Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định bảo vệ môi trường không khí của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam với các cam kết quốc tế về môi trường - Pdf 35

1
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

BÀI THẢO LUẬN
Chủ đề: Đánh giá mức độ phù hợp trong các quy định bảo vệ môi trường không
khí của pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam với các cam kết quốc tế về môi trường.

Sinh viên : Vũ Cường Việt.

Những vấn đề chung.

I.
1.










2.

Các khái niệm
Không khí: là hỗn hợp khí gồm có nitơ chiếm 78,9%, oxy chiếm khoảng 0,95%,
acgong chiếm 0,93%, dioxit cácbon chiếm 0,32% và một số khí hiếm khác như
neeon ,heli,meetan.Trong điều kiện bình thường của độ ẩm tuyệt đối, hơi nước chiếm
gần 1-3% thể tích không khí.
Ô nhiễm không khí: là sự có mặt của các vật thể lạ hoặc một sự biến đổi quan trọng

bùng nổ của phương tiện giao thông cá nhân và đốt nhiên liệu hóa thạch. Ô nhiễm
không khí trên toàn thế giới cũng có thể đến từ nhiều nguyên nhân kết hợp, bao gồm:
khí thải phương tiện giao thông, bếp đun nấu, bụi xây dựng... Chúng gia tăng nguy cơ
bệnh tim và đột quỵ.
Đầu năm 2016, các dữ liệu báo cáo về chất lượng không khí tại London đã cho
thấy ô nhiễm ở đây vượt qua vạch giới hạn. Theo số liệu mới nhất cho thấy hàng năm,
ở Anh có 29.000 người chết do ô nhiễm bụi và tiếp xúc lâu dài với khí Nitơ oxit thải
ra từ động cơ diesel. Con số này trên toàn cầu lên tới 7 triệu người, nhiều hơn cả các
ca tử vong do sốt rét và HIV cộng lại.
New Delhi, thủ đô của Ấn Độ là thành phố chịu ảnh hưởng nặng nề nhất cho vấn
đề này. Với 25 triệu dân, Delhi đứng đầu danh sách ô nhiễm với trung bình 153
microgam bụi mỗi mét khối khí. Trong khi đó, giới hạn an toàn cho phép tại Châu Âu
chỉ là 25 microgam trên một mét khối.

2


3
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

Danh sách 20 thành phố ô nhiễm nhất trên thế giới
(nguồn: Báo cáo thường niên của WTO 2014)
Ô nhiễm không khí dường như đang tập trung nhiều ở Châu Á. Báo cáo của
WHO cho thấy đỉnh điểm ô nhiễm không khí ở nhiều thành phố vượt xa rất nhiều mức
báo động. Điển hình, sương mù Bắc Kinh có thể được nhìn thấy từ ngoài vũ trụ. Con
số lên đến 291 microgam bụi mỗi mét khối so với Delhi là 377 microgam.
Mặc dù các dữ liệu trên đã đủ để WHO cảnh báo tình trạng báo động toàn cầu.
Nhiều thành phố được dự báo là sẽ phải đối mặt với vấn đề ô nhiễm không khí cực kì
3


lượng không khí. Bên cạnh đó, nhiều quốc gia cũng bắt đầu tập trung đầu tư vào khai
thác năng lượng sạch. Biện pháp này có thể giúp giảm ô nhiễm không khí từ việc đốt
nhiên liệu hóa thạch, đồng thời cũng giảm nhẹ tác động biến đổi khí hậu
+ Thực trạng tại Việt Nam.
Theo một nghiên cứu được công bố tại Diễn đàn Kinh tế thế giới Davos, Việt
Nam nằm trong 10 quốc gia có chất lượng không khí thấp nhất và ảnh hưởng nghiêm
trọng tới sức khỏe.
Trên cơ sở tiêu chuẩn cho phép của thế giới về đánh giá chất lượng không khí
(Air Quality Index- AQI), nếu mức độ sạch của không khí từ 150-200 điểm thì đã bị
coi là ô nhiễm, từ 201-300 thì coi là cực kỳ cấp bách, sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến
sức khỏe của người dân.Trong khi đó, tại Việt Nam, hai khu vực ô nhiễm nhất là Hà
Nội và TP HCM, chỉ số trong ngày lúc nào cũng ở mức 152-156. Các thông số dưới
đây có thể phản ánh mức độ ô nhiễm không khí của Việt nam.

5


6
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

Kết quả quan trắc bụi, CO tại một số trạm quan trắc chất lượng không khí
2014-6/2015
( nguồn: Trung tâm Quan trắc và phân tích môi trường TP.HCM)
Có thể điểm qua một số vấn đề nổi cộm về ô nhiễm không khí ở nước ta như
sau:
Ô nhiễm bụi: Theo số liệu quan trắc và phân tích cho thấy: Ở hầu hết các đô thị
nước ta đều bị ô nhiễm bụi, có những nơi tới mức báo động. Nồng độ bụi trong các
khu dân cư cạnh các nhà máy, xí nghiệp hoặc gần đường giao thông lớn đều vượt trị
số tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 3 lần. Ở những nơi diễn ra việc xây dựng nhà cửa,
đường sá thì nồng độ này vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 đến 20 lần. Ví dụ, nồng độ

=> Đây thực sự là vấn đề đáng lo ngại mà tổ chức y tế thế giới (WTO) vừa cảnh
báo, và nó là 1 bài toán toàn cầu đặt ra với tất cả các quốc gia trên thế giới đặc biệt là
đối với môi trường ô nhiễm do giao thông, xây dựng, sinh hoạt (đun nấu). Giải quyết
vấn đề ô nhiễm không khí là đồng nghĩa với việc duy trì một cuộc sống trong lành và
đảm bảo chất lượng sống cho con người. Bởi thế, không chỉ Việt nam mà các quốc
giai trên thế giới đã xây dựng và ngày càng hoàn thiện hơn hệ thống pháp luật bằng
cách cùng nhau thỏa thuận các cam kết quốc tế để bảo vệ môi trường không khí chung
cho toàn nhân loại.

Đánh giá sự phù hợp của pháp luật bảo vệ môi trường không khí trong
pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam với các cam kết quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.

II.

1. Các cam kết quốc tế Việt Nam tham gia.







Công ước viên 1985, Công ước về bảo vệ tầng ozon. Việt Nam trở thành thành viên
ngày 26/4/1994.
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon (ký kết 1987). Việt Nam
trờ thành thành viên vào ngày 26/1/1994.
Công ước khung về thay đổi khí hậu của liên hợp quốc (ký kết tại Newyork, UNFCCC,
1992). Việt Nam trở thành thành vên ngày 16/11/1994.
Nghị định thư Kyoto năm 1997 công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí

môi trường
Điều 25. Vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu máy
móc, thiết bị, phương tiện giao thông vận tải, nguyên liệu, nhiên liệu, vật liệu không
đúng quy định về bảo vệ môi trường
- Nghị định số 187/2012/NĐ-CP ngày 20/11/2013 quy định chi tiết thi hành Luật
Thương mại về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế và các hoạt động đại lý mua,
bán, gia công và quá cảnh hàng hóa với nước ngoài (Phụ lục I có quy định đối với sản
phẩm có hại cho tầng Ozon).
- Thông tư 32/2013/ TT–BTNMT ngày 25/10/2013 quy định quy chuẩn kĩ thuật
quốc gia về môi trường.
- Thông tư 30/2009/ TT - BGTVT ngày 19/11/2009 Quy định kĩ thuật quốc gia
về khí thải xe mô tô, gắn máy sản xuất, láp ráp và nhập khẩu mới.
- Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 26/11/2009 quy định quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia về môi trường.
- Thông tư số 42/2010/TT-BTNMT ngày 29/12/2010 quy định quy chuẩn quốc
gia về môi trường.
- Thông tư số 45/2014/TT-BGTVT ngày 3/10/2014 quy định quy chuẩn kỹ thuật
quốc gia về khí thải mức 3 đối với xe mô tô hai bánh sản xuất, lắp ráp và nhập khẩu
mới.

- Thông tư liên tịch số 47/2011/TTLT-BCT-BTNMT ngày 30/12/2011 Quy định
việc quản lý nhập khẩu, xuất khẩu và tạm nhập - tái xuất các chất làm suy giảm tầng
ô-dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô-dôn.
- Quyết định số 15 /2006/QĐ-BTNMT ngày 08/09/2006 Về việc ban hành Danh
mục thiết bị làm lạnh sử dụng môi chất lạnh CFC cấm nhập khẩu.
8


9
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

khí xung quanh và nồng độ tối đa cho phép của một số chất độc hại trong không khí
xung quanh
+ Mục đích của hai quy chuẩn này là để đánh giá chat lượng môi trường không
khí xung quanh và giám sát tình trạng ôi nhiễm môi trường không khí xung quanh.
Quy chuẩn kĩ thuật về khí thải.
Quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với nguồn thải tĩnh.
QCVN: 51/2013/BTNMT Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản
xuất thép
QCVN: 34/2010/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp lọc hóa
dầu đối với bụi và các chất vô cơ.
QCVN: 19/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với
bụi và các chất vô cơ.
QCVN: 20/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp đối với
một số chất hữu cơ.
QCVN: 21/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản
xuất phân bón hóa học.
QCVN: 22/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp nhiệt
điện.
9


10
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

QCVN: 23/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải công nghiệp sản
xuất xi măng.
+ Các quy chuẩn này được áp dụng để kiểm soát nồng độ các chất hữu cơ, vô cơ
và bụi ttrong thành phần khí thải công nghiệp trước khi khí thải vào môi trường không
khí xung quanh
 Quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với nguồn thải động (khí thải từ các phương tiện

trung tâm đào tạo, cơ sở sản xuất các sản phẩm có sử dụng các chất làm suy giảm tầng
ôzôn.
10


11
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

Ngoài ra cũng có thể kể đến các văn bản như Điều 25 Nghị định 179/2013/NĐCP; Nghị định số 187/2012/NĐ-CP; Quyết định số 15 /2006/QĐ-BTNMT
ngày 08/09/2006 để ban hành danh mục các sản phẩm bị cấm hoặc hạn chế nhập khẩu,
xử phạt đối với các hành vi nhập khẩu các thiết bị, máy móc vì có sử dụng chất làm
lạnh là CFC, một hợp chất gây ra lỗ thủng của tầng ozon hiện nay.
Đối với các quy chuẩn dùng để đánh giá chất lượng không khí đó cũng là những
nổ lực của Việt nam để đảm bảo được các quy phạm trong cam kết mà Việt nam tham
gia được thực hiện. Các thông số trong những quy chuẩn được đánh giá là nằm trong
ngưỡng cho phép theo như các quy định tại các phụ lục ban hành kèm theo Công ước
viên 1985 và Nghị định Montreal. Hệ thống các quy chuẩn nói chung, tuy không phải
là một văn bản chứa đựng các quy phạm pháp luật, nhưng có thể nói rằng ngoài việc
sử dụng các quy chuẩn để đánh giá chất lượng không khí thì nó cũng là loại văn bản
cơ sở quan trọng trong việc làm chuẩn mực để xem xét các hành vi vi phạm đối với
các cá nhân tổ chức khi có các tác động đến các thành tố của môi trường không khí
Việc nghiên cứu khoa học, phối hợp với các quóc gia khác trong quan trắc môi
trường có hệ thống liên quan tới tầng ozon, sự biến đổi tầng ozon, những chất làm ảnh
hưởng đến tầng ozon cũng như những chất thay thế đã được quy định trong công ước
Viên 1985 thì pháp luật Việt Nam vẫn chưa có một văn bản nào rõ ràng và chi tiết
trong quan trắc môi trường không khí mà chỉ là những quy định chung đối với môi
trường được quy định tại Chương XII Luật bảo vệ môi trường 2014.
Nhìn một cách tổng thể giữa các quy phạm pháp luật của Việt nam về bảo vệ
không khí và các cam kết Việt nam tham gia thì sự lõng lẽo và những hạn chế vẫn còn
tồn tại trong việc cụ thể hóa cam kết thành pháp luật để thực hiện của Việt nam. Sự

của Chương trình khung của Liên hiệp quốc về vấn đề biến đổi khí hậu. Trong đó
những quốc gia tham gia kí kết phải chấp nhận việc cắt giảm khí CO2 và năm loại khí
gây hiệu ứng nhà kính khác, hoặc có thể tiến hành biện pháp thay thế như Emission
trading nếu không muốn đáp ứng yêu cầu đó.
Theo một bài báo về Chương trình biến đổi khí hậu của Liên hiệp quốc thì:
Nghị định thư đại diện cho sự thống nhất giữa các quốc gia công nghiệp trong vấn đề
cắt giảm khí thải trên 5.2% so với năm 1990 (lưu ý rằng mức độ cắt giảm theo đó đến
năm 2010 phải đạt được thì chỉ tiêu này là khoảng 29%). Mục tiêu hướng đến việc
giảm thiểu các loại khí carbon dioxide, methane, nitơ ôxít, lưu huỳnh
hexafluorua, clorofluorocarbonvà perflourocarbon trong khoảng thời gian 2008-2021.
Mức trần đã được quy định cho các nước tham gia cụ thể là 8% mức cắt giảm cho Liên
minh châu Âu và 7% cho Hoa Kỳ, 6% với Nhật Bản, 0% với Nga trong khi mức hạn
ngạch cho phép tăng của Úc là 8%, và 10% cho Iceland .
Đó là sơ thảo do Chương trình khung về vấn đề biến đổi khí hậu của Liên hiệp
quốc đưa ra - UNFCCC khi được nhất trí trong Hội nghị thượng đỉnh toàn cầu tại Rio
de Janeirovào 1992. Khi đó chỉ có những nước thuộc Chương trình khung về vấn đề
biến đổi khí hậu mới tham gia kí kết. Sau đó Nghị định thư Kyoto mới được đệ trình
trong phiên họp thứ ba của Hội nghị các bên tham gia nằm trong Chương trình khung
về vấn đề biến đổi khí hậu được tổ chức vào năm 1997 tại Kyoto, Nhật Bản.
Hầu hết những điều khoản trong Nghị định thư là yêu cầu dành cho các nước công
nghiệp phát triển - được liệt vào nhóm Annex I trong UNFCCC, và không có hiu lực
đối với các nguồn khí thải đến từ lãnh vực hàng không và hàng hải thuộc phạm vi quốc
tế.
Nghị định thư giờ đây có hiệu lực với hơn 170 quốc gia, chiếm khoảng 60% các nước
liên quan đến vấn đề khí thải nhà kính. Tính đến tháng 12 năm 2007, Hoa
Kỳ vàKazakhstan là hai nước duy nhất không tiến hành các biện pháp cắt giảm dù có
tham gia kí kết nghị định thư. Hiệu lực của bản hiện tại sẽ hết vào năm 2012, để vun
đắp thành công cho nghị trình hiện tại, nhiều hội nghị quốc tế với sự tham gia của các
bên liên quan đã được tiến hành từ tháng 5/2007.”
12

Nghị định thư Kyoto sẽ hết hiệu lực vào năm 2012, vì vậy, trước đó, Liên hợp
quốc đã tổ chức các cuộc đàm phán nhằm đạt tới sự đồng thuận về văn bản thay thế
nghị định này (COP15, COP16, COP 17…COP20), đặt tiêu chí ràng buộc về nghĩa vụ
cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính, song liên tiếp không đạt được kết quả.
Mục tiêu chính của COP 21 là thông qua một số khuôn khổ pháp lý toàn cầu mới
về biến đổi khí hậu cho giai đoạn sau năm 2020 (gọi là Thỏa thuận Pa-ri 2015).
COP21 đã kết thúc thành công khi thông qua Thỏa thuận Pa-ri. Sau gần 2 tuần đàm
phán căng thẳng với nhiều cuộc thương lượng kéo dài.
13


14
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

Tham gia COP 21, đoàn Việt Nam do Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng dẫn đầu đã
thể hiện trách nhiệm, khẳng định cam kết chính trị mạnh mẽ của Chính phủ Việt Nam
đã, đang và tiếp tục chủ động, có trách nhiệm cùng cộng đồng quốc tế chung tay nỗ
lực ứng phó với biến đổi khí hậu bằng những hành động cụ thể cả ở tầm quốc gia và
quốc tế.
Một là, giai đoạn từ nay đến năm 2020, trong điều kiện khó khăn về nguồn lực
nhưng Việt Nam tiếp tục tích cực triển khai chiến lược, chương trình, kế hoạch về ứng
phó với biến đổi khí hậu trên nhiều lĩnh vực với các biện pháp thiết thực. Thực hiện
nghiêm túc các nghĩa vụ trong UNFCCC và Nghị định thư Kyoto. Việt Nam sẽ đóng
góp 1 triệu USD vào Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016 - 2020.
Hai là, đối với giai đoạn sau năm 2020, mặc dù là một nước đang phát triển còn
nhiều khó khăn, chịu tác động nặng nề của biến đổi khí hậu, Việt Nam vẫn cam kết
giảm 8% lượng phát thải khí nhà kính vào năm 2030 và có thể giảm đến 25% nếu
nhận được hỗ trợ hiệu quả từ cộng đồng quốc tế. Việt Nam sẽ xem xét định kỳ, điều
chỉnh phù hợp với điều kiện thực tế.
Về các giải pháp mà Việt Nam sẽ thực hiện, bao gồm:

và gần 400 tấn methyl bromide - những chất gây suy giảm tầng ozone. Song nhờ các
chính sách cương quyết của Chính phủ, nỗ lực của Bộ Tài nguyên Môi trường cùng
các cơ quan liên quan, sự tham gia của các doanh nghiệp, sự ủng hộ của người tiêu
dùng cùng hỗ trợ tài chính của quốc tế, Việt Nam đã loại trừ được trên 200 tấn chất
làm lạnh CFC (Chloro-Fluoro-Carbons) 12; giảm trung bình mỗi năm 3,6 tấn CFC 11
trong ngành dệt may; 5,8 tấn CFC 12 trong sử dụng điều hoà không khí ô tô và 40 tấn
CFC trong các thiết bị làm lạnh thương mại và gia dụng.
Đến năm 2009, Việt Nam chỉ còn nhập khẩu 10 tấn R-12 (chất làm suy giảm
tầng ozone nhóm CFC) và bắt đầu từ 1/1/2010 toàn bộ các chất nhóm CFC bị cấm
nhập khẩu vào Việt Nam.
Tuy nhiên, cũng giống như một số nước đang phát triển, chất HCFC-22 là môi
chất lạnh được ưa dùng trong các hệ thống và cơ sở làm lạnh (đặc biệt đối với các
doanh nghiệp vừa và nhỏ) vẫn đang tồn tại ở Việt Nam.
Để loại trừ HCFC, Bộ Tài nguyên và Môi trường với sự hỗ trợ của Ngân hàng
Thế giới đã xây dựng “Kế hoạch quản lý loại trừ các chất HCFC của Việt Nam”
với nguồn kinh phí 25 triệu USD. Kế hoạch này được chia làm 2 giai đoạn. Giai đoạn
1 từ 2012 - đến 2016 dự kiến loại trừ khoảng 2.500 tấn HCFC và polyol trộn lẫn
HFFC. Giai đoạn 2 từ 2017 đến 2040 để loại trừ hoàn toàn việc sử dụng HCFC ở Việt
Nam theo như lộ trình mà Nghị Định Montreal đã đặt ra.
Để nhân rộng những việc làm thiết thực bảo vệ tầng ozone trong Ngày Quốc tế
bảo vệ tầng ozone năm nay, Bộ TN&MT kêu gọi tăng cường các nỗ lực ở cấp độ quốc
gia và cấp độ cá nhân bảo vệ tầng ozone, vì sự phát triển bền vững của con người.
1.2. Thành quả chính của Nghị định thư Kyoto là xác định những chỉ tiêu giảm phát thải
của các nước công nghiệp và thành lập ba cơ chế linh hoạt để các bên tham gia Nghị
định thư có thể cùng nhau phối hợp thực hiện mục tiêu chung, đó là: Cơ chế cùng thực
hiện (JI); Cơ chế phát triển sạch (CDM); Buôn bán phát thải quốc tế (IET).
Kết quả thu được từ các dự án CDM ở nước ta trong thời gian qua là hết sức
thiết thực. Điển hình là Dự án tăng hiệu quả sử dụng năng lượng trong lĩnh vực nồi
hơi công nghiệp và Dự án thu gom khí đồng hành mỏ Rạng Đông của nhà thầu JVPC
(Nhật). Dự án trong lĩnh vực nồi hơi công nghiệp có mục tiêu giảm tiêu thụ năng

3.






Các giải pháp khắc phục:
Tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện một số văn bản còn thiếu hoặc quy định chưa
đầy đủ như: quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong công tác quản lý
môi trường không khí, tránh chồng chéo; xây dựng các quy chế phối hợp về quản lý
chất lượng không khí; nghiên cứu, đánh giá và đề xuất lồng ghép quy định bảo vệ môi
trường không khí vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội; xây dựng và ban hành các
văn bản quy định về kiểm kê nguồn thải; cơ chế công bố thông tin; kế hoạch quản lý
môi trường không khí.
Nên đưa trách nhiệm của pháp nhân vào bộ luật hình sự để xử lý trách nhiệm hình sự
đối với pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi trường không
khí nói riêng.
Cần luật hóa, xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ về biến đổi khí hậu
để nhằm mục đích thực hiện các cam kết quốc tế và hạn chế các tác động của biến đổi
khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. Để làm được điều này trước hết phải nâng cao
16


17
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế





chương trình dự án thực hiện CDM từ bên ngoài.
Thúc đẩy dự án nông nghiệp phát thải thấp.
Phải có những chính sách cụ thể, xây dựng kế hoạch cụ thể trong từng giai đoạn cụ thể
để tạo ra môi trường đầu tư thông thoáng trong việc thực hiện các dự án đầu tư của
các nước côngnghiệp phát triển.
Khuyến khích việc phát triển các mô hình thân thiện với môi trường, các mô hìnhnông
lâm kết hợp hiệu qủa. Áp dụng các công nghệ sạch, tiến bộ trong quá trình sảnxuất.
Có các hình thức tuyên truyền nâng cao nhận thức cho người dân và áp dụng CDM
một cách sâu rộng.
IV. Tổng kết.
Nhìn tổng quan hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ không khí vẫn còn nhiều
thiếu sót, trong khi đó không khí là yếu tố hết sức phức tạp khó kiểm soát. Đối với hệ
thống pháp luật Việt nam Nhóm 5 không phủ nhận các quy phạm pháp luật hiện tại,
17


18
Vũ Cường Việt-Đh luật Huế

tuy nhiên các quy phạm đó đủ để đáp ứng được nhu cầu của thực tiễn cũng như của
các cam kết mà Việt Nam đã tham gia
Thách thức ở hiện tại và sau này là thúc đẩy các hành động về khí hậu càng
nhanh càng tốt không chỉ ở bên trong mà còn ở bên ngoài các cuộc đàm phán chính
thức về Biến đổi khí hậu nói chung và cách riêng cho môi trường Không khí. Ở cấp độ
quốc tế, một thỏa thuận khí hậu toàn cầu có tính ràng buộc pháp lý cần được các quốc
gia ủng hộ hơn nữa trong việc ký kết và thực. Phối hợp các hành động ứng phó với
Biến đổi khí hậu từ tất cả các quốc gia trong bối cảnh mà các tác động dài hạn của
Biến đổi khí hậu là không chắc chắn và thay đổi theo khu vực địa lý, mức độ phát
triển và sự tăng trưởng dân số ở các quốc gia là khác nhau, mối quan tâm và ưu tiên
của các quốc gia cũng khác nhau luôn là những thách thức rất lớn. Pháp luật của các

trọng nhất trên thế giới: Bắc Kinh; Thượng Hải; New Delhi; Dhakar; Hà Nội; Hồ Chí
Minh.
10. Đến 70% chất thải khí ra môi trường là từ các phương tiện giao thông, lượng
benzen trong không khí tại các trục giao thông TP Hồ Chí Minh đã lên mức báo động
đỏ với nồng độ trung bình là 66,6 microgam/m3, cao gấp 6,72 lần tiêu chuẩn WHO.

Danh mục tài liệu tham khảo:
Luật bảo vệ môi trường 2014
Giáo trình Luật môi trường, NXB Đại học Huế
Giáo trình Luật môi trường, Đại học Luật Hà nội, NXB Công an Nhân dân
Công ước viên 1985, Công ước về bảo vệ tầng ozon
Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozon
Công ước khung về thay đổi khí hậu của liên hợp quốc
Nghị định thư Kyoto năm 1997 công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí
hậu
8. Trang thông tin điện tử bảo vệ môi trường: http://moitruong.com.vn
9. http://vbpl.vn
10. http://tapchi.vnu.edu.vn/
11. Nguồn: Tạp chí Môi trường và sức khỏe
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.

19



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status