Luận văn thạc sỹ: Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá mức độ phù hợp tập luyện môn Bóng rổ của VĐV nam 1213 tuổi các lớp Bóng rổ nghiệp dư Thành phố Thanh Hóa - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
Trong số các môn thể thao hiện đại được thi đấu ở các đại hội Olympic thì
môn Bóng rổ là môn thể thao có lịch sử tương đối sớm. Theo các sách về lịch sử
thể thao Olympic và sách giáo khoa về môn Bóng rổ thì môn Bóng rổ ra đời vào
năm 1891 tại Mỹ. Trải qua hơn 100 năm, Bóng rổ đã phát triển nhanh chóng cả
về kỹ thuật, chiến thuật, phương tiện dụng cụ và luật lệ thi đấu…. Một trong
những thành tựu phát triển nổi bật là trình độ Bóng rổ của các nước có nền thể
thao phát triển như Mỹ, Nga, Brazin, Cuba, Trung Quốc đã đạt tới trình độ rất
cao. Trong một thời gian của trận đấu nhịp độ thi đấu diễn ra hết sức căng thẳng,
quyết liệt, cam go, đòi hỏi VĐV không những phải có trình độ kỹ thuật điêu
luyện, hợp lý có tâm lý thi đấu vững vàng mà còn phải có một trình độ thể lực
phi thường.
Để có được trình độ Bóng rổ cao như hôm nay, theo nhiều chuyên gia
Bóng rổ nổi tiếng như: Siđơn (Mỹ), Cubasốp ( Nga), Tăng Phàn Huy (Trung
Quốc)… thì “yếu tố phát hiện sớm và chính xác các nhân tài để đưa vào tập
luyện một cách khoa học là yếu tố quan trọng hàng đầu”.
Do các nước có nền thể thao tiên tiến như Nga, Mỹ, Trung Quốc, Nhật đã
xây dựng một hệ thống các chỉ tiêu, tiêu chuẩn từ tuyển chọn ban đầu (tức đánh
giá mức độ phù hợp tập luyện) đến tiêu chuẩn tuyển chọn VĐV ở các giai đoạn
tuyển chọn theo giới tính và lứa tuổi cho tất cả các môn thể thao trong đó có
môn Bóng rổ. Bởi vậy, họ đã tuyển chọn được những VĐV có tiềm năng thể
thao tốt, đồng thời thông qua hệ thống đào tạo VĐV nhiều năm, sử dụng các
phương pháp huấn luyện có tính khoa học cao để khai thác triệt để các tiềm
năng thể thao của VĐV. Từ đó họ đã nhanh chóng đưa trình độ thể thao của họ
lên vị trí hàng đầu thế giới. Đồng thời cách làm đó của các nước đó cũng đã giải
thích tại sao VĐV Bóng rổ của nước họ đánh Bóng rổ như “ làm xiếc” trên sân
với nhịp độ cao, những tình huống gay cấn, các pha đánh bóng đẹp mắt đã cuốn
1
hút hàng triệu con tim hồi hộp trong suốt 4 hiệp thi đấu Bóng rổ trong các trận
thi đấu Bóng rổ nhà nghề và thi đấu Bóng rổ ở Olympic.
Mặc dù Bóng rổ đã ra đời từ năm 1891 tại Mỹ song lại là môn thể thao du

thao cụ thể. Để có thể giúp cho việc phát hiện tài năng một cách chính xác,
thuận lợi, đồng thời có thể nắm vững được VĐV mà chúng ta đã tuyển chọn
được có thể trở thành VĐV xuất sắc trong tương lai hay không? việc đó đòi hỏi
phải xây dựng hệ thống tiêu chuẩn đánh giá mức độ phù hợp tập luyện của VĐV
với môn thể thao mà họ tham gia. Rất tiếc là cho đến nay trong việc nghiên cứu
về tuyển chọn Bóng rổ ở Việt Nam mới chỉ có công trình nghiên cứu của Phạm
Văn Thảo (1999) “nghiên cứu về việc lựa chọn chỉ tiêu và xây dựng tiêu chuẩn
tuyển chọn cho nữ VĐV Bóng rổ ở Việt Nam”. Ngoài ra chưa có công trình
nghiên cứu nào đối với việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá mức độ phù hợp tập
luyện môn Bóng rổ cho nam VĐV ở lứa tuổi thiếu niên.
Thành phố Thanh Hóa là một thành phố mới được công nhận là đô thị loại
1 khu vực Bắc miền Trung. Với bề dày về truyền thống cách mạng cũng như
truyền thống TDTT, tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh Hóa nói
riêng đã đạt được những thành tựu thể thao đáng khích lệ và đứng trong tốp đầu
về thể thao Việt Nam ở các đại hội TDTT Toàn quốc. Tuy vậy, về phong trào
Bóng rổ của tỉnh Thanh Hóa nói chung và thành phố Thanh Hóa nói riêng còn
có những hạn chế nhất định. Để thúc đẩy môn Bóng rổ ở Thanh Hóa không thể
không bắt tay từ việc tìm kiếm các phương pháp phương thức phát hiện tài năng
một cách khoa học chính xác để đưa vào huấn luyện theo phương pháp khoa
học.
Chính vì tầm quan trọng của việc đánh giá mức độ phù hợp tập luyện môn
Bóng rổ là bước di quan trọng đầu tiên trong quá trình đào tạo tài năng thể thao.
Đồng thời xuất phát từ nhu cầu bức xúc cần phát triển nhanh chóng môn Bóng
3
rổ của Thanh Hóa theo kịp với các tỉnh thành có phong trào Bóng rổ tốt như Hà
Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Yên Bái… được sự giúp đỡ của Sở
TDTT Thanh Hóa và phòng TDTT Thành phố Thanh Hóa, Tôi mạnh dạn đi sâu
nghiên cứu đề tài:
“Xây dựng tiêu chuẩn đánh giá mức độ phù hợp tập luyện môn Bóng rổ
của VĐV nam 12-13 tuổi các lớp Bóng rổ nghiệp dư Thành phố Thanh Hóa”

GS. Hình Văn Hoa của Trung Quốc thì lại có cách định nghĩa về đánh giá
như sau: “ Đánh giá trước hết đó là sự xác định giá trị, là quá trình thông qua đối
chiếu với tiêu chuẩn nào đó để phán đoán kết quả đo lường kiểm tra, đồng thời
đem lại cho kết quả này một giá trị và ý nghĩa nhất định” [43tr61]
Aulic của Nga cũng có quan điểm đồng nhất với Hình Văn Hoa và nhấn
mạnh tới việc dùng phương pháp so sánh đối chứng với một tiêu chuẩn đã được
xây dựng khoa học để phán đoán kết quả đo lường”
Từ các khái niệm trên, chúng tôi rút ra khái niệm chung về đánh giá đó là:
sự xác định giá trị và thông qua đối chiếu với tiêu chuẩn đã được xây dựng để
phán đoán kết quả đo lường kiểm tra và đem lại cho kết quả này một giá trị và ý
nghĩa nhất định.
Cũng cần nhấn mạnh là trong đánh giá các nhà khoa học đo lường thể thao
như Aulic (1981) Hình Văn Hoa (1985) đều đã đem đánh giá trong thể thao chia
thành 3 loại là:
- Đánh giá chẩn đoán hoặc còn gọi là đánh giá dự báo.
- Đánh giá thời kỳ hoặc còn gọi là đánh giá quá trình.
- Đánh giá tổng hợp hay còn gọi là đánh giá cuối cùng
Khái niệm về tiêu chuẩn:
5
Theo GS. Nguyễn Như Ý: Tiêu chuẩn là một chuẩn mực để đo đạc xác
định đánh giá chất lượng phẩm chất trình độ của một sự việc, sự vật nào đó
[43tr926]. Còn GS. Dương Nghiệp Chí thì khái niệm tiêu chuẩn đánh giá trong
thể thao là “tiêu chuẩn xếp loại VĐV lấy giá trị giới hạn của thành tích làm cơ
sở” .[7tr99]
Cũng theo các nhà đo lường thể thao thì trong đánh giá trình độ tập luyện
trong tuyển chọn và huấn luyện thể thao thường tồn tại 3 loại tiêu chuẩn:
Tiêu chuẩn so sánh: Đó là tiêu chuẩn được xác định tiêu chuấn so sánh
trên cơ sở so sánh những người cùng một tổng thể ( Ví dụ cùng môn thể thao,
cùng nhóm tuổi v v) nhờ thang đánh giá được xây dựng dựa vào giá trị trung
bình và độ lệch chuẩn theo quy tắc ±

Còn một số nhà khoa học về học thuyết Huấn luyện như Harre, Điền Mạch
Cửu lại quan niệm rằng: “ Trong đánh giá trình độ tập luyện của VĐV có nhiều
cấp. Ở giai đoạn huấn luyện ban đầu là đánh giá mức độ phù hợp tập luyện với
những môn thể thao chuyên sâu.Ở giai đoạn 2, giai đoạn 3 là đánh giá trình độ
thích ứng với giai đoạn huấn luyện chuyên sâu ban đầu và giai đoạn chuyên môn
hóa sâu…” [12]. [14].
Vì vậy có thể thấy đánh giá mức độ phù hợp tập luyện một môn thể thao
nào đó cũng chính là đánh giá trình độ tập luyện của VĐV.
Khái niệm trình độ tập luyện:
Trình độ tập luyện là một phức hợp gồm nhiều thành tố y sinh, tâm lý, kỹ
chiến thuật, thể lực, ngày càng được nâng cao nhờ ảnh hưởng trực tiếp lâu dài
của lượng vận động tập luyện và thi đấu cũng như các biện pháp bổ trợ ngoại
sinh khác.
Khái niệm về quá trình biến đổi lâu dài của quá trình tập luyện luôn luôn
gắn liền với các phạm trù “ Phát triển” và “ Thích nghi”.
Phát triển là một quá trình những biến đổi trạng thái của tất cả các thành tố
tạo nên thực thể trong tự nhiên và xã hội diễn ra theo quy luật nhất định.
7
Sự biến đổi các thực thể đó có mối quan hệ tương hỗ về lượng và chất;
tính ngẫu nhiên, tính đa dạng của những biến đổi đó theo xu hướng chung và tồn
tại lâu dài.
Sự phát triển trình độ tập luyện nhờ tác động lâu dài của lượng vận động
tạo nên những biến đổi chức năng và cấu trúc trong các cơ quan và các hệ thống
cơ thể. Tuy nhiên, mọi quá trình phát triển đều theo hướng tịnh tiến (bước một)
thường gắn với các yếu tố có tính chất chu kỳ. Do đó, quá trình phát triển trình
độ tập luyện được thực hiện không theo đường vòng, không theo đường thẳng
mà dường như theo đường xoáy chôn ốc, bao gồm cả các yếu tố đối lập nhau.
Nghĩa là vừa có tính chu kỳ, vừa có dạng tuyến tính (đường thẳng) trong quá
trình phát triển của trình độ tập luyện.
Nếu xem xét quá trình phát triển trình độ tập luyện ở tầm chu kỳ dài hạn

những kết quả nghiên cứu cho rằng những chấn động Stress, căng thẳng, kể cả
lượng vận động tập luyện và thi đấu với thời gian tác động tương đối lâu dài sẽ
gây nên những phản ứng định hình gồm 3 giai đoạn: Giai đoạn lo lắng, hồi hộp
ban đầu dần dần đổi sang giai đoạn đề kháng, nếu như Stress quá mạnh, quá lâu
thì phản ứng Stress chuyển sang giai đoạn kiệt sức.
Khi đề cập đến bản chất có tính chu kỳ của “ Hội chứng thích ứng” và
Ganseley giải thích sự xuất hiện giai đoạn thứ 3 này do cạn kiệt nguồn năng
lượng thích ứng. Cho đến lúc này, chưa rõ nguồn năng lượng thích ứng là gì,
nhưng bản chất tự nhiên của giai đoạn 3 về hội chứng thích ứng nói chung
chứng tỏ nguồn lực thích ứng là có giới hạn. Trong những công trình sau đó, tuy
chưa có những phương pháp xác định nguồn dự trữ năng lượng thích ứng một
cách khách quan, Ganseley đề nghị phân thành 2 loại năng lượng thích ứng:
- Một loại năng lượng thích ứng thể hiện bên ngoài, dễ nhận biết và
phục hồi được.
9
- Một loại năng lượng thích ứng có chiều sâu ẩn chứa dưới dạng dự trữ,
để bồi hoàn những nguồn năng lượng đã bị tiêu hao trong vận động,
tập luyện vào lúc nghỉ ngơi hoặc chuyển đổi sang hoạt động khác.
Trong thực tiễn thi đấu thể thao, có những trường hợp VĐV sau 2-3 tuần,
đôi khi 2-3 tháng nghỉ ngơi đầy đủ do chấn thương hoặc bị ốm, khi tham gia thi
đấu bỗng nhiên đạt thành tích cao bất ngờ. Theo quan điểm thích ứng nêu trên
có thể giải thích hiện tượng trên là nguồn dự trữ thích ứng đến mức sau hàng
tháng hoặc hơn vẫn phát huy tác dụng có hiệu quả.
Ý tưởng của Ganseley tiếp tục được phát triển trong các công trình của
các chuyên gia khác khi họ chia quá trình thích ứng thành 3 mức độ, chức năng,
các nguồn dự trữ sinh học: dự trữ sinh học ở mức độ chức năng thứ nhất là khi
chuyển từ trạng thái tĩnh sang trạng thái hoạt động bình thường với đặc điểm là
các phản ứng đồng hóa (phản ứng tổng hợp) chiếm ưu thế, đối với mức độ chức
năng thứ 2 của dự trữ sinh học được biểu hiện bằng sự cân bằng giữa các phản
ứng của cả 2 quá trình đồng hóa và dị hóa ( phản ứng phân hủy). Và cuối cùng

mới thực sự phù hợp tập luyện môn thể thao mà VĐV đó lựa chọn.
Chính vì vai trò quan trọng của năng lực thích ứng đó trong quá trình
huấn luyện thể thao mà việc xây dựng tiêu chuẩn đánh giá trình độ tập luyện
phải xem xét tới vai trò của năng lực thích ứng trong quá trình huấn luyện.
Các công trình nghiên cứu về đánh giá trình độ tập luyện của Aulich
(1982), Hình Văn Hoa (1985), Chung Tấn Phong (1999), Nguyễn Thế Truyền
(2005)…đã ở những góc độ khác nhau nghiên cứu và xem xét những biến đổi
diễn ra trong cơ thể VĐV nhằm đáp lại những tác động khác nhau. Các nhà khoa
học trên đã chia quá trình thích ứng tập luyện của VĐV thành 4 giai đoạn.
1. Giai đoạn 1 cấp báo: Giai đoạn này có đặc điểm là các chức phận của
các hệ thống cơ thể vượt quá mức tối đa không thể tiết kiệm được.
11
Trong tiêu hao dự trữ năng lượng của từng cơ quan, các phản ứng Stress
cũng nghiêm trọng và dễ gây chấn thương. Trong giai đoạn này chưa xuất hiện
những biến đổi mới về chức phận và hình thái trong các hệ thống khác nhau của
cơ thể.
2. Giai đoạn “ quá độ”. Giai đoạn quá độ của quá trình thích ứng lâu dài
có đặc điểm là quá trình đổi mới về hình thái và chức năng diễn ra tích cực. Đực
biệt là sự phì đại vận động trong cơ bắp và các hệ thống khác, làm hoạt hóa bộ
máy di truyền của cấu trúc tế bào, tổng hợp các thành tố trong cấu tạo Axít
Nucleotic, các Albumin, tăng cường khả năng chức phận của các hệ thống cơ
thể đang thích nghi. Hình thành “dấu vết” về mặt cấu trúc còn tản mạn. Thực
chất giai đoạn này có thể nói trình độ tập luyện đang phát triển.
3. Giai đoạn “ổn định”: Trong giai đoạn này, chẳng những phản ứng của
cơ thể dần dần giảm đi đối với các yếu tố gây ra thích ứng. Những biến đổi về
cấu trúc trong các hệ thống cơ thể khác nhau được phát triển ở mức độ nhất
định, nhờ vậy nâng cao khả năng chức phận của các hệ thống đó và đảm bảo
hoạt động tiết kiệm và ổn định. Giai đoạn này hoàn thiện quá trình hình thành
các dấu vết về mặt cấu trúc một cách hệ thống, những biến đổi về hình thái,
chức phận trong cơ thể diễn ra theo quy luật từ từ bước một.

cũng được Mátvê ép từ những thập kỷ 60 của thế kỷ trước đề xuất: “ Mỗi một
lần trước khi có trạng thái sung sức thể thao mới, cần phải thủ tiêu hoặc quăng
cái cũ đi” [23]
Tính chất giai đoạn của quá trình thích nghi một lần nữa chứng minh
rằng sự phát triển trình độ tập luyện là một quá trình có tính chất chu kỳ và giai
đoạn là 1 căn cứ quan trọng để xây dựng tiêu chuẩn đánh giá tập luyện.
Trong mỗi chu kỳ phát triển trình độ tập luyện có một giai đoạn thích ứng
lâu dài và những biến đổi hình thái chức năng tương ứng trong các cơ quan và
13
hệ thống cơ thể. Những biến đổi về cấu trúc chịu sự tác động nhiều lần không
thể diễn ra tức thời mà đòi hỏi phải có một thời gian nhất định. Nhiều nhà huấn
luyện học như Harre (Đức), Philin (Nga), Điền Mạch Cửu (Trung Quốc) cho
rằng: “ khái niệm về biến đổi về cấu trúc cơ thể không thể tách rời về khái niệm
thời gian biến đổi nghĩa là một cấu trúc sinh học bắt đầu từ những đại phântử và
các phần cấu thành sẽ kết thúc bằng các tổ chức tế bào và từng tế bào cũng có
cuộc sống riêng của nó do những đặc điểm về cấu trúc và hoạt động riêng của
bản thân tổ chức.
Từ các quan điểm trên cho thấy sự biến đổi của trình độ tập luyện cũng
phải diễn ra theo thời gian nhất định. Sự biến đổi trình độ tập luyện không diễn
ra theo một lộ trình tuyến tính thậm chí ngay cả khi việc tập luyện diễn ra 1 cách
hệ thống thì trình độ tập luyện vẫn có tính giai đoạn và thang bậc nhất định.
Bởi vậy trong lý luận cũng như trong thực tiễn đánh giá cần phải mang
tính thời điểm chặt chẽ.
Về mối quan hệ giữa khả năng thích ứng với mức độ phù hợp tập luyện
một môn thể thao nào đó nhiều nhà khoa học về huấn luyện thể thao như Harre,
Gôzôlin, Điền Mạch Cửu cũng như các nhà khoa học về tuyển chọn như
Bungacova và những nhà đo lường và đánh giá thể thao như Aulic, Hình Văn
Hoa, Dương Nghiệp Chí đều cho rằng giữa khả năng thích ứng và mức độ phù
hợp tập luyện có mỗi tương quan thuận và khá chặt chẽ. Nghĩa là “ khi mức độ
phù hợp tập luyện càng cao thì sự biến đổi mang tính thích ứng về hình thái

Quá trình đánh giá có thể theo nhiều phương pháp khác nhau, bằng thang
điểm đánh giá cũng như các tiêu chuẩn đã được nghiên cứu xây dựng cho mỗi
đối tượng (nam, nữ, độ tuổi) cụ thể ở mỗi giai đoạn tuyển chọn hoặc giai đoạn
huấn luyện nhất định.
Trong quá trình đánh giá trình độ tập luyện hoặc đánh giá trong tuyển
chọn các giai đoạn. Các nhà khoa học về đánh giá và tuyển chọn phải xây dựng
các bảng điểm và thang đánh giá.
- Bảng điểm và thang đánh giá:
Các nhà đo lường thể thao như Aulic, Hình Văn Hoa, Dương Nghiệp Chí
đã dùng các bảng điểm để biểu đạt trình độ hoặc(mức độ) thành tích của thể thao
được gọi là thang đánh giá. Trong thể thao, các nhà đo lường thể thao thường sử
dụng các thang đánh giá sau: Thang tỷ lệ, thang chuẩn, thang độ C v v v
- Thang tỷ lệ thuận: Là thang điểm phân đều đặn và tỷ lệ thuận với thành
tích thể thao. Thang điểm tỷ lệ nghịch là là thang điểm được xếp sắp ngược lại
với tỷ lệ thuận.
Thang dạng Xíchma: Khuyếch đại kết quả lập Test ở phạm vi rất thấp và
rất cao. Vì vậy chỉ được sử dụng trong đánh giá trình độ thể lực chung.
- Thang chuẩn: Là thang dùng độ lệch chuẩn làm tỷ lệ xích để làm thang
đánh giá. Thang độ chuẩn được sử dụng rộng rãi gồm:
Thang độ T và thang độ C.
Thang độ T = 50+ 10
σ
XX −
= 50 + 10Z
Thang độ C = 5 + Z
( Z =
σ
XX −
)
Trong đó: Z là thành tích cần quy ra điểm

Giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ và giai đoạn huấn luyện VĐV cấp cao.
Mục đích của giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ là tạo tiền đề chung và
chuyên môn cho VĐV để VĐV có thể được tiếp tục đào tạo ở giai đoạn đào tạo
VĐV cấp cao. Trong giai đoạn huấn luyện VĐV trẻ Harre lại chia thành 2 giai
đoạn: huấn luyện ban đầu và huấn luyện chuyên môn hóa [12].
Quan điểm của các nhà khoa học Liên Xô như Nôvicôp, Mátvêp (1983),
Nabatnhicova (1983), Philin (1987) đều chia quá trình huấn luyện thành 4 giai
đoạn là:
- Giai đoạn huấn luyện ban đầu.
17
- Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa ban đầu.
- Giai đoạn huấn luyện chuyên môn hóa sâu.
- Giai đoạn huấn luyện hoàn thiện thể thao. [23], [26]
Các tác giả của Trung Quốc như Diên Phong (1999), Điền Mạch Cửu
(2000) thì phân chia quá trình huấn luyện thành:
Ba giai đoạn lớn ( 4 giai đoạn nhỏ):
-Giai đoạn huấn luyện ban đầu (1 giai đoạn)
-Giai đoạn huấn luyện chuyên sâu (2 giai đoạn)
-Giai đoạn nâng cao hoặc còn gọi là hoàn thiện và duy trì thành tích thể
thao (1 giai đoạn) [27], [44].
Ở Việt Nam, các tác giả Nguyễn Toán và Phạm Danh Tốn, Nguyễn Thế
Truyền cũng có cách phân chia giai đoạn huấn luyện như các nhà khoa học Nga
và Trung Quốc.
Trên cơ sở phân chia các giai đoạn này mà nhiệm vụ và yêu cầu của
tuyển chọn và đánh giá cũng phân chia thành các giai đoạn tương ứng. Như
tuyển chọn và đánh giá trình độ ban đầu; tuyển chọn và đánh giá trình độ chuyên
sâu; tuyển chọn và đánh giá trình độ hoàn thiện thể thao v v
1.6. CÁC XU HƯỚNG CƠ BẢN CỦA NGHIÊN CỨU VỀ ĐÁNH GIÁ
TRÌNH ĐỘ TẬP LUYỆN CỦA VĐV THỂ THAO.
Hiện nay chất lượng, hiệu quả đào tạo VĐV thể thao của Thế giới nói

trong chu ki huấn luyện hoặc trong đánh giá tuyển chọn vận động viên ở các giai
đoạn tuyển chọn
5, Về khâu tổ chức kiểm tra đánh giá cũng được các nhà khoa học về
tuyển chọn chú trọng hơn để nâng cao hiệu xuất, giảm bớt thời gian, nhân lực,
vật lực mà vẫn đảm bảo hiệu suát đánh giá và tuyển chọn.
19
Việc kiểm tra đánh giá sẽ đươc tiến hành thường xuyên liên tục để giúp
cho viêc điều chỉnh kế hoạch và nội dung huấn luyện nhằm làm cho việc huấn
luyện đạt được kết quả tối ưu.
6, Tính chuyên sâu và tính chuyên biệt trong đánh giá ngày càng rõ nét.
Điều này thể hiện ở việc vận dụng sâu rộng hơn các thành tựu của các môn khoa
học kề cận và cơ bản như sinh hóa, sinh cơ làm cho hiệu xuất đánh giá cao hơn.
Đồng thời còn lợi dụng thành quả nghiên cứu của khoa học công nghệ như các
máy chẩn đoán y sinh v v để nâng cao tính hiệu quả trong tuyển chọn đánh giá.
Tính chuyên sâu còn thể hiện ở việc nghiên cứu các tiêu chuẩn tuyển chọn và
đánh giá cho từng môn chuyên sâu hẹp.
1.7. ĐẶC ĐIỂM HOẠT ĐỘNG CỦA MÔN BÓNG RỔ.
1.7.1. Đặc điểm kỹ chiến thuật của môn Bóng rổ.
Kỹ thuật Bóng rổ là “tên gọi chung của các động tác chuyên môn mà
VĐV sử dụng trong thi đấu để tấn công và phòng thủ” [47tr38].
Kỹ thuật Bóng rổ bao gồm các động tác di động như chạy, nhảy dừng
gấp quay người, không bóng, các động tác khống chế điều khiển bóng như bắt
bóng, chuyền bóng, dẫn bóng ném rổ. Đồng thời còn bao gồm cả các động tác
phòng thủ như: Cướp bóng, đánh bóng, cắt bóng, cướp bóng dưới rổ… và các hệ
thống động tác đa dạng khác phối hợp với nó để tổ hợp thành hệ thống động tác
kỹ thuật trong kỹ thuật đánh Bóng rổ.
Cũng theo các chuyên gia Bóng rổ Quốc tế như: Banicop (Nga), Tôn
Dân Trị (Trung Quốc) thì “kỹ thể thao là một kiểu (mô thức) cách đã được lý
tưởng hóa và bao gồm động tác quy phạm tắc, cần phải phù hợp với luật thi đấu
lại vừa phù hợp yêu cầu đối kháng công thủ và phù hợp với nguyên lý vận động

Do Bóng rổ là môn đối kháng trực tiếp trên sân nên để giành được thắng
lợi trong thi đấu, ngoài đòi hỏi VĐV phải có chiến thuật phòng thủ cá nhân tốt
21
còn phải biết phối hợp chiến thuật với đồng đội. Trong Bóng rổ hiện đại thường
dùng các chiến thuật chủ yếu sau:
Chiến thuật tấn công có:
1, Cá nhân (kèm người có bóng và không có bóng)
2, Theo nhóm (phối hợp 2,3,4 người )
3, Toàn đội ( tấn công nhanh, phá kèm người, phá liên phòng)
Chiến thuật phòng thủ có:
1, Phòng thủ cá nhân ( phòng thủ có bóng và không có bóng)
2, Phòng thủ theo nhóm ( phòng thủ 2 người, 2 người, 4 người)
3, Toàn đội ( phòng thủ hỗn hợp, phòng thủ kèm người và phòng thủ liên
phòng)
Đặc điểm nổi bật trong họat động chiến thuật của Bóng rổ là:
Thứ nhất phải có trình độ kỹ thuật phòng thủ và ý thức chiến thuật phòng
thủ tốt.
Thứ hai là sự phối hợp chiến thuật nhuần nhuyễn các loại hình chiến
thuật trên sân.
Thứ ba là cần có chiến thuật đối ứng phù hợp với thế trận trên sân mới có
thể đạt được hiệu quả thi đấu tốt.
Thứ tư: Đòi hỏi VĐV phải có thể lực hết sức sung sức.
1.7.2. Đặc điểm hoạt động thể lực của VĐV Bóng rổ
Thi đấu Bóng rổ hiện đại đòi hỏi VĐV môn thể thao này phải có thể lực
toàn diện, phát triển ở trình độ cao để có thể thi đấu căng thẳng trong các trận
đấu kéo dài (1 đến 2 giờ) và với mật độ thi đấu dày đặc. Vì vậy có những yêu
cầu cụ thể với các tố chất thể lực như sau:
- Tố chất sức mạnh:
Trong Bóng rổ hiện đại, năng lực sức mạnh được biểu hiện trong các
động tác nhảy, động tác chèn người động tác ném bóng chuyền bóng xa…

- Tố chất khéo léo: VĐV Bóng rổ đòi hỏi phải có năng lực khéo léo cao.
Trong ba loại mức độ về khéo léo là:
Mức độ thứ nhất: Là sự chính xác về không gian và khả năng phối hợp vận
động nói chung.
Mức độ thứ hai: Là sự chính xác về không gian và khả năng phối hợp vận
động trong thời gian eo hẹp.
Mức độ thứ ba: là sự chính xác về không gian và khả năng phối hợp vận
động trong thời gian eo hẹp và trong những điều kiện luôn thay đổi. Trong Bóng
rổ cả ba mức độ khéo léo đều cần đối với VĐV. Song cần hơn cả là mức độ
khéo léo thứ 3. Tố chất khéo léo đối với VĐV Bóng rổ có ý nghĩa rất lớn để
hoàn thiện nâng cao kỹ thuật và tiếp thu kỹ thuật mới.
- Tố chất mềm dẻo và khả năng thả lỏng:
Mềm dẻo là một tố chất giúp VĐV Bóng rổ có thể thực hiện được các động
tác với biên độ lớn và các động tác biết lách, tranh cướp bóng tầm cao và tầm
thấp. Độ mềm dẻo mà VĐV Bóng rổ cần là dẻo khớp hông vai, cổ chân cổ tay
và cột sống. Kỹ năng thả lỏng các nhóm cơ cũng rất cần thiết đối với VĐV Bóng
rổ nhằm giúp VĐV thực hiện tốt các động tác kỹ thuật.
Tóm lại: Trong hoạt động Bóng rổ có những đặc điểm riêng về kỹ thuật,
chiến thuật, luật chơi và từ đó cũng có những yêu cầu rất riêng đối với sự phát
triển các tố chất thể lực. Điều này cần được quan tâm trong quá trình đánh giá
mức độ phù hợp tập luyện cũng như đánh giá trong quá trình tuyển chọn ở các
giai đoạn chuyên sâu hóa khác của VĐV Bóng rổ.
1.8. ĐẶC ĐIỂM MÔ HÌNH VĐV BÓNG RỔ CẤP CAO.
1.8.1. Tuổi bắt đầu tham gia huấn luyện và tuổi đạt thành tích cao của
VĐV Bóng rổ.
Việc xây dựng tiêu chuẩn tuyển chọn và đánh giá trình độ tập luyện của
VĐV phải dựa vào các kết quả nghiên cứu về độ tuổi tham gia tập luyện ( nhận
vào các lớp nghiệp dư) và độ tuổi đạt thành tích cao (vào đội tuyển Olympic).
24
Việc nghiên cứu độ tuổi tham gia tập luyện và tuổi đạt thành tích cao đối


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status