Vi ph¹m ph¸p luËt phßng, chèng b¹o lùc
gia ®×nh ®èi víi phô n÷ ë ViÖt Nam hiÖn nay
hµ néi - 2009
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU 1
Chương 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VI PHẠM PHÁP LUẬT TRONG
LĨNH VỰC PHÒNG, CHỐNG BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI
VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM 8
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại vi phạm pháp luật
8
1.2. Khái niệm, nội dung pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
12
1.3. Khái niệm, đặc điểm, hậu quả của vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ (vi phạm
pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ)
31
1.4. Các yếu tố bảo đảm, ngăn chặn, hạn chế vi phạm pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
44
1.5. Kinh nghiệm nước ngoài về phòng, chống vi phạm pháp luật
phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ
49
Chương 2: THỰC TRẠNG VI PHẠM PHÁP LUẬT PHÒNG, CHỐNG
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM TỪ
NĂM 2000 ĐẾN NAY 64
2.1. Thực trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình
đối với phụ nữ ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay
64
2.2. Nguyên nhân của vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở Việt Nam
lĩnh vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đang ngày một gia
tăng, làm ảnh hởng đến sự phát triển toàn diện của xã hội và ngay chính bản
thân ngời phụ nữ đó cũng nh sự phát triển bình thờng của con cái họ.
Ngày nay, bạo lực gia đình là vấn đề mang tính toàn cầu, gây nhức
nhối cho nhân loại, để lai nhiều hậu quả cho con ngời, nhất là đối với phụ
nữ. Mặc dù LHQ và các nớc trên thế giới đã có nhiều cố gắng trong việc
phòng chống bạo lực gia đình và ban hành nhiều văn kiện pháp lý liên quan
đến phòng chống bạo lực gia đình và hiện đã có 89 nớc trên thế giới có các
quy định pháp luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình, trong đó có 60
nớc có luật riêng về phòng chống bạo lực gia đình; 7 nớc có luật riêng về
bạo lực chống lại phụ nữ nhng ở khắp nơi trên thế giới, phụ nữ vẫn là nạn
nhân của bạo lực gia đình. Bớc sang thế kỷ XXI, bạo lực gia đình không
giảm mà vẫn tiếp tục lan rộng, trở thành vấn đề nghiêm trọng và phổ biến ở
nhiều nớc trên thế giới. Theo ớc tính, mỗi năm trên thế giới có khoảng trên
3 triệu phụ nữ chết vì bạo lực gia đình; từ 15 đến 71% phụ nữ phải chịu
một hình thức bạo lực nào đó về thể xác và tình dục ngay trong gia đình. Cứ
3 phụ nữ trên thế giới thì có ít nhất một ngời bị đánh đập, ép buộc về tình
dục hoặc bị lạm dụng trong suốt cuộc đời mà những kẻ lạm dụng thờng là
chồng và bạn tình. Bạo lực gia đình đang trở thành vấn đề phổ biến có quy
mô của một đại dịch và là một biểu hiện của các mối quan hệ bất bình đẳng
giữa nam và nữ trên toàn thế giới, là nguyên nhân dẫn đến tử vong và làm
mất khả năng của phụ nữ trong độ tuổi sinh sản. Bạo lực gia đình đã và
đang là một trở ngại lớn đối với sự bình đẳng, là sự vi phạm thô bạo các
quyền con ngời.
Chính tính nguy hiểm và tác hại của bạo lực gia đình mà vấn đề bạo
lực gia đình tại Việt Nam đã đợc Luật hoá, đợc đặt dới sự kiểm soát của
pháp luật. Bạo lực gia đình là vi phạm pháp luật. ở Việt Nam, vấn đề phòng
chống bạo lực gia đình đợc Đảng và Nhà nớc ta đặc biệt quan tâm. Điều
này đợc thể hiện trong các chính sách của Đảng và các quy định của pháp
luật. Điều 63, Hiến pháp 1992 quy định : "Công dân nữ và nam có quyền
kinh tế nh chi phí chăm sóc và phục hồi sức khoẻ nạn nhân, chi phí điều tra,
truy tố, xét xử cùng nhiều chi phí gián tiếp khác liên quan đến tình trạng
bệnh tật, mất khả năng tham gia lao động sản xuất của nạn nhân.
Nhiều vụ án thơng tâm liên quan đến bạo lực gia đình đối với phụ nữ
đã xảy ra và số lợng tăng lên từng ngày, gây hậu qủa nhức nhối cho xã hội.
Điển hình nh vụ bạo lực kéo dài suốt 32 năm xảy ra ở Quảng Bình mà nạn
nhân là bà Xuê. Đã không biết bao lần bà chết đi sống lại với những trận
đòn tàn bạo của chồng. Mới đây, chỉ vì không đào đâu ra tiền cho chồng
uống rợu, bà đã bị chính ngời chồng trói lại, đánh đập tàn nhẫn, gây thơng
tích nghiêm trọng. Nhiều hành vi dã man khác nh khống chế, đổ thuốc diệt
cỏ vào miệng vợ; đổ xăng đốt vợ; hành xử vợ bằng búa Những hành vi đã
mất hết nhân tính đó đã gây bức xúc cho xã hội. Tiếng kêu cứu thảm thơng
của rất nhiều ngời phụ nữ đã vang lên đặt ra cho xã hội một lời giải đáp cần
phải làm gì trớc thực trạng vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình đối với
phụ nữ. Điều này đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách, pháp luật và các
nhà thực thi pháp luật cùng các cơ quan có thẩm quyền cần có một cơ chế
và biện pháp hữu hiệu để bảo vệ quyền lợi chính đáng cho phụ nữ, giúp họ
thoát khỏi bạo lực đồng thời có biện pháp xử lý nghiêm khắc đối với các
chủ thể vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình nói chung đặc biệt đối với
phụ nữ nói riêng, tạo ổn định và phát triển cho xã hội. Chính vì vậy, việc
nghiên cứu tìm ra các giải pháp giúp phụ nữ thoát khỏi bạo lực gia đình,
loại bỏ vi phạm pháp luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong xã hội,
đề tài " Vi phm phỏp lut phũng, chng bo lc gia ỡnh i vi ph n
Vit Nam hin nay " có ý nghĩa lý luận và thực tiễn cấp bách ở nớc ta
hiện nay.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
ở nớc ta, phòng chống bạo lực gia đình không còn là vấn đề mới và
đợc quy định cụ thể ở Hiến pháp và pháp luật. Điều 63, Hiến pháp 92 quy
định: "nghiêm cấm mọi hành vi phân biệt đối xử, xúc phạm nhân phẩm phụ
nữ". Điều 107, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 quy định: "Cấm vợ,
ảnh hởng không nhỏ tới sự phát triển kinh tế-xã hội của đất nớc. Hơn nữa,
nhu cầu của việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của phụ nữ khỏi bị bạo
lực gia đình đang đòi hỏi một hệ thống pháp luật đồng bộ với một bộ máy
và con ngời cụ thể trên cơ sở so sánh và tham khảo kinh nghiệm của các n-
ớc trên thế giới là vấn đề cấp thiết ở nớc ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích:
Đề tài có mục đích nghiên cứu một cách có hệ thống và toàn diện cơ
sở lý luận về vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với
phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đánh giá thực trạng, luận văn đề
xuất các giải pháp cơ bản nhằm phòng chống vi phạm pháp luật trong lĩnh
vực phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở nớc ta.
3.2. Nhiệm vụ
Để đảm bảo mục đích nêu trên trên, luận văn xác định các nhiệm vụ
chính sau:
- Nghiên cứu làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận về vi phạm pháp luật
và vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ.
Trên cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật, các yêu cầu của hành vi hợp pháp
trong việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ, luận văn có nhiệm
vụ chỉ ra đợc các đặc điểm của vi phạm pháp luật trong phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ; nội dung vi phạm pháp luật phòng, chống bạo
lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay.
- Nghiên cứu đánh giá thực trạng vi phạm pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình đối với phụ nữ trên cơ sở phân tích và đánh giá tình hình vi
phạm pháp luật, làm rõ các hành vi vi phạm pháp luật cơ bản trong phòng,
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ trong những năm qua để có một bức
tranh về thực trạng vi phạm pháp luật một cách cơ bản nhất trong phòng,
chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Từ đó, phân tích các nguyên nhân
khách quan và chủ quan của thực trạng trên làm cơ sở cho việc đa ra các
giải pháp khắc phục vi phạm pháp luật trong lĩnh vực này.
ở Việt Nam hiện nay.
7. ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả của luận văn có thể đợc vận dụng làm tài liệu nghiên cứu về
vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ và góp
thêm cơ sở lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện pháp luật phòng,
chống bạo lực gia đình.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chơng:
Chơng 1: Cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam
Chơng 2: Thực trạng vi phạm pháp luật phòng, chống bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở Việt Nam từ năm 2000 đến nay.
Chơng 3: Quan điểm và giải pháp cơ bản phòng, chống vi phạm pháp
luật về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1
cơ sở lý luận về vi phạm pháp luật trong lĩnh vực
phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở việt
nam
1.1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại vi phạm pháp luật
1.1.1. Khái niệm vi phạm pháp luật
Trong công cuộc đổi mới hiện nay ở nớc ta, pháp luật với những thế
mạnh của mình đã điều chỉnh nhiều lĩnh vực trong đời sống xã hội, đợc nhà
nớc đảm bảo thực hiện và đợc nhân dân đồng tình ủng hộ, thực hiện khá
nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau, trong xã hội
vẫn còn một số tổ chức, cá nhân không tuân thủ, chấp hành pháp luật, làm
trái các quy định của pháp luật nh tình trạng vi phạm an toàn giao thông
còn xảy ra nhiều, nhiều vụ án giết ngời, tham nhũng, buôn bán ma tuý với
tính chất và mức độ nguy hiểm ngày càng tăng. Đó là những vi phạm pháp
luật.
Hành vi vi phạm pháp luật đợc biểu hiện dới hai hình thức:
+ Hành vi hành động: chủ thể làm một việc bị pháp luật cấm.
+ Hành vi không hành động: chủ thể không làm một việc mà
pháp luật yêu cầu phải làm.
Thứ hai, vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật.
Tính trái pháp luật thể hiện: sự chống đối những quy định chung của
pháp luật. Pháp luật quy định nh thế này thì chủ thể lại hành động ngợc lại
và trong một trờng hợp cụ thể nào đó, quy phạm pháp luật bắt buộc con ng-
ời phải hành động nhng chủ thể lại không hành động. Hành vi trái pháp luật
bao giờ cũng xâm hại tới các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ và là
những hành vi gây thiệt hại cho xã hội.
Nh vậy, vi phạm pháp luật phải là những hành vi trái pháp luật, làm
ngợc lại những gì pháp luật đặt ra, yêu cầu. Nhng trong thực tế, có những
hành vi rõ ràng đã xâm hại tới các quy định của pháp luật nhng không bị
coi là vi phạm pháp luật vì chủ thể không có lỗi nh trờng hợp vì phải chở
bệnh nhân đi cấp cứu mà ngời lái xe đã đi vào đờng một chiều, vợt đèn
đỏ.Vì vậy để bị coi là vi phạm pháp luật, hành vi trái pháp luật phải chứa
đựng lỗi của chủ thể hành vi đó.
Thứ ba, vi phạm pháp luật phải là hành vi có lỗi.
Điều này thể hiện ngời thực hiện hành vi vi phạm pháp luật phải thực
sự có lỗi. Khi xem xét vi phạm pháp luật là hành vi trái pháp luật thì mới
chỉ dừng lại ở việc xem xét biểu hiện bề ngoài của hành vi, nghĩa là mới chỉ
xem xét tới mặt khách quan của hành vi. Nhng khi nói tới hành vi vi phạm
pháp luật phải thấy rằng, đó là hành vi có ý chí, có nghĩa phải xem xét tới
mặt chủ quan của hành vi. Mặt chủ quan của vi phạm pháp luật chỉ ra ai là
ngời vi phạm, khuynh hớng ý chí của ngời đó và trạng thái tâm lý của ngời
vi phạm tại thời điểm thực hiện hành vi trái pháp luật, cũng nh thái độ của
ngời ấy đối với hậu quả của hành vi. Vì vậy, hành vi trái pháp luật bị coi là
hành vi vi phạm pháp luật chỉ khi có sự biểu hiện ý chí của ngời thực hiện
hành vi đó và chúng ta cần xác định trạng thái tâm lý của chủ thể thực hiện
Thứ t, vi phạm pháp luật phải do chủ thể có năng lực trách nhiệm
pháp lý thực hiện.
Năng lực chịu trách nhiệm pháp lý là khả năng tự mình chịu trách
nhiệm về hành vi vi phạm pháp luật của mình trớc cơ quan nhà nớc có thẩm
quyền. Vì vậy, chủ thể của vi phạm pháp luật chỉ có thể là những ngời đã
đạt tới một độ tuổi nhất định theo quy định của pháp luật, có khả năng lý trí
và có tự do ý chí (có khả năng nhận thức và điều khiển đợc hành vi của
mình). Họ phải đạt một độ tuổi nhất định và không mắc bệnh tâm thần hoặc
một bệnh khác làm mất khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của
mình.
Tóm lại: Trên đây là bốn yếu tố cấu thành vi phạm pháp luật. Khi
xem xét hành vi vi phạm pháp luật phải căn cứ vào cả bốn dấu hiệu. Nếu
thiếu một trong bốn dấu hiệu đó thì không thể đánh giá đó là hành vi vi
phạm pháp luật. Vì vậy cần phân biệt hành vi trái pháp luật với hành vi vi
phạm pháp luật bởi có những hành vi trái pháp luật nhng không phải là vi
phạm pháp luật.
1.1.3. Phân loại vi phạm pháp luật.
Vi phạm pháp luật đều là những hành vi trái pháp luật, gây thiệt hại
cho xã hội. Tuy nhiên các loại hành vi này lại có mức độ nguy hiểm cho xã
hội khác nhau. Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm đối với xã hội, vi
phạm pháp luật đợc chia thành: vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm); vi
phạm pháp luật hành chính; vi phạm pháp luật dân sự và vi phạm kỷ luật
nhà nớc.
Vi phạm pháp luật hình sự (tội phạm): đợc định nghĩa tại điều 8, Bộ
luật Hình sự nớc Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1999 : "tội
phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội đợc quy định trong Bộ luật Hình sự,
do ngời có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý,
xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm
phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh,
trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính
điển Tiếng việt 2003 thì "Bạo lực là sức mạnh dùng để trấn áp hoặc lật
đổ"[15], [53].
Trong xã hội có nhiều hình thức bạo lực. Tuy nhiên, không phải hình
thức bạo lực nào cũng hớng vào việc lật đổ các đảng nhóm, phe phái chính
trị và chính quyền.Thực tế xã hội cho thấy, vì nhiều lý do khác nhau, các
chủ thể có thể dùng bạo lực để giải quyết một sự bất hoà trong quan hệ xã
hội; một sự tranh chấp quyền lợi giữa hai ngời; giành lấy quyền và lợi ích
cho mình Bạo lực đã ra đời từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài ngời. Trong
những trờng hợp nhất định, bạo lực có thể có vai trò tích cực trong xã hội
song nó sẽ trở thành tiêu cực, ảnh hởng đến sự phát triển của xã hội nếu bạo
lực đợc sử dụng sai mục đích, đặc biệt là trong những trờng hợp cấm đợc sử
dụng bạo lực. Nh vậy, bạo lực chính là một phơng thức hành xử trong các
mối quan hệ xã hội và tồn tại từ rất lâu trong lịch sử xã hội loài ngời.
1.2.1.2. Bạo lực gia đình
Bạo lực gia đình hay còn đợc gọi là bạo hành gia đình là một trong
những hình thức bạo lực trong xã hội và nó đã làm ảnh hởng đến sự phát
triển bền vững của gia đình cũng nh sự phát triển của xã hội. Nhận thức rõ
và thống nhất về khái niệm bạo lực gia đình sẽ là điều kiện để ngăn chặn và
đẩy lùi bạo lực gia đình trong xã hội.
Có nhiều định nghĩa, nhiều quan điểm khác nhau về "bạo lực gia
đình". Theo quan niệm của Hiệp hội Luật s Hoa kỳ: bạo lực gia đình là
thuật ngữ chỉ những hình thức ngợc đãi mà một thành viên trong gia đình,
một ngời sống chung trong hộ gia đình, hoặc một bạn tình gây ra cho một
thành viên khác trong gia đình, một ngời chung sống khác, hoặc bạn tình
kia.
Theo Luật mẫu về bạo lực gia đình của Uỷ ban nhân quyền của Liên
Hợp Quốc ngày 02/ 02/ 1996 :
"Bạo lực gia đình là tất cả các hành vi lạm dụng thể chất, tinh thần,
tình dục dựa trên cơ sở giới đối với một thành viên, một ngời phụ nữ trong
gia đình, từ hành vi đánh đập giản đơn đến gây thơng tích nặng, bắt cóc, đe
+ Thứ hai, bạo lực gia đình đợc thực hiện bởi lỗi cố ý chứ không thể là lỗi
vô ý.
+ Thứ ba, bạo lực gia đình là hành vi gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn
hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình.
Bạo lực gia đình đang là vấn đề đợc d luận xã hội quan tâm sâu sắc.
Bạo lực gia đình không phải là vấn đề mang tính địa phơng, vùng miền mà
là một vấn đề toàn cầu, ở đâu cũng có, từ các nớc nghèo, nớc đang phát
triển cho đến nớc giàu có, phát triển mạnh về kinh tế và xã hội. Mọi gia
đình thuộc mọi tầng lớp của xã hội đều có thể gặp phải tệ nạn này. Đối tợng
của các hành vi bạo hành gia đình có thể là bất kỳ ai trong đó có cả nam
giới nhng thờng là những thành viên yếu đuối, dễ bị tổn thơng và trong hầu
hết các trờng hợp là phụ nữ, ngời già và trẻ em.
Bạo lực gia đình đều ảnh hởng lâu dài đến sức khoẻ, tâm lý, tình cảm
của mỗi cá nhân. Đặc biệt đối với trẻ em, bạo lực còn ảnh hởng nghiêm
trọng đến sự hình thành nhân cách, hạn chế những cơ hội để trẻ em có một
cuộc sống bình thờng và nhất là tơng lai của các em sau này.
1.2.1.3. Bạo lực chống lại phụ nữ và bạo lực chống lại phụ nữ trong
gia đình
- Bạo lực chống lại phụ nữ : Theo Tuyên ngôn của Đại hội đồng
Liên Hiệp Quốc về việc loại bỏ bạo lực đối với phụ nữ ngày 20/12/1993 :
"Bạo lực đối với phụ nữ là bất kỳ hành động bạo lực dựa trên cơ sở giới
nào dẫn đến hoặc có khả năng dẫn đến những tổn thất về thân thể, tình dục
hay tâm lý, hay những khổ đau của phụ nữ, bao gồm cả sự đe doạ có những
hành động nh vậy, sự cỡng bức hay tớc đoạt một cách tuỳ tiện sự tự do dù
nó có xảy ra trong cuộc sống riêng t hay ở nơi công cộng " [25] .Với cách
định nghĩa nh trên, bạo lực chống lại phụ nữ là các hành vi bạo lực chống
lại ngời phụ nữ trong cuộc sống riêng t (bạo lực gia đình) và các hành vi
bạo lực chống lại phụ nữ ở nơi công cộng (bạo lực ngoài gia đình).
Theo quan điểm của Liên Hợp Quốc, bạo lực chống lại phụ nữ có thể
phân thành 6 lĩnh vực nh sau: 1) Bạo lực trong gia đình; 2) Bạo lực về giới;
biết và phân biệt với bạo lực gia đình nói chung, đó là, nạn nhân của bạo
lực gia đình đối với phụ nữ chỉ là nữ giới (nạn nhân của bạo lực gia đình
có thể là tất cả đối tợng: nữ giới, nam giới, trẻ em, ngời già, ngời tàn tật ).
Chủ thể thực hiện hành vi bạo lực gia đình đối với phụ nữ thờng là nam giới
và thờng là ngời chồng trong hôn nhân, chồng cũ hay bạn tình.
Với những đặc điểm đó, chúng ta cũng phân biệt đợc bạo lực chống
lại phụ nữ nói chung và bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình. Phạm vi,
đối tợng bạo lực chống lại phụ nữ rộng hơn rất nhiều so với bạo lực chống
lại phụ nữ trong gia đình và điều này xuất phát từ yếu tố rất quan trọng là
yếu tố gia đình.
Bạo lực chống lại phụ nữ trong gia đình đợc biểu hiện dới nhiều hình
thức. ở góc độ khái quát, chúng ta có thể nhận biết bạo lực gia đình đối với
phụ nữ dới các hình thức chính nh sau:
Bạo lực thân thể: thể hiện ở việc đánh đập, hành hạ, gây thơng tích
cho ngời phụ nữ Một số nghiên cứu cho rằng hình thức này còn bao gồm
việc hạn chế các nhu cầu thiết yếu (ăn, uống, ngủ ) của nạn nhân.
Bạo lực tình dục: Thể hiện ở việc cỡng hiếp hay ép buộc nạn nhân
làm tình hay xem phim, ảnh khiêu dâm dù họ không muốn, không có nhu
cầu, hoặc khi đang bị đau ốm, thậm chí, một số phụ nữ còn bị ép quan hệ
tình dục sau khi đã bị đánh đập, cố tình gây đau đớn hoặc tổn hại cho họ
trong qúa trình quan hệ sinh lý, ngời phụ nữ không có quyền từ chối.
Bạo lực về tâm lý: Thể hiện ở việc bắt nạn nhân sống trong bầu
không khí sợ hãi, khủng bố nạn nhân đến hoảng loạn tâm thần, nhục mạ
nạn nhân trớc ngời thân hoặc công chúng điều này đôi khi làm cho ngời
phụ nữ ngộ nhận về bản thân họ, vì vậy, nhiều phụ nữ đã tìm đến cái chết.
Bạo lực về xã hội: Thể hiện ở việc cắt đứt mối quan hệ của nạn nhân
và mối quan hệ của nạn nhân với ngời thân trong gia đình, bạn bè, cô lập
nạn nhân bằng cách nhốt trong nhà, cắt điện thoại, không cho đi đâu hay
không cho giao tiếp với bất cứ ai
Bạo lực về kinh tế: Thể hiện ở việc bao vây kinh tế, kiểm soát tiền
phạm quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm của ngời
phụ nữ Chính vì vậy, ngời phụ nữ cần đợc bảo vệ khỏi bạo hành để họ đợc
sống, làm việc, cống hiến và phát triển trong xã hội. Việc phòng và chống
bạo lực gia đình đối với ngời phụ nữ là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân,
là trách nhiệm của mỗi gia đình và toàn xã hội.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là việc thực hiện các
biện pháp nhằm ngăn chặn và đẩy lùi bạo hành đối với phụ nữ trong gia
đình, giúp cho ngời phụ nữ tránh đợc bạo lực gia đình, bảo đảm các quyền
con ngời và có cuộc sống hạnh phúc.
Phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ là một công việc khó
khăn và lâu dài. Để bảo vệ ngời phụ nữ, bảo vệ quyền và vị trí của ngời phụ
nữ trong xã hội, việc phòng, chống bạo lực gia đình đối với ngời phụ nữ cần
thiết phải có sự điều chỉnh của pháp luật. Việc phòng, chống bạo lực gia
đình đối với ngời phụ nữ chỉ đạt đợc hiệu quả khi nó đợc đặt dới sự bảo vệ
của pháp luật và phù hợp với pháp luật, phù hợp với truyền thống tốt đẹp
của dân tộc. Ngời phụ nữ cần phải đợc bảo vệ mọi mặt trong hành lang
pháp lý hoàn thiện bởi vì pháp luật chính là đại lợng công bằng và phơng
tiện hữu hiệu nhất trong việc che chắn, bảo vệ ngời phụ nữ trớc nạn bạo
hành gia đình. Chính vì vậy, vấn đề phòng, chống bạo lực gia đình nói
chung trong đó có phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ đã đợc
Luật hoá, là một trong những vấn đề quan trọng đợc đặt dới sự điều chỉnh
của pháp luật. Cho đến nay, Việt Nam đã xây dựng đợc một hệ thống pháp
luật về phòng, chống bạo lực gia đình đặc biệt, lần đâqù tiên, Luật Phòng,
chống bạo lực gia đình đã ra đời. Đây chính là cơ sở pháp lý để bảo vệ con
ngời trong đó có ngời phụ nữ trớc bạo hành gia đình.
Nghị quyết của Quốc hội về chiến lợc phát triển kinh tế xã hội 5 năm
(2006-2010) đề ra nhiệm vụ " Đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình".
Thủ tớng Chính phủ đã ban hành Chiến lợc xây dựng gia đình Việt Nam
giai đoạn 2005-2010, trong đó có mục tiêu tăng cờng phòng, chống bạo lực
gia đình và giảm tỷ lệ bạo lực gia đình, bình quân hàng năm từ 10-15%.
xã hội một thông điệp rõ ràng rằng bạo lực gia đình nói chung và bạo lực
gia đình đối với phụ nữ là trái với đạo đức, đi ngợc lại truyền thống đạo đức
tốt đẹp của dân tộc, trái với ý chí chung của xã hội, là vi phạm pháp luật, vi
phạm những chuẩn mực chung của xã hội và phải chịu sự trừng phạt của xã
hội, của pháp luật.
Toàn bộ các quy định liên quan đến bạo lực gia đình trong các văn
bản pháp luật kể trên hợp thành một hệ thống pháp luật về phòng, chống
bạo lực gia đình trong đó ngời phụ nữ là một trong những đối tợng đợc bảo
vệ khỏi sự tấn công của bạo hành gia đình. Nh vậy, chúng ta không có một
hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ riêng mà
Luật Phòng, chống bạo lực gia đình cũng nh các văn bản pháp luật khác
trong lĩnh vực phòng chống bạo lực gia đình quy định và áp dụng, bảo vệ
đối với tất cả các chủ thể trong gia đình : nam giới, phụ nữ, trẻ em, ngời
già khi họ là nạn nhân của bạo lực gia đình. Vì vậy, phụ nữ là một trong
các đối tợng đợc bảo vệ trong hành lang pháp lý phòng, chống bạo lực gia
đình chung.
Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình không chỉ ghi nhận quyền
con ngời nói chung trong đó có ngời phụ nữ mà còn quy định rõ các hành vi
nào là bạo lực gia đình, hành vi nào bị cấm trong lĩnh vực phòng, chống bạo
lực gia đình; trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc phòng,
chống bạo lực gia đình; quy định những thiết chế bảo đảm việc phòng,
chống bạo lực gia đình đối với ngời phụ nữ đạt đợc hiệu quả.
Từ những phân tích trên, có thể khái niệm pháp luật phòng, chống
bạo lực gia đình nh sau:
Pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình là hệ thống các quy định
pháp luật do nhà nớc ban hành hoặc thừa nhận nhằm điều chỉnh các
quan hệ xã hội về phòng, chống bạo lực gia đình và các lĩnh vực khác có
liên quan.
1.2.2. Nội dung của pháp luật phòng chống bạo lực gia đình
Nhìn vào hệ thống pháp luật phòng, chống bạo lực gia đình, ta thấy,