ĐỀ TÀI :Đánh giá mức độ phù hợp của quy định pháp luật bảo vệ môi trường ô nhiễm không khí của pháp luật bảo vệ môi trường việt nam với các cam kết quốc tế mà Việt Nam là thành viên. - Pdf 40

Bài thuyết trình nhóm 8
ĐỀ TÀI :Đánh giá mức độ phù hợp của quy định pháp luật bảo vệ môi trường ô
nhiễm không khí của pháp luật bảo vệ môi trường việt nam với các cam kết quốc
tế mà Việt Nam là thành viên.

Mục Lục:
1.
2.
3.
4.

Cơ sở lý luận.
Thực trạng ô nhiễm môi trường không khí ở Việt Nam.
Các cam kết quốc tế mà việt nam là thành viên.
Đánh giá sự phù hợp giữa pháp luật bảo vệ môi trường việt nam và cam kết
quốc tế.
• Kết quả đạt được.
• Hạn chế.
• Các giải pháp khắc phục.
• Chuyên much thông tin của bạn.

Phần Nội Dung.
1. Cơ sở lý luận.
*Khái niệm ô nhiễm môi trường không khí.






Không khí là hỗn hợp khí gồm có nitơ chiếm 78,9%, oxy chiếm khoảng

đất trồng và gió thổi tung lên thành bụi. Nước biển bốc hơi cùng
với sóng biển tung bọt mang theo bụi muối lan truyền vào không
khí.
Các quá trình phân hủy ,thối rữa xác động vật.

*Nguồn nhân tạo:
Nguồn gây ô nhiễm nhân tạo rất đa dạng nhưng chủ yếu là do hoạt động công
nghiệp, đốt cháy nhiên liệu hóa thạch và hoạt động của các phương tiện giao
thông.Nguồn ô nhiễm công nghiệp do 2 quá trình sản xuất gây ra:




Quá trình đốt nhiên liệu thải ra khí độc đi qua các ống của các
nhà máy vào không khí.Do thoát hơi rò rỉ thất thoát trên dây
chuyên sản xuất sản phẩm và các đường ống dẫn tải. Nguồn thải
của quá trình sản xuất này cũng có thể hút và thải ra ngoài băng
hệ thống thông gió.
Các ngành công nghiệp chủ yếu gây ô nhiễm môi trường không
khí bao gồm: nhiệt điện vật liệu xây dựng hóa chất và phân bón,
dệt và giấy,luyện kim thực phẩm,các xí nghiệp cơ khí,các nhà
máy thuộc công nghiệp nhẹ, giao thông vận tải bên cạnh đó còn
do sinh hoạt của con người.

2.Hiện trạng ô nhiễm không khí.
Hiện trạng ô nhiễm không khí ở Việt Nam và trên thế giới hiện nay, loài người
bắt đầu phải gánh chịu những thảm hoạ khủng khiếp do không khí gây ra. Trái
đất đang nóng dần lên do các hoạt động của con người đã thải quá nhiều khí



nhanh do quá trình với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.


*Hoạt động giao thông vận tải.
Theo đánh giá của các chuyên gia, ô nhiễm không khí ở đô thị do hoạt động giao
thông gây ra chiếm tỷ lệ khoảng 70% và theo số liệu thống kê: Hà Nội có hơn 1,7
triệu xe máy và TP.HCM có khoảng 3,8 triệu xe máy.Những con số này gia tăng
đáng kể với tốc độ tăng trung bình 10-15%/1 năm.Lượng benzen trong không khí
tại các trục giao thông chính của TP.HCM đã lên mức báo động đỏ với nồng độ
trung bình là 33,6 micro gam/m3 cao gấp 6,72 lần tiêu chuẩn của tổ chức y tế thế
giới .

Xét các nguồn thải gây ra ô nhiễm không khí trên phạm vi toàn quốc (bao gồm
cả khu vực đô thị và khu vực khác), theo ước tính cho thấy, hoạt động giao thông
vận tải đóng góp tới gần 85% lượng khí CO, 95% lượng VOCs(Volatile Organic
Compounds). Trong khi đó, các hoạt động công nghiệp là nguồn đóng góp
khoảng 70% khí SO2. Đối với NO2, hoạt động giao thông và hoạt động sản xuất
công nghiệp có tỷ lệ đóng góp xấp xỉ nhau .Trong khi chất lượng nhiên liêu chưa
tố,chứa nhiều tạp chất tác động đến môi trường cụ thể là hàm lượng Benzen
trong xăng quá cao 5% so với 1%, hàm lượng lưu huỳnh trong diesel cao 0,5-1%
so với 0.05% cùng với lượng than tiêu thụ trung bình 250 nghìn tấn/ 1 năm
,xăng dầu 250 nghìn tấn/1 năm, đã thải ra 1 lượng lớn bụi , SO2 ,CO2,NO2, gây
tác động xấu đến tác động không khí.
* Hoạt động xây dựng sửa chữa công trình cùng với đường sá mất vệ sinh
Nước ta đang diễn ra quá trình đô thị hóa mạnh nên ở tất cả các đô thị đều có
nhiều công trường xây dựng đang hoạt động :xây dựng, sửa chữa nhà
cửa,đường xá, vận chuyển nguyên vật liệu,…. và phát sinh rất nhiều bụi, bao gồm
cả bụi nặng và bụi lơ lửng, làm cho môi trường không khí đô thị bị ô nhiễm bụi
nặng nề. Rác thải không được thu gom hết, đường xá mất vệ sinh, tồn đọng lớp
bụi dày trên mặt đường, xe chạy cuốn bụi lên và khếch tán bụi ra khắp phố

chuẩn vào ngày 25/9/2002.
* Đối với công ước viên, 1985 và nghị định thư Montreal về bảo vệ tầng
ozon:
- Ngày 22/3/1985 các quốc gia đã cùng nhau kí kết một văn bản thỏa thuận về
trách niệm của các nước trong việc giảm phát thải các chất có hại đến sự bình
ổn của tầng ozon.


Công ước ra đời trong khi bối cảnh khí hậu thay đổi tầng ozon bị suy yếu và
với tư cách 1 công ước khung.Với mục đích hạn chế sự phát thải của các chất khí
có hại đến tầng ozon công ước viên thiết lập sự kiểm soát không đặc thù về các
chất làm suy giảm tầng ozon thay vì xác lập 1 cam kết chung cho các thành viên
để bao vệ tầng ozon.
Việt Nam cũng đã tham gia và kí kết vào ngày 26/4/1994 với tư cách là thành
viên của công ước thì Việt Nam có các quyền và nghã vụ cơ bản sau:

Việt Nam cần có biện pháp thích hợp để bảo vệ sức khỏe con người và môi
trường đó là các biện pháp được nhấn mạnh là ngăn ngừa để kiểm soát cũng
như việ hạn chế để sử dụng một số hóa chất hay chất khí có thể làm suy giảm
tầng ozon.

Việt Nam cần bảo đảm với các quốc gia khác trong việc nghiên cứu khoa
học, quan trắc môi trường có hệ thống liên quan tới tầng ozon, sự biến đổi tầng
ozon, những chất làm ảnh hưởng đến tầng ozon cũng như những chất thay thế.
Hai năm sau nghị định thư montreal năm 1987 về các chất làm suy giảm tầng
ozon đã được ban hành.Nghị định đã đưa ra một kế hoạch đặc biệt cho việc
giảm sản xuất và tiêu thụ các chất làm suy yếu tầng ozon trong 10 năm tới nghị
định đã đặt ra 3 giai đoạn giảm khí nhà kín với mục tiếu giảm 50% khí thải vào
năm 1999 vào giảm đến 0% năm 2000 và các bên cần phải duy trì mức độ phát
thải của mình như đã cam kết.

thông tin nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, giáo dục đào tạo và
truyền bá đại chúng.
Các nước phát triển sẽ cung cấp nguồn tài chính mới và bổ sung để đáp ứng
toàn bộ chi phí cho các nước đang phát triển khi các nước này thực hiện nghĩa
vụ nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.
Các nước cam kết phải thực hiện nghĩa vụ giáo dục, đào tọa về nhận thức của
công chúng trao đổi thông tin về nhận thức của công chúng về thay đổi khí hậu
và ảnh hưởng của nó.
* Nghị định thư Kyoto 1997.
Nghị định thư Kyoto là 1 thỏa thuận quốc tế liên quan đến công ước khung của
Liên Hiệp Quốc về biến đổi khí hậu(UNFCCC).Việt Nam đã phê chuẩn Nghị định
thư Kyoto tháng 9 năm 2002.Các điểm chính của nghị định thư Kyoto là thiết lập


các mục tiêu ràng buộc đối với 37 nước công nghiệp phát triển và cộng đồng
châu Âu để giảm phát thải khí nhà kính (GHG).
Mục tiêu chính được đặt ra nhằm là “cân bằng lại lượng khí thải trong môi
trường ở mức độ có thể ngăn chặn những tác động nguy hiểm cho sự tồn tại và
phát triển của con người vốn chịu ảnh hưởng sâu sắc của môi trường”.
Các nước thành viên cũng đã thiết lập cơ chế “phát triển sạch” nhằm khuyến
khích các nước công nghiệp tăng cường đầu tư vào các nước đang phát triển với
nhiều dự án bền vững, hướng tới mục tiêu giảm bớt lượng khí thải.
Bản điều lệ cũng đề cập tới hàng loạt những vấn đề khác nhằm vận hành và
giám sát việc triển khai nghị định thư Kyoto, như cách tính lượng khí thải,
hướng dẫn thiết lập hệ thống cơ sở dữ liệu ,hay những biện pháp sử dụng đất
nông nghiệp để hấp thụ khí CO2.
Trong điều lệ, các bên cam kết hạn chế lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính tới
năm 2012, đề ra 1 cơ chế về quyền mua bán lượng khí thải gây hiệu ứng nhà
kính theo quy định….. Trong thời gian họp các nước thông qua các biện pháp
trừng phạt đối với những nước vi phạm nghị định thư.

* Các văn bản hướng dẫn:
- Nghị định 179/2013/NĐ-CP .Quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong
lĩnh vực môi trường cụ thể :



Điều 15. Vi phạm về thải bụi , khí thải có chứa các thông số môi trường
không nguy hại vào môi trường.
Điều 16. Vi phạm về thải bụi, khí thải có chứa các thông số môi trường
nguy hại vào môi trường

- Thông tư 32/2013/ TT –BTNMT ngày 25/10/2013 quy định quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia về môi trường.
-Thông tư 30/2009/ TT-BGTVT ngày 19/11/2009 Quy định kĩ thuật quốc gia về
khí thải xe mô tô, gắn máy sản xuất, láp ráp và nhập khẩu mới.


-Thông tư 16/2009 /TT-BTNMT ngày 07/10/2009 quy định quy chuẩn kĩ thuật
quốc gia về môi trường.
-Thông tư số 25/2009/TT-BTNMT ngày 26/11/2009 quy định quy chuẩn kĩ
thuật quốc gia về môi trường.
-Thông tư số 42/2010/TT-BTNMT ngaỳ 29/12/2010 quy định quy chuẩn quốc
gia về môi trường
Do đó theo quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật, hệ thống quy chuẩn kĩ
thuật môi trường khí của Việt Nam gồm 2 loại quy chuẩn kĩ thuật chính.
1.


Quy chuẩn kĩ thuật về chất lượng môi trường không khí xung quanh.
QCVN: 05/2009/BTNMT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về chất lượng không

công
công
công
công
công

-Quy chuẩn kĩ thuật về khí thải đối với nguồn thải động ( khí thải từ các
phương tiện giao thông ).




QCVN: 04/2009/BGTVT Quy chuẩn kĩ thuật quốc gia về khí thải xe mô tô,
gắn máy sản xuất, láp ráp và nhập khẩu mới.

4. Đánh giá sự phù hợp của pháp luật bảo vệ môi trường không khí trong
pháp luật bảo vệ môi trường Việt Nam với các cam kết quốc tế mà Việt
Nam là thành viên.
* Kết quả đạt được:
+ Việt Nam là một trong những nước được cộng đồng quốc tế đánh giá cao về
kết quả triển khai Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn .
kể từ khi Việt Nam phê chuẩn Nghị định thư Montreal năm 1994 đến nay, Việt
Nam đã ban hành nhiều chính sách để hạn chế việc tiêu thụ các chất làm suy
giảm tầng ôzôn. Hai văn bản quan trọng liên quan đến lĩnh vực này đã được Việt
Nam ban hành là Nghị định về cấm nhập khẩu các thiết bị làm lạnh sử dụng khí
gas lạnh CFC và Thông tư liên tịch của hai Bộ Công Thương và Tài nguyên-Môi
trường về việc xuất nhập khẩu và tạm nhập-tái xuất các chất làm suy giảm tầng
ôzôn theo quy định của Nghị định thư.
Để giúp Việt Nam triển khai sâu rộng Nghị định thư này, năm 2006 Quỹ đa
phương về ôzôn thông qua Ngân hàng Thế giới đã tài trợ cho Việt Nam 6,3 triệu

hiệu suất trung bình của nồi hơi công nghiệp từ 45% lên 60%.

Trong thời gian qua, theo tinh thần của Nghị quyết số 60/2007/NQ-CP ngày 03
tháng 12 năm 2007 của Chính phủ, Bộ TN&MT đã phối hợp với các bộ, ngành
liên quan xây dựng Chương trình Mục tiêu Quốc gia Ứng phó với Biến đổi khí
hậu (CTMT). Chương trình đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt theo Quyết
định 158/QĐ-TTg ngày 02/12/2008 và trở thành định hướng và chiến lược cơ
bản quốc gia để ứng phó với BĐKH.

Ngày 05/12/2011, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 2193/QĐ-TTg
về Phê duyệt Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu trong đó nêu rõ, mục tiêu
chung của chiến lược là phát huy năng lực của toàn đất nước, tiến hành đồng
thời các biện pháp thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí hậu, nhằm mục tiêu phát
triển bền vững.


Ngày 30/8/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định 1183/QĐ-TTg
về Phê duyệt Chương tình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu giai
đoạn 2012 - 2015. Theo đó, Mục tiêu chung của Chương trình là từng bước hiện
thực hóa Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu, tăng cường nhận thức và năng
lực thích ứng với biến đổi khí hậu, định hướng giảm phát thải khí nhà kính, xây
dựng nền kinh tế carbon thấp, tích cực cùng cộng đồng quốc tế bảo vệ hệ thống
trái đât.
* Hạn chế:.
Nhìn chung, sau nhiều năm thực hiện các điều ước quốc tế về biến đổi khí
hậu, Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn trong công tác thực thi các điều ước quốc
tế và còn nhiều điểm cần khắc phục, cụ thể là:
+ Thiếu công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường và khí hậu, mặc dù đã có
một số chính sách khuyến khích áp dụng và phát triển công nghệ mới.
Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ thích ứng và giảm nhẹ biến đổi khí


+ Cần luật hóa, xây dựng được hệ thống văn bản pháp luật đồng bộ về biến đổi
khí hậu để nhằm mục đích thực hiện các cam kết quốc tế và hạn chế các tác động
của biến đổi khí hậu, góp phần bảo vệ môi trường. Để làm được điều này trước
hết phải nâng cao nhận thức của toàn dân về vấn đề biến đổi khí hậu.Tiếp tục
hoàn thiện hệ thống chính sách pháp luật, đặc biệt nên xây dựng luật bảo về
không khí.Vì đất đai,nước, rừng cũng đều tài nguyên thiên nhiên và đều có luật
chuyên ngành điều chỉnh nhưng không khí thì chưa có.
Tiếp tục rà soát, bổ sung và hoàn thiện một số văn bản còn thiếu hoặc quy định
chưa đầy đủ như: quy định rõ chức năng, nhiệm vụ của các tổ chức trong công
tác quản lý môi trường không khí, tránh chồng chéo; xây dựng các quy chế phối
hợp về quản lý chất lượng không khí; nghiên cứu, đánh giá và đề xuất lồng ghép
quy định bảo vệ môi trường không khí vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội;
xây dựng và ban hành các văn bản quy định về kiểm kê nguồn thải; cơ chế công
bố thông tin; kế hoạch quản lý môi trường không khí;

+ Nên đưa trách nhiệm của pháp nhân vào bộ luật hình sự để xử lý trách nhiệm
hình sự đối với pháp nhân gây ô nhiễm môi trường nói chung và ô nhiễm môi
trường không khí nói riêng.


+ Giảm nhẹ phát thải nhà kính ở các nước phát triển: nhóm cho rằng các mục
tiêu giảm phát thải khí nhà kính của các nước phát triển cần có cơ chế giám sát,
báo cáo, và kiểm tra (MRV); đồng thời cần có một khung tính toán phổ quát và
có tính đối chiếu cho các loại khí nhà kính, và một mẫu báo cáo chuẩn.

+ Cần đầu tư và hoàn thiện các công nghệ tiên tiến, thân thiện với môi trường
không khí:
Tiếp tục đẩy mạnh đầu tư cơ sở hạ tầng kỹ thuật, máy móc, thiết bị và công nghệ
hiện đại cho trạm quan trắc không khí.

Quỹ Khí hậu xanh giai đoạn 2016-2020.
Tuy nhiên, bản Dự thảo thõa thuận COP21 bỏ ngỏ những bất đồng lớn. Văn
kiện đã được rút ngắn còn 14 trang và cho thấy các bên đã đạt được một số thỏa
hiệp. Tuy nhiên lại bỏ lửng những vấn đề quan trọng và gây tranh cãi nhiều
nhất, trong đó có cam kết chia sẻ trách nhiệm tài chính để cắt giảm khí thải ,
những bất đồng chính vẫn chưa được giải quyết. Tranh cãi lớn nhất là sự phân
chia trách nhiệm tài chính, nhất là cam kết ràng buộc từ các nước phát triển, và
cơ chế gây quỹ chống biến đối khí hậu . Ngoài ra, là mức độ tham vọng về mục
tiêu của thỏa thuận, và cách thức giám sát việc thực hiện thỏa thuận. Ngoài ra,
các tổ chức phi chính phủ cũng đánh giá vẫn còn thiếu vắng quyết tâm chính trị
trong việc giảm phát thải khí nhà kính sau năm 2020. Theo kế hoạch, phiên bản
cuối cùng của thỏa thuận sẽ đã được thông qua vào ngày 18h ngày 11/12/2015.
CẢM ƠN CÔ VÀ CÁC BẠN ĐÃ THEO DÕI




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status