Vấn đề bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay - Pdf 29

Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
1

Minh Thảo, Cô đã hướng dẫn tôi tận tình trong suốt thời gian xây dựng và
hoàn thiện đề tài.
Đồng thời tôi cũng bày tỏ lòng cảm ơn tới các Thầy, Cô trong tổ Chủ
nghĩa xã hội khoa học, các Thầy, Cô trong khoa Giáo dục Chính trị, các cán
bộ thư viện trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2 và các bạn sinh viên đã có
những sự giúp đỡ đóng góp quý báu giúp tôi hoàn thành khoá luận này.
Tôi cũng xin bày tỏ lời cảm ơn tới Hội Liên Hiệp Phụ nữ, Tòa án
nhân dân, tỉnh uỷ Lào Cai đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài
nghiên cứu khoa học này.
Trong khuôn khổ nghiên cứu đề tài sẽ không tránh khỏi những thiếu
sót, tôi rất mong được sự đóng góp ý kiến của Thầy cô và các bạn sinh viên.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, tháng 5 năm 2011
Người thực hịên Lý Văn Sỹ Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
3

MỤC LỤC TrangMỞ ĐẦU
1
Chương 1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ BẠO
LỰC ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
6
1.1. Một số khái niệm 6
1.2. Quan điểm Chủ nghĩa Mác - Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về bình đẳng 15
Chương 2. BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở
LÀO CAI TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY
24
2.1. Thực trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình 24
2.2. Nguyên nhân của tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở
tỉnh Lào Cai 39
2.3. Một số giải pháp chủ yếu nhằm xoá bỏ tình trạng bạo lực gia
đình đối với phụ nữ ở tình Lào Cai 47
KẾT LUẬN
58
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
60


Tuy nhiên ở nước ta, gần đây nhất, tại Hội thảo công bố nghiên cứu
Quốc gia về bạo lực gia đình đối với phụ nữ Việt Nam tổ chức ngày 25
tháng 11 năm 2010, cho biết có 58% số phụ nữ Việt Nam đã từng là nạn
nhân của bạo lực gia đình. Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (1999) khi
nghiên cứu vấn đề này đã công bố tình trạng phụ nữ là nạn nhân của bạo lực
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
6

gia đình dưới nhiều hình thức khác nhau chiếm 40% đến 80%. Bạo lực gia
đình để lại nhiều hậu quả nặng nề về thể chất và tinh thần cho nạn nhân.
Ở tỉnh Lào Cai trong mấy năm gần đây, tình trạng bạo lực gia đình
ngày càng tăng và xảy ra phổ biến ở các vùng nông thôn, nhất là các vùng
sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có nhiều đồng bào dân tộc thiểu
số sinh sống. Tình trạng này làm tan vỡ hạnh phúc gia đình, làm tổn hại kinh
tế gia đình và sự phát triển của xã hội
Xuất phát từ những thực trạng trên, tôi chọn đề tài: “Vấn đề bạo lực
gia đình đối với phụ nữ ở tỉnh Lào Cai trong giai đoạn hiện nay” làm
khoá luận tốt nghiệp. Với mong muốn nghiên cứu thực trạng, nguyên nhân
và giải pháp của tình trạng bạo lực gia đình ở địa phương Lào Cai. Qua đây
góp phần công sức nhỏ bé vào nỗ lực của toàn xã hội nói chung, tỉnh Lào
Cai nói riêng với vấn đề giải phóng phụ nữ về mặt lí luận cũng như thực
tiễn.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Vấn đề về gia đình được C.Mác- Ph.Ăngghen nghiên cứu rất sớm
trong các tác phẩm của mình. Điển hình là tác phẩm “Nguồn gốc của gia
đình, của chế độ tư hữu và của nhà nước”. Trong tác phẩm này, Ăngghen đã
đề cập rất rõ đến nguyên nhân xuất hiện gia đình, các loại hình gia đình
trong lịch sử, nguyên nhân của tình trạng bất bình đẳng giới, đồng thời chỉ

thi. Ở tỉnh Lào Cai Hội Liên Hiệp Phụ nữ cũng đã đưa ra được nguyên nhân
và giải pháp ngăn chăn bạo lực gia đình. Nhưng tình trạng bạo lực gia đình
vẫn còn xảy ra và ngày càng tăng gây ra nhiều đau khổ cho người phụ nữ.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những quan điểm lý luận về vấn đề giải phóng phụ nữ của
Chủ nghĩa xã hội khoa học làm rõ thực trạng và đưa ra được giải pháp khắc
phục tình trạng bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình nhằm giải phóng phụ
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
8

nữ, thực hiện bình đẳng nam nữ, xây dựng Lào Cai nói riêng, Việt Nam nói
chung thêm giàu đẹp, văn minh.
* Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích, khoá luận tập trung giải quyết các nhiệm vụ
sau:
- Trình bày hệ thống cơ sở lý luận về bình đẳng, bạo lực, giải phóng
phụ nữ.
- Làm rõ thực trạng vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình ở địa
bàn tỉnh Lào Cai.
- Phân tích những giải pháp chủ yếu nhằm xoá bỏ tình trạng bạo lực
đối với phụ nữ trong gia đình ở địa bàn Lào Cai, thực hiện bình đẳng nam
nữ.
4. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu trong giai đoạn từ khi thực hiện công
cuộc đổi mới đất nước, nhưng tập trung chủ yếu từ năm 2005 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và phương pháp duy vật

Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
10

Chương 1. MỘT SỐ QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VỀ BẠO LỰC ĐỐI
VỚI PHỤ NỮ TRONG GIA ĐÌNH
Quan hệ gia đình là quan hệ giữa chồng với vợ, cha mẹ và con cái,
anh chị em với nhau, đó là tình cảm thiêng liêng, ấm áp, che chở cho nhau.
Gia đình là tổ ấm, là nơi thoả mãn những nhu cầu tình cảm và vật chất của
các thành viên, bảo vệ họ trước căng thẳng của cuộc sống. Gia đình trở
thành “thiên đường trong thế giới không tim” (Chữ dùng theo nhan đề của
một số cuốn sách của tác giả Mĩ Ch.Lash). Thế nhưng có phải gia đình nào
cũng là thiên đường khi mà bạo lực gia đình đang là vấn đề mang tính toàn
cầu, nó xảy ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Bạo lực gia đình tác động
rất xấu tới đạo đức xã hội, cản trở sự phát triển xã hội. Tình trạng này còn
tồn tại ở nhiều nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam.
1.1. Một số khái niệm

Theo từ điển Hán Việt định nghĩa: “Bình đẳng là ngang hàng nhau
địa vị cũng như về quyền lợi” [11, tr.61].
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bình đẳng là sự ngang nhau về quyền lợi
và địa vị” [23, tr.65].
Theo Từ điển Chủ nghĩa cộng sản khoa học: “Bình đẳng là những
điều kiện và những khả năng như nhau đối với việc tự do phát triển năng lực
và thỏa mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội, địa vị như
nhau của mọi người trong xã hội. Bình đẳng được hiểu khác nhau trong các
thời đại lịch sử khác nhau” [1, tr.10].
Các nghĩa bình đẳng theo trên hay nói hơn là sự bình đẳng nam nữ, đó
chính là mục tiêu của mọi quốc gia trong quá trình phát triển. Trong lịch sử
đấu tranh của các dân tộc, họ đã đấu tranh cho sự bình đẳng của họ, góp
phần vào độc lập của dân tộc, quê hương, đất nước. Tuy nhiên, trong lịch sử
phụ nữ bị giới hạn về quyền bình đẳng rất nhiều và họ đã đứng dậy đấu
tranh, hi sinh thân mình vì độc lập, tự do của tổ quốc. Lịch sử dân tộc Việt
Nam có rất nhiều phụ nữ đấu tranh chống lại giặc ngoại xâm, đấu tranh cho
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
12

quyền và lợi ích của chị em phụ nữ. Tiêu biểu như: hai Bà Trưng, Bà Triệu,
chị Võ Thị Sáu, Nguyễn Thị Minh Khai Còn trong gia đình, họ luôn luôn
là người vợ, người mẹ đảm đang, chịu thương, chịu khó, yêu thương chồng
con, đem lại hạnh phúc lớn lao đến gia đình, góp công sức vào sự phát triển
của xã hội.
Hiện nay, đất nước đang bước vào quá trình công nghiệp hoá, hiện đại
hoá, đất nước đã được đổi mới, cuộc sống của đại bộ phận nhân dân được
ấm no, hạnh phúc. Mặc dù vậy, trên thực tế, phụ nữ chưa được thực sự hoàn
toàn bình đẳng, chị em phải chịu nhiều thiệt thòi so với nam giới, và nhiều

trước hết là sự phân chia lao động giữa nam và nữ. Sự phân chia về cả vật
chất và tinh thần giữa nam nữ trong xã hội và quan hệ quyền lực thường thể
hiện trong quan hệ giữa các nhân với cá nhân, trong sinh hoạt xã hội, trong
sinh hoạt gia đình, cộng đồng xã hội. Những quan hệ này ảnh hưởng tới mọi
thời đại lịch sử tuỳ theo điều kiện lịch sử và đặc điểm của dân cư, quốc gia,
khu vực, tôn giáo, nền văn hoá, giai cấp, đặc điểm lứa tuổi….
Rôbert Owen là người nêu lên được tư tưởng xóa bỏ chế độ tư hữu để
thực hiện sự bình đẳng trong hôn nhân và gia đình. Ông phê phán chế độ
hôn nhân tư sản và tổ chức giáo hội: “Hôn nhân tư bản dựa trên sự tính toán
theo lối trục lợi kinh tế và mang tính chất đồ trụy về đạo đức” [35, tr.191].
Ông xem chế độ tư hữu, hôn nhân tư sản và tôn giáo là ba ác nhân biến thế
giới trở thành sân khấu cạnh tranh nhằm chiếm đoạt của cải và quyền lực.
Đó là “ba trở lực” mà ông tuyên bố cần gạt bỏ trên con đường thực hiện lý
tưởng về mặt xã hội mới. Theo ông để thực hiện bình đẳng, cần xây dựng
một xã hội mới, nghĩa là: “Phải thay thế chế độ tư hữu bằng chế độ công
hữu” [35, tr.192].
Như vậy bình đẳng và tình trạng bất bình đẳng đều bắt nguồn từ xã
hội. Những quan điểm, quan niệm này ở từng quốc gia, dân tộc có sự khác
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
14

nhau và hàng ngày, hàng giờ đều thay đổi trong nền kinh tế thị trường mang
tính toàn cầu hoá.
1.1.2 Bạo lực
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bạo lực là một giai cấp (một nhóm chính
trị xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức và tước đoạt” [23,
tr.41].
Theo từ điển Hán Việt thì: “Bạo lực là dùng sức mạnh để trấn áp kẻ

[5, tr.415]. Như vậy, gia đình là một tập hợp người nhỏ, là tế bào của xã hội.
Gia đình là nơi mọi người yêu thương và chia sẻ những yêu thương với
nhau, cùng làm ăn chung sống suốt đời mình.
Vậy thì bạo lực gia đình là gì? Bạo lực gia đình có tính chất như thế
nào?
Theo luật phòng, chống bạo lực gia đình: “Bạo lực gia đình là hành vi
cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể
chất, tinh thần, kinh tế đối với các thành viên khác trong gia đình” [25, điều
1 khoản 2].
Theo đó luật phòng, chống bạo lực gia đình đã xác định các hành vi
của bạo lực gia đình như sau:
“a) Hành hạ, ngược đãi, đánh đập hoặc hành vi cố ý khác xâm phạm
đến sức khoẻ, tính mạng.
b) Lăng mạ hoặc hành vi cố ý khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm.
c) Cô lập, xua đuổi hoặc gây áp lực thường xuyên về tâm lý gây hậu
quả nghiêm trọng.
d) Ngăn cản việc thực hiện quyền, nghĩa vụ trong quan hệ gia đình
giữa ông, bà và cháu; giữa cha, mẹ và con; giữa vợ chồng; anh, chị, em với
nhau
đ) Cưỡng ép tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, ly hôn hoặc cản trở hôn nhân
tự nguyện tiến bộ.
e) Cưỡng ép quan hệ tình dục.
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
16

f) Chiếm đoạt, huỷ hoại, đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hư
hỏng tài sản riêng của thành viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung
của các thành viên gia đình.

là do nam giới đối với phụ nữ (bao gồm cả các em gái).
Như vậy bạo lực gia đình là một trở ngại đặc biệt quan trọng của hạnh
phúc gia đình, nó không chỉ gây tổn thương đến sức khoẻ, đến cuộc sống
cũng như danh dự của các thành viên trong gia đình mà còn vi phạm tới các
chuẩn mực đạo đức xã hội, tiếp tay cho sự gia tăng của các tệ nạn xã hội
như: mại dâm, ma tuý, người lang thang cơ nhỡ, buôn bán, bắt cóc trẻ em
Qua đó, cho thấy bạo lực không còn là việc nội bộ tự giải quyết của mỗi gia
đình mà đã trở thành một tệ nạn cần có sự quan tâm của toàn xã hội.
Bạo lực gia đình xảy ra ở mọi quốc gia, không phân biệt màu da, trình
độ văn hoá, tôn giáo nào. Theo Famili Violence Frevetion Fund 2004 điều
tra tại Mỹ (2001) thì nửa triệu phụ nữ bị bạo hành bởi nam giới. Đó là
những nước có nền kinh tế phát triển cao, được coi là văn minh vậy mà tình
trạng phụ nữ bị ngược đãi đánh đập vẫn còn. Vậy thì nước ta đang trong quá
trình quá độ lên chủ nghĩa xã hội, lại hội nhập kinh tế toàn cầu, sự biến đổi
trong gia đình truyền thống sang gia đình hiện đại gây ra sự xung đột, bạo
lực gia đình làm tan vỡ hạnh phúc gia đình là điều không tránh khỏi.
* Các hình thức của bạo lực gia đình
Nạn bạo lực gia đình đang lan rộng và ngày càng gia tăng trong xã
hội, trở thành một vấn đề xã hội vô cùng quan tâm. Theo các nhà nghiên cứu
thì có hai dạng: bạo lực nhìn thấy được và bạo lực không nhìn thấy được
(hay còn gọi là bạo lực trực tiếp và bạo lực gián tiếp).
- Bạo lực nhìn thấy được hay còn gọi là bạo lực thể xác như: tát, đấm,
cấu, véo, giật tóc, bóp cổ, ném đồ vật vào người, nhốt trong phòng hoặc trói,
lột quần áo, xô đẩy, đánh đấm, dùng roi đe doạ, tấn công bằng vũ khí hoặc
vật khác, thậm chí có tính hành hung hoặc gây thương tích cho các nạn
nhân. Đây là hình thức bạo lực chủ yếu dùng bằng sức mạnh của cơ bắp để
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
18

19

1.2. Quan điểm chủ nghĩa Mác- Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh
về bình đẳng
1.2.1. Quan điểm của chủ nghĩa Mác- Lênin
Thực tế cho thấy gia đình lần lượt biến đổi tương ứng với những giai
đoạn phát triển của xã hội khác nhau. Theo Ăngghen trong xã hội công xã
nguyên thủy, trình độ lực lượng sản xuất rất thấp, cá nhân không tách rời tập
thể, cuộc sống cộng đồng nhiều mặt đã tạo nên hình thức gia đình tập thể.
Đây là giai đoạn đầu của xã hội cộng đồng nguyên thủy “Có gia đình cùng
dòng máu” [5, tr.416], “Các tập đoàn hôn nhân đều theo thế hệ, cuối giai
đoạn này thì bước sang chế độ nô lệ, trong xã hội nảy sinh hình thức gia
đình cá thể một vợ một chồng, đó là kết quả trực tiếp của việc hình thành
chế độ sở hữu tư nhân và sự phân hóa giai cấp” [, tr.417]. Ăngghen chỉ ra
rằng nguồn gốc của gia đình và chế độ tư hữu tư nhân làm xuất hiện hôn
nhân cá thể và đã tạo ra sự áp bức phụ nữ trong gia đình. Gia đình một vợ
chồng: “Chế độ một vợ một chồng là hình thức gia đình đầu tiên không dựa
trên những điều kiện tự nhiên, mà dựa trên những điều kiện kinh tế- tức là
dựa trên thắng lợi của sở hữu tư nhân đối với sở hữu công cộng” [14,
tr.104]. Đây là hình thức gia đình đầu tiên được hình thành do sự chi phối
của các điều kiện kinh tế và đồng thời là sự nô dịch kinh tế của người nam
giới với nữ giới: “Chế độ hôn nhân cá thể xuất hiện trong lịch sử không
phải là sự hòa giải giữa đàn ông với đàn bà mà trái lại, nó hiện ra là sự nô
dịch của giới này với giới kia. Là việc tuyên bố xung đột giữa hai giới, sự
xung đột mà người ta chưa từng thấy có trong suốt thời kì tiền sử” [14,
tr.104]. Như vậy, Ông cho rằng người phụ nữ bị tách ra khỏi sản xuất trở
thành người phụ nữ phục vụ trong gia đình, người đàn ông dần dần kiểm
soát người vợ với nguồn của cải trong tay mình. C.Mác viết: “Sự phân công
lao động đầu tiên là sự phân công lao động giữa đàn ông và đàn bà trong
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

quốc dân là yếu tố quan trọng để xóa bỏ mục đích hôn nhân cũ và cơ sở tình
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
21

trạng bất bình đẳng trong gia đình. Nên “Xây dựng cơ sở vật chất kĩ thuật
của chủ nghĩa xã hội quyết định sự nghiệp giải phóng phụ nữ, nâng cao đời
sống vật chất giữ gìn hạnh phúc gia đình” [5, tr.428].
Từ lý luận về sự áp bức và nguồn gốc của sự áp bức phụ nữ của các
nhà kinh điển chủ nghĩa Mác. Lênin đã thực hiện quá trình giải phóng phụ
nữ thông qua hàng loạt chính sách cụ thể được ban hành sau khi thành lập
chính quyền Xô Viết tại Nga. Lênin cho rằng các chế độ trước chỉ đấu tranh
cho sự bình đẳng, chưa thực sự đưa ra các đạo luật nhằm thực hiện bình
đẳng nam nữ: “Nó chỉ đụng đến những đạo luật cũ đã đặt phụ nữ vào địa vị
không bình đẳng với nam giới” [12, tr.227]. Nhũng đạo luật lỗi thời đó, đòi
nam nữ bình đẳng trước pháp luật nhưng chưa có một nhà nước dân chủ nào
ở châu Âu, chưa có một nước nào trong những số nước cộng hòa tiến bộ
nhất lại thực hiện được điều đó vì: “Ở đâu còn chủ nghĩa tư bản, còn chế độ
tư hữu ruộng đất, chế độ công xưởng và nhà máy, ở đâu còn chủ nghĩa tư
bản thì nam giới vẫn có đặc quyền” [12, tr.228]. Chúng ta thấy rằng các
nước cộng hòa dân chủ tiến bộ nhất đã tuyên bố quyền bình đẳng, nhưng
trong dân luật, trong các đạo luật quy định quyền lợi của phụ nữ trong gia
đình và quyền li hôn của phụ nữ, thì ở nơi nào phụ nữ cũng có “vào địa vị
bất bình đẳng, ở vào địa vị bị khinh miệt” [12, tr. 230]. Cho nên chính quyền
Xô Viết đã thực hiện triệt để hơn tất cả các nước khác, tiến bộ nhất: “Trong
các đạo luật chính quyền Xô Viết người ta không thấy một chút dấu vết gì
phụ nữ bị đỗi đãi một cách bình đẳng” [12, tr.230]. Để thực hiện được bình
đẳng Lênin đưa ra ba giải pháp:
- Một là, xây dựng và ban hành hệ thống pháp luật mới đảm bảo

xây dựng hệ thống pháp luật bảo đảm quyền bình đẳng nam nữ, đưa người
phụ nữ tham gia vào sản xuất và quản lí xã hội và các giải pháp hỗ trợ nhằm
giảm gánh nặng công việc gia đình.
1.2.2. Tư tưởng Hồ Chí Minh về bình đẳng đối với phụ nữ
Vận dụng những lý luận của chủ nghĩa Mác- Lênin, vấn đề giải phóng
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
23

dân tộc cũng như giải phóng phụ nữ được Đảng ta chú trọng ngay từ đầu
thành lập. Trong các văn kiện thành lập Đảng tháng 2- 1930, tại Hội nghị
Trung ương lần thứ nhất đã nêu: “Nam, nữ bình đẳng” [17, tr.433] là một
trong những nhiệm vụ của cách mạng Đông Dương. Đây là một trong bốn
điểm chính cương đề ra. Điều đó chứng tỏ, ngay từ đầu thành lập Đảng, vấn
đề giải phóng phụ nữ được Bác Hồ và Đảng ta hết sức coi trọng trong xây
dựng đường lối cách mạng, một nội dung trong cách mạng giải phóng dân
tộc.
Xuyên suốt quan điểm của Đảng là tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề
phụ nữ như về vị trí, vai trò, nhiệm vụ của phụ nữ trong cách mạng Việt
Nam và các biện pháp tiến tới làm cho phụ nữ được giải phóng, nam nữ
được bình đẳng. Người là nhà lãnh đạo cách mạng Việt Nam rất quan tâm
đến sự bình đẳng. Người khẳng định: “Phụ nữ Việt Nam dân chủ cộng hòa
có quyền bình đẳng với nam giới về các mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã
hội và gia đình” [20, tr.225]. Như vậy là từ rất sớm Người đã thấy vị trí vai
trò của phụ nữ thế giới nói chung và phụ nữ Việt Nam nói riêng trong việc
bảo vệ và xây dựng đất nước. Người nhận định rằng: “Non sông gấm vóc
Việt Nam do phụ nữ ta, trẻ cũng như già, ra sức dệt thêu mà thêm tốt đẹp
rực rỡ” [17, tr.432]. Vậy là Người nhìn thấy phụ nữ là lực lượng lao động to
lớn để xây dựng chủ nghĩa xã hội. Do đó Người khẳng định nhiệm vụ của

tr.6]. Quan tâm tới vị trí của phụ nữ trong xã hội, đồng thời Hồ Chí Minh
luôn nhắc nhở cán bộ, Đảng viên rằng một trong những nhiệm vụ của phụ
nữ dưới chế độ ta là phải hăng hái tham gia chính quyền. Người còn nói nếu
cán bộ lãnh đạo là nữ mà ít, đấy cũng là một thiếu sót của Đảng. Về nguyên
nhân của tình trạng phụ nữ ít được tham gia lãnh đạo quản lí, theo Hồ Chí
Minh đó là vì: “Nhiều người còn đánh giá không đúng khả năng của phụ nữ,
hay thành kiến, hẹp hòi, như vậy là rất sai lầm” [21, tr.195].
Thực hiện nam, nữ bình quyền, theo Hồ Chí Minh: “Đó là một cuộc
cách mạng khá to và khó” [17, tr.435], “nhiều người còn lầm tưởng đó là
Kkoá luận tốt nghiệp Chuyên ngành: CNXHKH

Lý Văn Sỹ K33A GDCD- GDCT
25

một việc dễ, chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát quét nhà, hôm sau em quét
nhà, nấu cơm, rửa bát, thế là bình đẳng, bình quyền. Lầm to! Vì trọng nam,
khinh nữ là một thói quen mấy nghìn năm để lại, vì nó ăn sâu trong đầu óc
của mọi người, mọi gia đình, mọi tầng lớp xã hội” [17, tr.433]. Để thực hiện
100% bình quyền, bình đẳng nam nữ, Hồ Chí Minh nhắc nhở “chị em phải
nâng cao tinh thần làm chủ, cố gắng học tập và phấn đấu, phải xóa bỏ tư
tưởng bảo thủ, tự ti, phải có phương pháp đào tạo và giúp đỡ để nâng cao
hơn nữa địa vị của phụ nữ” [18, tr.259]. Theo Bác, đấu tranh giành quyền
bình quyền, bình đẳng cho phụ nữ trước hết phải đấu tranh về nhận thức,
đấu tranh chống lại những thói quen xấu lâu đời. Người nêu đối tượng đấu
tranh là: “ Phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư sản trong người
đàn ông” [18, tr.523].
Quan tâm đến quyền bình đẳng của nữ giới trong quan hệ gia đình, xã
hội mà Bác Hồ còn lo cho hạnh phúc của nữ giới trong quan hệ vợ chồng.
Bác khuyên chị em ý thức được quyền lợi và trách nhiệm cuả mình để tự
đấu tranh giải phóng mình khỏi những ràng buộc phi lý kiểu “chồng chúa vợ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status