QUYỀN GIỮ GÌN BẢN SẮC VĂN HÓA
CỦA CÁC DÂN TỘC THIỂU SỐ Ở VIỆT NAM
Phạm Quang Linh
*
Thế kỷ 21 đang chứng kiến sự phát triển như vũ bão của khoa học kỹ thuật.
Điều này khiến việc tiếp cận, giao lưu giữa con người với nhau trở nên dễ dàng.
Đây là tiền đề cho sự tiếp xúc, trao đổi văn hóa giữa các quốc gia, vùng, miền, dân
tộc khác nhau trên khắp thế giới. Sự giao lưu này đem lại nhiều cơ hội phát triển
nhưng cũng mang lại không ít thách thức. Một trong những thách thức lớn đang
được đặt ra, đó là việc giữ gìn bản sắc văn hóa của dân tộc trong xu thế phát triển
hiện nay.
Với 54 dân tộc anh em, có thể nói nền văn hóa Việt Nam là một nền văn hóa
rất đa dạng. Ngoại trừ dân tộc Kinh chiếm số lượng áp đảo 73.594.740 người
(85,77% dân số toàn quốc), 53 dân tộc còn lại chỉ chiếm 12.252.257 người (14,23%
tổng dân số). Trong đó nhiều nhất là dân tộc Tày với 1.626.392 người, chiếm 1,89%
tổng dân số. Ít nhất là dân tộc Ơđu với 376 người, chỉ chiếm 0,0004 % dân số
1
. Sự
bé nhỏ về mặt dân số, sự ảnh hưởng từ các nền văn hóa ngoại lai (văn hóa của
người Kinh, văn hóa của khách du lịch nước ngoài...), cũng như sự thay đổi về
phạm trù suy nghĩa do tác động của nền kinh tế phát triển đã khiến bản sắc văn hóa
của các dân tộc thiểu số ngày càng trở nên mai một.
Trong bối cảnh trên, vấn đề giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số
ở Việt Nam đang ngày càng trở nên cấp thiết và được Đảng, Nhà nước vô cùng
quan tâm, chú ý. Nhiều bộ luật, điều luật đã được Nhà nước đưa ra để làm rõ các
quyền con người (gồm cả người dân các dân tộc ít người). Đây là cơ sở pháp lý cho
việc bảo vệ, giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Bên cạnh đó, Nhà
nước cũng không ngừng đưa ra các chính sách, chương trình hỗ trợ nhằm tạo điều
kiện cho người dân các dân tộc thiểu số nâng cao đời sống cả về văn hóa vật chất và
văn hóa tinh thần.
1. Các khái niệm chung
không được phép đi quá giới hạn hoặc đối lập với hệ thống pháp luật - nơi quy định
những giá trị chuẩn mực của xã hội mà người đó đang sống.
1.2. Văn hóa, bản sắc văn hóa
Theo định nghĩa năm 2002 của Tổ chức giáo dục, xã hội, văn hóa Liên hợp
quốc (UNESCO) thì “Văn hóa nên được đề cập đến như một tập hợp của những đặc
trưng về tâm hồn, vật chất, tri thức và xúc cảm của một xã hội hay một nhóm người
trong xã hội và nó chứa đựng, ngoài văn học và nghệ thuật, cả cách sống, phương
thức chung, hệ thống giá trị, truyền thống và đức tin”.
2
Wolfgang Benedek, Tìm hiểu về quyền con người, Nxb Tư pháp, Hà Nội, 2008, tr.12
3
Vương Xuân Tình, Nguyễn Văn Minh, Nghiên cứu nhân quyền ở Việt Nam: Một tiếp cận Dân tộc học; Bài
viết trong cuốn Quyền con người - Tiếp cận đa ngành và liên ngành khoa học xã hội, tr.329
Theo định nghĩa của chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, “Vì lẽ sinh tồn cũng như
mục đích cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh ra ngôn ngữ, chữ viết,
đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn hóa, nghệ thuật, những công cụ cho sinh
hoạt hàng ngày về ăn, ở và các phương thức sử dụng. Toàn bộ những sáng tạo và
phát minh đó tức là văn hóa. Văn hóa là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt
cũng như biểu hiện của nó mà loài người tạo ra nhằm mục đích thích ứng với nhu
cầu đời sống và đòi hỏi của sinh tồn”.
Như vậy, có thể hiểu một cách tổng quát, văn hóa là tất cả những giá trị vật
chất và giá trị tinh thần mà con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình lịch sử.
Vậy còn bản sắc văn hóa? Theo Từ điển tiếng Việt, thuật ngữ "bản sắc" dùng
để chỉ tính chất, màu sắc riêng tạo thành phẩm chất đặc biệt của một sự vật tức là
nói tới sắc thái, đặc tính, đặc thù riêng của sự vật đó. Thuật ngữ bản sắc thường
được sử dụng gắn với văn hóa và dân tộc. Nói đến dân tộc là nói đến văn hoá, bản
sắc văn hoá và nói đến văn hoá là nói đến dân tộc, bản sắc dân tộc. Có thể hiểu bản
sắc văn hoá là hệ thống các giá trị đặc trưng bản chất của một nền văn hoá được xác
lập, tồn tại, phát triển trong lịch sử và bản sắc văn hóa thể hiện tinh thần, linh hồn,
cốt cách, bản lĩnh của một dân tộc. Đây được coi là “dấu hiệu khác biệt về chất”
. Như vậy, có thể hiểu, dân tộc
thiểu số là những dân tộc có số dân ít, chiếm tỷ trọng thấp trong tương quan so sánh
về lượng dân số trong một quốc gia đa dân tộc.
1.4. Các quyền về văn hóa của người dân tộc thiểu số trong luật quốc tế
Mặc dù khái niệm dân tộc thiểu số (minorities) vẫn chưa được xác nhân
trong bất cứ văn bản nào của Liên Hợp Quốc, tuy nhiên, vẫn có những quyền cho
các dân tộc thiểu số (minorities) được thể hiện qua nhiều công ước và tuyên bố.
Chẳng hạn như Điều 27 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị
(ICCPR) nêu rõ “ở các quốc gia có các nhóm thiểu số về sắc tộc, tôn giáo, và ngôn
ngữ, những thành viên của các nhóm thiểu số đó, cùng với các thành viên khác của
cộng đồng mình, không bị khước từ quyền có đời sống văn hóa riêng, quyền được
theo và thực hành tôn giáo riêng, hoặc quyền được sử dụng ngôn ngữ riêng của
họ”
6
. Hay như Điều 1 trong Tuyên bố về quyền của những người thuộc các nhóm
thiểu số về dân tộc, chủng tộc, tôn giáo và ngôn ngữ, 1992 đã tuyên bố rằng “các
quốc gia sẽ bảo vệ sự tồn tại và bản sắc dân tộc hay sắc tộc, văn hóa, tôn giáo và
ngôn ngữ của người thiểu số trong phạm vi lãnh thổ thuộc sự quản lý của họ, và
khuyến khích những điều kiện để thúc đẩy bản sắc đó; các quốc gia sẽ thông qua
những biên pháp lập pháp và những biện pháp thích hợp khác để đạt được những
mục tiêu này”
7
...
Không có một Công ước hay Tuyên bố nào đề cập riêng về việc phải giữ gìn
bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số. Tuy nhiên, quyền này được lồng ghép một
5
Lô Quốc Toản, Quan niệm về “dân tộc thiểu số” và “cán bộ dân tộc thiểu số” hiện nay,
/>6
Luật quốc tế về quyền của các nhóm người dễ bị tổn thương, tr.14
7
Văn hóa, Xã hội; Công ước về Xóa bỏ mọi hình thức phân biệt chủng tộc
8
...
2.2. Quyền giữ gìn bản sắc văn hóa của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam
8
Sách trắng về Nhân quyền ở Việt Nam, tr.4