp với sức tải của môi trường. Hoạt động nhập khẩu còn góp phần hỗ trợ cho việc
áp dụng giải pháp sản xuất sạch hơn. Một khi các doanh nghiệp tích cực thực hiện
sản xuất sạch hơn để đạt được những lợi ích thì chắc chắn vấn đề ô nhiễm môi
trường sẽ được kiểm soát và ngày càng hạn chế.
2.2- Tác động tiêu cực
Hiện nay, công nghệ đang sử dụng ở Việt Nam chủ yếu là nhập từ nước
ngoài. Song vì là nước nghèo, nguồn vốn eo hẹp, cho nên việc chuyển giao công
nghệ là một như cầu cấp bách, Nhưng dù là chuyển giao trực tiếp hay gián tiếp,
chúng ta khó có thể nhận được các thiết bị công nghệ tiên tiến nhất. Trong nhiều
trường hợp còn phải nhận cả các thiết bị cũ kỹ, lạc hậu đã bị thải bỏ ở các nước
phát triển.
Trong khi công nghệ và trình độ kỹ thuật Việt Nam còn thấp, trình độ của
cán bộ quản lý còn hạn chế, chúng ta rất khó có thể đưa ra những quy định có lợi
cho môi trường và kiểm soát tác động môi trường của hoạt động nhập khẩu, đầu tư.
Do đó. Việt Nam có thể phải gánh chịu những hậu quả môi trường nghiêm trọng
do bên ngoài nhập vào. Đặc biệt là nạn xuất khẩu ô nhiễm môi trường từ các nước
phát triển trên thế giới đang ngày càng tăng. Có hiện tượng chuyển các ngành gây
ô nhiểm nặng nề từ các nước phát triển sang các nước đang phát triển thông qua
FDI.