TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
NGUYÊN VÃN CƯỜNG
Sự VẬN DỤNG QUAN ĐIỂM TOÀN DIỆN
VÀO VIỆC KHẮC PHỤC TÌNH TRẠNG
•
•
•
•
Chuyên ngành: Triết học
NGUYỄN VĂN CƯỜNG
•
•
•
HÀ NỘI, 2015
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
•
•
TRƯỜNG ĐẠI HỌC sư PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
•
Hà Nội, thảng 5 năm 2015 Người thực hiện
Nguyễn Văn Cưòng
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
•
Khóa luận tốt nghiệp này được hoàn thành dưới sự hướng dẫn của TS.
Trần Thị Hồng Loan.
•
Tôi xin cam đoan rằng:
•
•
•
•
•
•
•
•
MỤC LỤC
•..................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
•..........................................................................................................................................................................................................................................................................................................................
HÀ NỘI, 2015
•
PHÀN MỞ ĐÀU
1. Lý do chọn đề tài
•
Quyền con người là quyền của mỗi cá nhân, quyền được khẳng định mình
là một chủ thể với những quyền lợi và nghĩa vụ như mọi người khác. Trong lịch sử
loài người đã từng tồn tại chế độ phụ quyền, trong đó phụ nữ bị hạn chế và tước
đoạt những quyền cơ bản của con người. Hiện nay, phụ nữ chiếm hơn một nửa dân
5
nhân dân được cải thiện, nhưng bên cạnh đó thì các vấn đề xã hội vẫn xảy ra ngày
càng nhiều trong đó vấn nạn bạo lực gia đình đối với phụ nữ đang là một vấn đề
nóng bỏng trong tỉnh. Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng trên. Vì vậy,
cần phải vận dụng quan điếm toàn diện trong triết học đế xem xét và giải quyết
vấn đề. Chính vì những lí do trên, em chọn đề tài “Sự vận dụng quan điểm toàn
diện vào việc khắc phục tình trạng bạo lực gia
•
•
9
1
•
«
ỉ •
«
9
•
Khoa học và Xã hội, Hà Nội (2007) tập trung nghiên cứu tình trạng bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở Việt Nam hiện nay, những nguyên nhân và hậu quả của bạo
lực gia đình và đặc biệt là công tác phòng, chống bạo lực gia đình - nhũng bài học
kinh nghiệm của Việt Nam.
•
Cuốn “Bình đắng giới ở Việt Nam” của Trần thị Vân Anh, Nguyễn Hữu
6
Minh (chủ biên), Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2008 đã góp phần nghiên
•
cứu bạo lực gia đình dưới góc độ giới đồng thời đưa ra những quan niệm chung
nhất về bạo lực gia đình và làm rõ các yếu tố tác động đến hành vi bạo lực.
•
Ngoài ra còn có rất nhiều công trình nghiên cứu khoa học cấp nhà nước về
vai trò phụ nữ trong gia đình: “Phụ nữ và bình đẳng giới ở Việt Nam” của Giáo
sư Lê Thi.
•
Tuy nhiên, ở nước ta hiện nay một trong những vấn đề đang gây dư luận xã
hội đó là tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Đây là một vấn đề có tính
chất phức tạp, nó được biếu hiện đa dạng ở từng vùng, từng địa phương. Những
nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở địa phương còn rất ít, những giải pháp
7
4.2.
-
Nhiệm vụ nghiên cứu
Trình bày hệ thống cơ sở lý luận về quan điểm toàn diện, vấn đề gia đình, bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở Bắc Ninh hiện nay.
-
Thấy được thực trạng vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình trên địa bàn
tỉnh Bắc Ninh.
-
Đưa ra những giải pháp chủ yếu nhằm thực hiện sự nghiệp giải phóng phụ nữ, xóa
bỏ tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở tỉnh Bắc Ninh trên cơ sở vận
dụng quan điểm toàn diện.
5. Phương pháp nghiên cún và phương pháp luận
-
Phương pháp luận: Trong khóa luận sử dụng phương pháp luận chủ nghĩa duy vật
biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác - Lênin.
-
l.l. Nguyên lí về mối liên hệ phổ biến - cơ sử triết học của quan điểm toàn
diện
8
•
Phép biện chứng duy vật:
•
Mọi sự vật, hiện tượng đều nằm trong mối liên hệ phố biến đối với sự vật
hiện tượng khác.Phép biện chứng được manh nha từ thời cổ đại và từng bước hoàn
thiện trong quá trình phát triển của lịch sử triết học, phép biện chứng có ba hình
thức cơ bản đó là: phép biện chứng ngây thơ chất phát, phép biện chứng duy tâm
và phép biện chứng duy vật.
•
Thời cố đại, do trình độ tư duy chưa cao, khoa học chưa phát triến nên các
nhà triết học chỉ dựa trên quan sát trực tiếp mang tính trực quan cảm tính đế khái
quát bức tranh chung của thế giới.Phép biện chứng chất phát được thế hiện rõ
trong thuyết “Âm Dương-Ngũ Hành” của triết học Trung Hoa cổ đại.Một trong
những nguyên lý triết học cơ bản nhất là nhìn nhận mọi tồn tại không phải trong
tính đồng nhất tuyệt đối, mà cũng không phải trong sự loại trừ biệt lập không thế
tương đồng. Trái lại tất cả đều bao hàm sự thống nhất của các mặt đối lập - đó là
Âm và Dương. Âm - Dương không loại trừ, không biệt lập mà bao hàm nhau, liên
chứng. Giữa thế kỉ XIX, C.Mác - Ph.Ảngghen đã sáng lập chủ nghĩa duy vật biện
chứng và phép biện chứng duy vật, C.Mác - Ph.Ảngghen đã tiếp thu có phê phán
triết học Hêghen và chủ nghĩa duy vật Phơbách. Đối với Hêghen trong Bộ tư bản,
Mác đã viết:
.. Ở
Hêghen phép biện chứng bị lộn ngược đầu xuống đất, chỉ cần dựng nó lại là
•
sẽ phát hiện được cái hạt nhân hợp lý của nó ở đằng sau cái vỏ thần bí của nó”.
[12, tr.34].
•
C.Mác tiếp thu có chọn lọc triết học cũ và phát triển cao hơn. Do vậy, bản
chất phép biện chứng của Mác cao hơn về chất so với phép biện chứng của
Hêghen, ông nói: “Phương pháp biện chứng của chúng tôi không những khác phép
biện chứng của Hêghen mà còn đối lập hắn với phép biện chứng ấy nữa.Theo
Hêghen thì sự vận động của tư duy mà ông đặt cho cái tên ấy là ý niệm và biến nó
thành một chủ thể độc lập chính là chúa sáng tạo ra thế giới hiện thực và giới hiện
thực này chẳng qua chỉ là hiện tượng bên ngoài của ý niệm mà thôi.Trái lại, theo
tôi thì sự vận động của tư duy chỉ là sự phản ánh sự vận đông hiện thực, di chuyển
biến hình trong đầu óc con người” [12, tr.27]. Nhờ đó mà chủ nghĩa Mác mang giá
1
0
•
Khi giải thích về sự tồn tại của thế giới, những câu hỏi đặt ra là:
•
+ Thứ nhất: Các sự vật hiện tượng và các quá trình khác nhau của thế giới
có mối quan hệ tác động qua lại ảnh hưởng lẫn nhau hay chúng tồn tại biệt lập,
tách rời nhau?
1
1
•
Đe trả lời câu hỏi này có nhiều những quan điểm khác nhau.Những người
theo quan điểm siêu hình cho rằng các sự vật hiện tượng tồn tại biệt lập tách rời
nhau, cái này tồn tại bên cạnh cái kia.Neu giữa chúng có sự quy định chỉ là sự quy
định lẫn nhau thì cũng chỉ là sự quy định bề ngoài mang tính ngẫu nhiên. Tuy vậy,
trong số những người theo quan điểm siêu hình cũng có một số người cho rằng các
sự vật, hiện tượng có mối quan hệ và mối liên hệ rất đa dạng, phong phú song các
hình thức liên hệ khác nhau không có khả năng chuyển hóa lẫn nhau.
•
+Thứ hai: Neu chúng có mối quan hệ qua lại thì cái gì quy định mối quan
•
Có thể khẳng định: mối liên hệ của sự vật, hiện tượng là khách quan vốn có
vì nó bắt nguồn từ tính thống nhất vật chất của thế giới.Biểu hiện trong tất cả quá
trình tự nhiên, xã hội và tư duy, sự vật hiện tượng nào cũng là một thế thống nhất
của các mặt đối lập và sự vật, hiện tượng nào cũng tồn tại trong mối liên hệ với
các sự vật hiện tượng khác.Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngày
hàng giờ chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, con người có thể tiếp
nhận sự tác động của xã hội của người khác.
1
2
•
Chính con người và chỉ có con người mới tiếp nhận vô vàn quan hệ, mối
quan hệ chằng chịt.vấn đề là con người phải hiểu biết các mối quan hệ, vận dụng
vào hoạt động của mình giải quyết các mối quan hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu
cầu, lợi ích của xã hội và bản thân con người.
-
Tỉnh phố biến :
•
Tính phổ biến của mối quan hệ được biểu hiện:
•
3
cặp.Mối liên hệ bên trong và mối liên hệ bên ngoài mối liên hệ chủ yếu và mối
liên hệ thứ yếu, mối liên hệ bản chất và mối liên hệ không bản chất.Chính tính đa
dạng trong quá trình tồn tại và phát triến của bản thân sự vật và hiện tượng quy
định tính đa dạng của mối liên hệ.Các mối liên hệ phổ biến của sự vật, hiện tượng
trong thế giới được khái quát trong các cặp phạm trù cơ bản củaphép biện chứng.
•
+ Mối liên hệ giữa cái chung và cái riêng.
•
+Mối liên hệ giữa tất nhiên và ngẫu nhiên.
•
+Mối liên hệ giữa nguyên nhân và kết quả.
•
+Mối liên hệ giữa bản chất và hiện tượng.
•
+ Mối liên hệ giữa nội dung và hình thức.
•
1
4
Hên hệ phố biến ”. Mặt khác, triết học gọi mối liên hệ đó là mối liên hệ phố biến.
Nghiên cứu về mối liên hệ phố biến của các sự vật, hiện tượng trong thế giới cần
nhận thức rõ về tính đa dạng, nhiều vẻ của nó.
•
Từ quan điểm toàn diện trong sự xem xét chúng ta đi đến nguyên tắc đồng
bộ trong hành động thực tiễn: để cải tạo một sự vật bao giờ chúng ta cũng phải áp
dụng đồng bộ một hệ thống những biện pháp nhất định. Tuy nhiên, đồng bộ không
có nghĩa là dàn đều, bình quân mà trong từng buớc, từng giai đoạn phải nắm đúng
khâu then chốt. Thực hiện quan điếm toàn diện góp phần khắc phục bệnh phiến
diện, một chiều chỉ thấy một mặt mà không thấy nhiều mặt hoặc có khi tuy có chú
ý đến nhiều mặt nhưng không nhìn thấy được mặt bản chất của sự vật. Quan điểm
toàn diện cũng góp phần khắc phục lối suy nghĩ giản đơn.
•
+ Quan điểm toàn diện đòi hỏi chúng ta phải nhận thức về sự vật, hiện
tượng trong mối liên hệ qua lại giữa các bộ phận, giữa các yếu tố, giữa các mặt của
chính sự vật và trong tương tác qua lại giữa các sự vật đó với các sự vật khác cần
tránh quan điểm phiến diện, chỉ xem xét sự vật, hiện tượng ở một hoặc một vài
mối liên hệ đã vội vàng đi đến những kết luận về bản chất sự vật Lênin từng nói:
Muốn thực sự hiểu được sự vật cần nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mặt, tất
cả các mối liên hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó chỉ trên cơ sở đó mới nhận
thức đúng về sự vật.
Thực hiện tốt những yêu cầu trên quan điểm toàn diện giúp chúng ta có cái
nhìn sâu sắc và thấu đáo tìm ra bản chất của sự vật, hiện tượng. Song không chỉ
dừng lại ở quan điểm toàn diện, khi nghiên cứu về mối liên hệ phổ biến của phép
biện chứng duy vật, đi liền với quan điểm toàn diện còn là nguyên tắc lịch sử - cụ
thể.
1.2.
1.2.1.
Một số khái niệm
Khái niệm gia đình, bạo lực, bạo lực gia đình
* Khái niệm gia đình
•
Do sự biến động và tính phức tạp của cơ cấu kinh tế, xã hội nên có nhiều
cách thức khác nhau về định nghĩa gia đình.
•
Trong bài viết “Gia Đình Việt Nam hiện nay, truyền thống hay hiện đại”
Nguyễn Thị Thường viết: “Gia đình là một tập hợp những người cùng sống với
nhau dựa trên quan hệ hôn nhân được chính thức thừa nhận bởi pháp luật hay tập
tục và quan hệ huyết thống. Đó là các quan hệ vợ - chồng, cha mẹ - con cái, anh
chị em ruột... ” [ 19, tr 178]
•
Trong công trình gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất nước đổi mới Giáo
Khái niệm bạo lực được hiểu theo nghĩa hẹp của chuyên ngành chính trị
học. Với cách định nghĩa như vậy, bạo lực vẫn thường được hiểu với tính chất cụ
thể của một phương thức hoạt động chính trị “bạo lực là sức mạng dùng để chấn áp
lật đổ” (từ điển tiếng việt 2003).
•
Theo từ điển tiếng việt: “Bạo lực là một giai cấp hay một nhóm chính trị xã
hội nào đó áp dụng những hình thức cưởng bức tước đoạt” [16;tr 41].
•
Theo từ điển chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (một
nhóm chính trị xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bực khác nhau, kể
cả sự tác động bằng vũ trang đối với các giai cấp (các nhóm chính trị xã hội) khác
nhau nhằm mục đính giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế chính trị, những
quyền hay đặc quyền khác nhau, đặc lợi”. [18;tr 41]
•
Tuy nhiên, không phải mọi hình thức bạo lực trong xã hội đều mang tính
chính trị. Đeu chỉ hướng vào việc lật đổ các đảng và phe phái chính trị. Người ta
có thể dùng bạo lực để hành xử với nhau trong cuộc sống hàng ngày như giải
1
7
quyết mối quan hệ bất hòa trong xã hội, sự tranh chấp quyền lợi giữa hai người
cả sự đe dọa có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay cướp đoạt một cách
tùy tiện sự tự do và nó sảy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư”.
•
Bạo lực gia đình được hiểu là các hành vi bạo lực xảy ra trong phạm vi gia
đình, bao gồm sự xâm phạm và ngược đãi về thân thể hay tình cảm giữa các thành
viên trong gia đình. Bạo lực gia đình là sự lạm dụng quyền lực, một hành động sử
dụng vũ lực nhằm hăm dọa hoặc đánh đập người thân trong gia đình để điều khiển
hay kiểm soát người đó. Theo tập chí Lý luận chính t r ị , số
4, 2005.
1
8
•
Theo Tạp chí khoa học về phụ nữ: “Bạo lực gia đình là tệ ngược đại phụ nữ
và trẻ em, là hiện tượng có tính phố biến trong tầng lớp dân cư, xảy ra trên mọi
mien” [13;tr 3].
•
Theo Luật phòng, chống bạo lực gia đình tại điều khoản 2: “Bạo lực gia
đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn
hại về thể chất tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình”.
•
lao động sản xuất của đàn ông. Lao động sản xuất của đàn ông là tất cả, công việc
nội trợ của người đà bà chỉ là sự đóng góp không đáng kể” [12;tr 117].
•
Theo Ph.Ảngghen, gia đình một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu
tiên được hình thành do sự chi phối của các điều kiện kinh tế và đồng thời nó cũng
1
9
thế hiện ý đính nô dịch của giới này đối với giới kia, là một sự tuyên bố đối kháng
giữa hai giới, cuộc đối kháng mà suốt thời kỳ tiền sử chưa có” [12;tr 36].
•
Như vậy, người phụ nữ bị tách ra khỏi sản xuất trở thành người phục vụ
trong gia đình. Sự lệ thuộc của người đàn bà và sự chi phối của người đàn ông
diễn ra dựa trên sự kiểm soát của nguồn tư liệu sản xuất của cải trong gia đình từ
phía nam giới. Vì lý do này mà Ảngghen đã cho rằng “mặc dù là một bước tiến
trong lục sử lớn song hôn nhân cá thể và chế độ tư hữu lại là một bước lùi tương
đối.. .vì hạnh phúc và sự phát triển của người này là do sự đau khổ của và bị áp
bức của người kia mà ra” [12;tr 83].
•
Mác và Lênin đã đặt vấn đề rất rõ ràng: nguồn gốc áp bức
vàbất bình
đẳng nam nữ nảy sinh từ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất.
trợ trong gia đình, vốn bị đánh giá là thấp và coi là không đáng kế so với công việc
của nam giới ngoài xã hội.
•
Thứ hai, các ông lý giải những phương thức chủ yếu để giải phóng phụ nữ,
nói cách khác là câu trả lời cho câu hỏi sự nghiệp thực hiện bình đắng nam nữ,
thực hiện như thế nào, bằng hình thức gì? Câu trả lời ở đây cũng có hai nội dung.
2
0
Nội dung thứ nhất là việc xóa bỏ chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất à xác lập
•
quyền bình đắng tuyệt đối giữa người đàn ông và người phụ nữ về mặt pháp luật.
Nội dung thứ hai là việc đưa phụ nữ tham gia vào lao động xã hội và giảm
•
công việc nội trợ trong gia đình đối với phụ nữ. Đây được coi là tiền đề quan trọng
đề giải phóng phụ nữ khỏi ràng buộc vào công việc nội trợ trong gia đình và tạo
lập cơ sở kinh tế cho việc thực hiện quyền bình đẳng với nam giới.
Dựa trên lý luận về sự áp bực và nguồn gốc của sự áp bức phụ nữ Mác
•
Lênin đã đưa ra những giải pháp then chốt để giải phóng phụ nữ.
bạo lực về tình dục và bạo lực về tinh thần. Các hình thức bạo lực này vừa thể hiện
trong mối quan hệ khăng khít vừa thể hiện một cách độc lập, tách biệt lẫn nhau.
Điều này còn phụ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể của từng gia đình vào nhận thức và
hành động của các thành viên trong gia đình.
1.2.2.1. Bạo lực về thân thể
•
Bạo lực thân thế như tát, đấm, cấu véo, kéo tóc, làm bỏng, đánh, ném đồ
vật vào người, nhốt trong phòng hoặc trói, lột quần áo, xô đẩy đánh đấm, dùng roi
2
1
vọt, đe dọa hoặc tấn công bằng vũ khí hoặc bằng vật khác, thậm chí có tính chất
hành hung gây thương tích cho các nạn nhân. Đây là hình thức bạo lực chủ yếu do
sức mạnh của cơ bắp để dạy bảo các thành viên trong gia đình. Hình thức này chủ
yếu do nam giới sử dụng là chính. Nam giới dùng bất cứ thứ gì cũng có thể được
sử dụng như là “vũ khí” để gây thương tích về thể xác cho người vợ. Người phụ
nữ bị bạo lực nói rằng họ bị đánh bằng gậy, điếu cày, ghế, gạch, giầy dép...nghĩa là
bất cứ thứ gì trong tầm với của người chồng. Và đương nhiên là những vật dụng
quen thuộc hàng ngày của đàn ông như đã kể ở trên thường được sử dụng làm
công cụ để đánh phụ nữ. Một số vật dụng không phải là “vũ khí” theo chức năng
sử dụng nhưng trên thực tế lại có thể gây thương tích nghiêm trọng. Ví dụ cái điếu
cày là một vật dụng rất quen thuộc của đàn ông nó có một đầu nhọn bịt bằng bạc
hoặc kim loại. Khi người chồng dùng điếu cày đánh vợ hoặc ném vào vợ, vật này
có thể gây bầm tím trên cơ thể phải mất nhiều ngày mới tan và thậm chí là thương
tích nghiêm trọng hơn.
•
Tỷ lệ bị bạo lực thể xác do chồng gây ra trong đời được định nghĩa là tỷ lệ
•
phụ nữ từng kết hôn trả lời đã từng bị ít nhất một hành vi bạo lực thể xác do chồng
hiện tại hoặc chồng cũ gây ra tại bất cứ thời điểm nào trong đời. Tỷ lệ bạo lực hiện
tại là tỷ lệ phụ nữ đã từng có chồng cho biết phải hứng chịu ít nhất một hành vi
bạo lực thể xác xảy ra. Tỷ lệ bị bạo lực trong đời do chồng gây ra đối với phụ nữ
Việt Nam là 31,5% và tỷ lệ này ở nông thông cao hơn so với thành thị (32,6% so
với 28,7%). Tỷ lệ bị bạo lực thể xác hiện tại của Việt Nam là 6,4% (nông thôn
6,8% và thành thị là 5,6%). Tỷ lệ bạo lực thể xác trong đời do chồng gây ra tăng
theo tuổi, vấn đề này theo đúng dự kiến vì khi xác định tỷ lệ bạo lực trong đời,
chúng ta xác định trải nghiệm mang tính tích lũy: bao gồm những trải nghiệm xảy
ra khi phụ nữ còn trẻ, ngay từ đầu khi có mối quan hệ cho đến thời điểm khảo sát.
[13, tr 22].
•
Hành vi bạo lực thể xác mà phụ nữ thường gặp là tát hoặc ném vật gì đó về
phía họ. Tỷ lệ hành vi bạo lực trong đời tại Việt Nam là 28,6% và tỷ lệ hiện tại của
hành vi này là 5,3%. Tỷ lệ phụ nữ Việt Nam bị chồng đánh đấm trong đời là
11,8%. phụ nữ bị tát, xô hoặc đẩy (không có những hành vi nghiêm trọng hơn)
được xếp vào nhóm bị bạo lực ở mức độ nhẹ và những người bị đấm, đá, kéo lê
hoặc đe dọa bằng vũ khí được coi là bị bạo lực ở mức độ nghiêm trọng. Con số
thống kê về mức độ bạo lực thể xác nặng hoặc nhẹ được dựa trên khả năng gây
thương tích nhưng không có ý nghĩa gì về tác động của hành vi đối với cá nhân
người phụ nữ. Nhìn chung, tỷ lệ phụ nữ trải nghiệm một hành vi cụ thế giảm bởi vì
tính trầm trọng của hành vi tăng. Tỷ lệ phần trăm phụ nữ bị dọa hoặc sử dụng dao
hoặc vũ khí và những người bị bóp cố hoặc làm bỏng một cách cố ý lần lượt là
Ở những cấp độ khác nhau, quan niệm này đã gán cho phụ nữ trách nhiệm
chính rất nặng nề trong các công việc tái sản xuất ra sức lao động (nội trợ, chăm
sóc con cái và các thành viên trong gia đình) trong khi họ là người thực hiện chính
tái sản xuất sinh học ra con người(mang thai, sinh con, chăm sóc con cái cho đến
khi trưởng thành). Có rất nhiều quan niệm sai lầm về vấn đề trên.
2
4
•
Như vậy, có thế khắng định, bạo lực gia đình là sự phản ánh sự khủng
hoảng trong gia đình, bất đồng trong quan điểm, sa sút về tình cảm và cả sự suy
thoái về các chuẩn mực đạo đức.
1.3.
Nội dung sự vận dụng quan điểm toàn diện vào việc khắc phục
tình
•
o•
•
•
liên quan đã phối hợp nhịp nhàng trong công tác
•
phòng chống bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Cụ thể như sau:
•
Các cấp ủy Đảng:
•
Đã ban hành các Chỉ thị, các Nghị quyết của Đảng, các văn bản
pháp luật của Nhà nước. Đã thường xuyên nắm bắt được các vấn đề bức xúc của
các tầng lớp phụ nữ để có hướng giải pháp, bảo vệ quyền lợi và lợi ích chính đáng
của hội viên phụ nữ.
•
Đã tăng cường tổ chức các hoạt động truyền thông theo chuyên đề,
chú trọng truyền thông trực tiếp đến các nhóm đối tượng. Gắn công tác tuyên
truyền giáo dục với các hoạt động hỗ trợ can thiếp thay đối hành vi trong việc
chăm lo, bảo vệ quyền của phụ nữ và trẻ em.
•
Đấy mạnh được công tác tuyên truyền vận động hội viên phụ nữ xây
dựng người phụ nữ Việt Nam sức khỏe, tri thức, có lối sống văn hóa đồng thời
2
5