MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là vấn đề toàn cầu, đã và đang diễn ra trên toàn thế giới với
những mức độ khác nhau và trở thành một thách thức lớn đối với sự phát triển
của từng khu vực, từng quốc gia, dân tộc, từng địa phương. Mặc dù thế giới đã
đưa ra một mức đói nghèo chung tương đối chuẩn (đói có thu nhập dưới 1USD/
người/ ngày, nghèo dưới 2 USD/ người/ ngày), và chuẩn đó cũng sẽ thay đổi theo
tiến trình phát triển kinh tế toàn cầu. Song mức độ và tiêu chí đánh giá về đói
nghèo ở mỗi quốc gia, khu vực, vùng miền vẫn có sự khác biệt.
Chúng ta biết rằng, đói nghèo không chỉ là vấn đề kinh tế đơn thuần, mà
còn là vấn đề chính trị, xã hội và là một trong những nội dung cơ bản trong phát
triển kinh tế bền vững ở mỗi địa phương, mỗi quốc gia và trên toàn thế giới.
Giải quyết tình trạng đói nghèo là một trong những vấn đề xã hội vừa cơ bản lâu
dài, vừa là nhiệm vụ cấp bách, nhằm bảo đảm phát triển kinh tế và tiến bộ, công
bằng xã hội. Vì vậy, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta có rất nhiều
chủ trương về xóa đói, giảm nghèo. Tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X, một
lần nữa Đảng ta khẳng định: “Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng kết cấu hạ
tầng kinh tế, xã hội và trợ giúp về điều kiện sản xuất, nâng cao kiến thức để
người nghèo, hộ nghèo, vùng nghèo tự vươn lên thoát nghèo và cải thiện mức
sống một cách bền vững” .
Lào Cai là một tỉnh vùng cao biên giới nằm ở phía Bắc Việt Nam, có 203
km đường biên giới giáp với tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), có 8 huyện, 1 thành
phố, trong đó có 4 huyện biên giới. Toàn tỉnh có 164 xã, phường, trong đó có 81
xã đặc biệt khó khăn, dân số là 615.620 người (theo niên giám thống kê 2009),
trong đó người dân tộc ít người chiếm 64,09%. Theo kết quả điều tra (chuẩn
nghèo đói giai đoạn 2011 - 2015), đến năm 2011 tỉnh Lào Cai có 50.939 hộ
nghèo, chiếm 35,29% tổng số hộ trong toàn tỉnh. Những hộ nghèo này chủ yếu
là các hộ đồng bào dân tộc, tập trung ở các huyện vùng cao, biên giới. Đặc biệt,
4 huyện biên giới của tỉnh tỷ lệ hộ nghèo chung trên địa bàn là 43,9%, cao hơn
tỷ lệ nghèo chung toàn tỉnh. Việc thực hiện xóa đói, giảm nghèo mặc dù có
những tiến bộ, tuy vậy vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thiếu tính đồng bộ, thống
Chúng ta muốn biểu thị “nghèo khổ” bằng một con số có ý nghĩa để so
sánh xem đâu là nước giàu, đâu là nước nghèo, vùng nào giàu hơn và vùng nào
nghèo hơn Các nhà kinh tế đã đưa ra khái niệm:
+ Nghèo khổ tuyệt đối: là tình trạng không đảm bảo mức thu nhập hay chi
tiêu tối thiểu cần thiết để đáp ứng nhu cầu vật chất tối thiểu để con người có thể
tồn tại như lương thực, thực phẩm, quần áo, nhà ở
+ Nghèo khổ tương đối: là tình trạng không đảm bảo mức tiêu chuẩn đê
có thể chấp nhận được trong những địa điểm và thời gian xác định. Đây là
những người cảm thấy bị tước đoạt của cải mà đại bộ phận những người khác
trong xã hội được hưởng, đó là một biểu hiện bất bình đẳng trong phân phối thu
nhập.
1.1.2 Phương pháp đánh giá nghèo khổ về thu nhập
Ở Việt Nam hiện nay, có phương pháp tiếp cận với ranh giới nghèo đói
như sau:
+ Phương pháp dựa vào cả thu nhập và chi tiêu theo đầu người (phương
pháp của tổng cục thống kê): phương pháp này xác định 2 ngưỡng nghèo:
- Ngưỡng nghèo thứ nhất là số tiền cần thiết để mua một rổ lương thực
hàng ngày được để đảm bảo mức độ dinh dưỡng.
- Ngưỡng nghèo thứ hai, thường gọi là “ngưỡng nghèo chung” ngưỡng này
bao gồm cả phần chi tiêu cho hàng hóa phi lương thực.
+ Phương pháp dựa trên thu nhập của hộ gia đình ( phương pháp của Bộ
Lao động - Thương binh - Xã hội). Phương pháp này hiện đang được sử dụng để
xác định chuẩn nghèo đói của chương trình xóa đói giảm nghèo quốc gia.
1.1.3 Chỉ số đánh giá
Thước đo sử dụng phổ biến hiện nay để đánh giá nghèo khổ về thu nhập là
đếm số người sống dưới chuẩn nghèo. Gọi là “chỉ số đếm đầu người” (HC-
Headcount index). Từ đó xác định tỷ lệ nghèo (tỷ lệ đếm đầu – HCR).
1.2 Nghèo khổ của con người (nghèo khổ tổng hợp)
1.2.1 Khái niệm
Sự nghèo khổ của con người là khái niệm đã được Liên Hiệp Quốc đưa ra
+ Trình độ giáo dục thấp, tuổi thọ thấp, tỷ lệ trẻ sơ sinh tử vong cao.
+ Thiếu việc làm hoặc việc làm không ổn định, bấp bênh do trình độ học
vấn thấp.
1.3.2. Chiến lược xoá đói, giảm nghèo
+ Xoá đói giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh, hiệu
quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo các nguồn lực cho các hoạt động trợ
giúp người nghèo đói. Nhờ kinh tế phát triển mà Nhà nước đã có đủ tài chính để
mở rộng các dự án, các chương trình xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ cho hàng ngàn
4
xã khó khăn phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội, trên cơ sở đó những người
nghèo ở những vùng sâu, vùng xa có thêm cơ hội để vươn lên thoát nghèo đói.
Nhìn chung, ở đâu kinh tế phát triển, ngành nghề và hoạt động kinh tế đa dạng,
việc làm đầy đủ, thì ở đó số hộ nghèo đói giảm nhanh, số hộ giàu tăng lên và bộ
mặt xã hội của cộng đồng thay đổi nhanh chóng.
+ Xoá đói giảm nghèo không chỉ là nhiệm vụ của Nhà nước, của toàn xã
hội, mà trước hết là bổn phận của chính người nghèo, phụ thuộc vào sự vận
động tự giác của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo. Xóa đói giảm nghèo
phải được coi là sự nghiệp của bản thân người nghèo, cộng đồng nghèo, bởi vì
sự nỗ lực tự vươn lên để thoát nghèo chính là động lực, là điều kiện cần cho sự
thành công của mục tiêu chống đói nghèo ở các nước. Nhà nước sẽ trợ giúp
người nghèo biết cách tự thoát nghèo và tránh tái nghèo khi gặp rủi ro. Bên cạnh
sự hỗ trợ về vật chất trực tiếp thì việc tạo việc làm cho người nghèo bằng cách
hướng dẫn người nghèo sản xuất, kinh doanh phát triển kinh tế theo điều kiện cụ
thể của họ chính là điều kiện xoá đói giảm nghèo thành công nhanh và bền
vững.
+ Triển khai có hiệu quả các chương trình, dự án xoá đói giảm nghèo
bằng các nguồn tài chính trợ giúp của Nhà nước và các tổ chức trong và ngoài
nước. Trong những năm qua, Nhà nước đã giành nhiều kinh phí cho các chương
trình xoá đói giảm nghèo. Bên cạnh những thành tựu đáng kể của xoá đói giảm
nghèo còn có vấn đề nổi cộm đó là tình trạng tham nhũng, cắt bớt phần tài chính
Lào Cai được thành lập. Năm 1976 tỉnh Lào Cai sáp nhập với tỉnh Yên Bái và
Nghĩa Lộ thành tỉnh Hoàng Liên Sơn. Đến ngày 01-10-1991 tỉnh Lào Cai được
tái lập, gồm 10 huyện, thị xã. Ngày 30-12- 2000, huyện Bắc Hà được tách thành
2 huyện Si Ma Cai và Bắc Hà. Ngày 31-01- 2002, thị xã Cam Đường và thị xã
Lào Cai được sáp nhập thành thị xã Lào Cai. Ngày 01-01-2004, huyện Than
Uyên được tách ra và nhập vào tỉnh Lai Châu (mới) và ngày 31-11-2004 thị xã
Lào Cai trở thành thành phố Lào Cai. Từ năm 2004 đến nay, tỉnh Lào Cai có 8
huyện và 1 thành phố
Lào Cai có diện tích 6.383,89 km
2
; với 203 km đường biên giới tiếp giáp
với tỉnh Vân Nam - Trung Quốc, có một cửa khẩu quốc tế, một cửa khẩu quốc
gia và nhiều lối mở.
6
Lào Cai nằm trong lưu vực hai sông lớn là sông Hồng và sông Chảy, có
nhiều dãy núi cao nên địa hình bị chia cắt rất mạnh, độ cao thay đổi từ 300m tới
trên 3.000m so với mực nước biển. Lào Cai cách thủ đô Hà Nội 296 km theo
đường sắt và 338 km theo đường bộ. Các đường giao thông quan trọng như
đường quốc lộ Hà Nội - Lào Cai, Lào Cai - Lai Châu và tuyến đường sắt Hà Nội
đi Lào Cai, Lào Cai đi Vân Nam (Trung Quốc). Hệ thống sông chính của tỉnh
gồm sông Hồng bắt nguồn từ tỉnh Vân Nam Trung Quốc chảy qua tỉnh Yên Bái
dài 120 km; sông Chảy bắt nguồn từ vùng núi Tây Côn Lĩnh (Trung Quốc) dài
124 km.
2.1.2 Dân số - dân tộc
Theo kết quả điều tra ngày 1/4/1999, tỉnh Lào Cai có 594.364 người.
Trong đó lao động xã hội toàn tỉnh là 307.800 người, chiếm 51,78% dân số.
Trên địa bàn tỉnh có 27 dân tộc, đông nhất là dân tộc Kinh có 196.889 người,
chiếm 33,12%; các dân tộc thiểu số như dân tộc Tày có 81.666 người, chiếm
13,74%; dân tộc Thái có 52.146 người, chiếm 8,77%; dân tộc Mông có 123.778
người, chiếm 20,82%; dân tộc Dao có 74.220 người, chiếm 12,48%; dân tộc
- Nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản: 31.22%
- Công nghiệp, xây dựng: 36.35%
- Dịch vụ, du lịch: 32,43%
2.2 Thực trạng công tác xoá đói, giảm nghèo ở Lào Cai
2.2.1. Thực trạng và nguyên nhân đói nghèo ở Lào Cai
2.2.1.1 Thực trạng đói nghèo tỉnh Lào Cai năm 2011
Theo kết quả điều tra (chuẩn nghèo đói giai đoạn 2011 - 2015), đến năm
2011 tỉnh Lào Cai có 50.939 hộ nghèo, chiếm 35.20% tổng số hộ trong toàn
tỉnh; hơn 17.591 nghìn hộ cận nghèo, chiếm 12.19% tổng số hộ trong toàn tỉnh.
Những hộ nghèo này chủ yếu là các hộ đồng bào dân tộc, tập trung ở các huyện
vùng cao, biên giới. Đặc biệt, 4 huyện biên giới của tỉnh tỷ lệ hộ nghèo chung
trên địa bàn là 43,9%, cao hơn tỷ lệ nghèo chung toàn tỉnh.
Những kết quả tích cực trong công tác giảm nghèo bền vững trong những
năm qua là không thể phủ nhận, nhưng Lào Cai vẫn nằm trong "tốp" những địa
phương có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất cả nước. Do nhiều nguyên nhân, tỷ lệ giảm
nghèo cao, nhưng chưa thực sự bền vững, tỷ lệ phát sinh và tái nghèo còn cao.
Chênh lệch thu nhập giữa các hộ, nhóm hộ, các vùng, các dân tộc được hạn chế
nhưng còn tương đối lớn. Tập quán sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của đồng bào
vùng cao còn mang tính nhỏ lẻ, lạc hậu, năng lực, trình độ, nhận thức và khả
năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ của bộ máy chính quyền cơ sở nói chung chưa
đạt yêu cầu. Một bộ phận người nghèo, thậm chí một số cán bộ cơ sở vẫn còn tư
tưởng trông chờ, ỷ lại Nhà nước. Một trong những nguyên nhân khách quan
8
khác là nhiều hộ rơi vào cảnh nghèo do ảnh hưởng của thiên tai, mất mùa và gặp
những rủi ro trong cuộc sống.
2.2.1.2 Nguyên nhân
+ Người dân khó tiếp cận được với các dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch
vụ xã hội khác do kết cấu hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa, vùng đói nghèo còn
thiếu và yếu kém.
+ Việc tiếp cận đến các vùng này còn hết sức khó khăn.
nhanh tiến độ xóa nghèo cho các hộ dân tộc thiểu số ở Việt Nam.
Sau 4 năm thực hiện Chương trình 134, với tổng số vốn được đầu tư hơn
114 tỷ đồng, Lào Cai đã có hơn 9.000 hộ đồng bào dân tộc thiểu số nghèo được
hỗ trợ đất sản xuất, đất ở, nhà ở, nước sinh hoạt Trong năm 2008, mặc dù gặp
rất nhiều khó khăn: lạm phát, giá cả biến động, thời tiết khắc nghiệt đã khiến
tiến độ thực hiện chương trình 134 ở Lào Cai bị ảnh hưởng. Dưới sự chỉ đạo của
Ban Chỉ đạo chương trình 134 cấp tỉnh, sự kiểm tra, giám sát của Hội đồng nhân
dân các cấp cùng sự cố gắng của chính quyền địa phương, Lào Cai đã hỗ trợ nhà
ở cho hơn 4.800 hộ, hoàn thành cơ bản việc xoá nhà tạm, nhà tranh tre, nứa lá,
dột nát ; hơn 1.200 hộ được hỗ trợ đất ở, hơn 330 hộ được hỗ trợ đất sản xuất,
2.700 hộ được hỗ trợ nước sinh hoạt, gần 330 công trình nước sinh hoạt tập
trung được xây dựng
Tuy nhiên, theo báo cáo đánh giá kết quả 4 năm thực hiện chương trình
134 của Ủy ban nhân dân tỉnh Lào Cai, chương trình 134 vẫn còn tồn tại những
hạn chế nhất định, nhiều hạng mục chương trình vẫn chưa đạt được mục tiêu
như kế hoạch đã đề ra
2.2.2.3 Chương trình 30a
Chương trình 30a của Chính phủ nhằm hỗ trợ xóa đói, giảm nghèo nhanh
và bền vững cho 62 huyện nghèo trong cả nước. Tỉnh Lào Cai có ba huyện là
Mường Khương, Bắc Hà và Si Ma Cai được hưởng lợi từ chương trình này. Đây
là những huyện vùng cao khó khăn nhất của tỉnh, tỷ lệ hộ nghèo rất cao (từ 47
đến 56%), hạ tầng xã hội thiếu và chưa đồng bộ, đời sống của đồng bào các dân
tộc thiểu số còn thấp so với mặt bằng chung của tỉnh và cả nước.
Chương trình 30a chính thức được triển khai thực hiện từ tháng 2-2009.
Tỉnh Lào Cai đã thành lập Ban chỉ đạo từ tỉnh đến cơ sở, thành phần là lãnh đạo
chủ chốt và các ban, ngành chức năng, đoàn thể chính trị - xã hội ở địa phương.
Sau gần hai năm triển khai thực hiện Chương trình 30a, đã huy động được sự
tham gia của cả hệ thống chính trị cùng vào cuộc với tinh thần trách nhiệm cao.
Bước đầu, các chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở; nâng mức khoán khoanh
10
Giáy thoát nghèo, có việc làm và thu nhập ổn định. Bộ mặt nông thôn vùng
11
sâu, vùng xa khởi sắc rõ nét thông qua cơ sở hạ tầng và đời sống hằng ngày của
người dân được cải thiện.
Chương trình 30a đã giúp ba huyện nghèo của Lào Cai bước đầu hình
thành vùng sản xuất hàng hóa, với loại cây trồng chủ lực là chè, dứa và thuốc lá.
Chăn nuôi đại gia súc phát triển, tăng thêm 3.000 con trâu, bò, ngựa. Việc hỗ trợ
đẩy mạnh phát triển sản xuất và trợ giúp kịp thời về nhà ở, sinh hoạt, đời sống
cho nhân dân đã góp phần đưa thu nhập bình quân đầu người ở ba huyện nghèo
tăng khoảng 1,5 triệu đồng, tỷ lệ giảm nghèo của ba huyện là gần 6% so với
trước khi triển khai thực hiện Chương trình 30a.
Tuy nhiên, các huyện chưa xây dựng được quy hoạch tổng thể phát triển
kinh tế - xã hội và quy hoạch chi tiết về sản xuất nên lúng túng trong lựa chọn
mục tiêu giải ngân, vì vậy, việc giải ngân nguồn vốn sự nghiệp còn chậm, hiệu
quả chưa cao. Có nơi chỉ hỗ trợ giải quyết ngay những nhu cầu bức xúc trước
mắt của hộ nghèo mà chưa chú ý đến việc giúp họ kiến thức và phương pháp để
xóa nghèo bền vững. Đồng chí Phó Chủ tịch UBND tỉnh Phạm Văn Cường cho
biết: Tuy đã triển khai thực hiện hơn hai năm, nhưng một số quy định, cơ chế
chính sách đặc thù theo tinh thần của Nghị quyết 30a chưa được các bộ, ngành
ban hành như: Chính sách ưu đãi đối với giáo viên, học sinh; chính sách ưu đãi
về y tế; chính sách khuyến công, thu hút đầu tư phát triển, xúc tiến thương mại,
quảng bá, giới thiệu sản phẩm; chính sách chuyển giao công nghệ, nghiên cứu
phát triển các loại cây trồng, vật nuôi. Điều này làm hạn chế tiến độ xóa nghèo ở
địa phương và cần sớm được khắc phục.
2.3 Đánh giá chung về xoá đói, giảm nghèo ở Lào Cai
2.3.1. Kết quả đã đạt được
Trong những qua, công tác giảm nghèo bền vững trên địa bàn tỉnh đạt
được những kết quả khả quan. Các chương trình, chính sách đối với hộ nghèo,
như chính sách tín dụng cho hộ nghèo; hỗ trợ giáo dục, y tế cho hộ nghèo; chính
sách khuyến nông và khuyến lâm, hỗ trợ phát triển sản xuất, phát triển ngành
thôn thuộc hộ nghèo, đạt 17,9%. Tỉnh cũng đã phê duyệt hỗ trợ làm nhà ở cho
hộ nghèo tại các thôn bản thuộc các thị trấn, đã hoàn thành vào tháng 10/2011.
Tiến độ thực hiện Nghị quyết 30a trên địa bàn tỉnh 6 tháng đầu năm đạt
yêu cầu đề ra, các địa phương đã tổ chức triển khai, thực hiện kịp thời các nguồn
vốn đầu tư hỗ trợ cơ sở hạ tầng và thực hiện chính sách hỗ trợ trực tiếp cho nhân
dân và hộ nghèo theo quy định. Toàn tỉnh đã giải ngân trên 56 tỷ đồng nguồn
vốn đầu tư phát triển, đạt 65% kế hoạch vốn được giao năm 2011, trong đó
huyện Si Ma Cai giải ngân trên 20 tỷ đồng, Bắc Hà trên 18 tỷ đồng, Mường
Khương gần 18 tỷ đồng Nguồn vốn sự nghiệp đã được các địa phương giải
ngân trên 3 tỷ đồng, đạt 12,3%. Chính sách hỗ trợ tín dụng được thực hiện hiệu
13
quả với hàng nghìn hộ dân được vay vốn đầu tư phát triển sản xuất, xóa đói,
giảm nghèo.
Thực hiện Quyết định 70 của Thủ tướng Chính phủ về việc khuyến khích,
thu hút trí thức trẻ, cán bộ chuyên môn kỹ thuật về tham gia công tác tại các xã
thuộc huyện nghèo, tỉnh đã hợp đồng được 6 trí thức trẻ đến công tác tại các xã
thuộc hai huyện Bắc Hà và Si Ma Cai. Hoạt động phối hợp với Ngân hàng phát
triển Việt Nam đã đạt được những kết quả thiết thực, góp phần thúc đẩy công
cuộc xóa đói, giảm nghèo nhanh và bền vững cho cho 3 huyện nghèo Mường
Khương, Bắc Hà, Si Ma Cai nói riêng và tỉnh Lào Cai nói chung.
2.3.2. Những tồn tại khó khăn
Mặc dù tỷ lệ giảm nghèo nhanh nhưng chưa thực sự bền vững. Còn phát
sinh hộ nghèo và hộ tái nghèo. Chênh lệch thu nhập giữa các hộ, nhóm hộ, đã
giảm nhưng còn tương đối lớn.
Tập quán sản xuất, sinh hoạt, tiêu dùng của đồng bào vùng cao còn lạc
hậu và chưa thực sự thoát khỏi tự túc, tự cấp.
Năng lực, trình độ, khả năng tổ chức thực hiện nhiệm vụ của một bộ phận
cán bộ còn yếu so với yêu cầu. Một bộ phận người nghèo thậm chí một số cán bộ
cơ sở vẫn còn tư tưởng trông chờ, ỷ lại Nhà nước và cấp trên.
Việc xác định số hộ nghèo, tỷ lệ hộ nghèo, cận nghèo ở hầu hết các huyện,
Những năm qua, công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Lào Cai đã đạt
được nhiều thành công. Nhưng bên cạnh đó, kết quả giảm nghèo chưa thực sự
bền vững, số hộ đã thoát nghèo nhưng mức thu nhập nằm sát chuẩn nghèo còn
lớn, tỷ lệ hộ tái nghèo hàng năm còn cao, chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng,
nhóm dân cư vẫn còn khá lớn, đời sống người nghèo nhìn chung vẫn còn gặp
nhiều khó khăn.
Trên cơ sở đó, để tạo sự chuyển biến mới trong công tác giảm nghèo thời
gian tới, tỉnh ủy và UBND tỉnh Lào Cai đã ra các chỉ thị và nghị quyết về công
tác xóa đói giảm nghèo trong tỉnh và chỉ ra những quan điểm và có định hướng
giảm nghèo bền vững trong giai đoạn tiếp theo như sau:
+ Thực hiện công tác xóa đói giảm nghèo gắn với tăng trưởng kinh tế.
+ Tăng cường xã hội công tác xóa đói giảm nghèo.
+ Phát huy nội lực là chính, khuyến khích người nghèo vươn lên theo
hướng tự cứu, tranh thủ các nguồn vốn hỗ trợ của trung ương và quốc tế.
15
+ Ưu tiên đần tư cho các vùng đặc biệt khó khăn, vùng cao, vùng sâu,
vùng xa.
3.1.2 Mục tiêu xoá đói, giảm nghèo
+ Tăng thu nhập bình quân đầu người của các hộ nghèo
+ Điều kiện sống của người nghèo được cải thiện rõ rệt, trước hết là về y
tế, giáo dục, văn hóa, nước sinh hoạt, nhà ở; người nghèo tiếp cận ngày càng
thuận lợi hơn các dịch vụ xã hội cơ bản.
+ Cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội ở các huyện nghèo, xã nghèo, thôn, bản
đặc biệt khó khăn được tập trung đầu tư đồng bộ theo tiêu chí nông thôn mới,
trước hết là hạ tầng thiết yếu như: giao thông, điện, nước sinh hoạt.
3.2 Giải pháp đẩy mạnh xoá đói, giảm nghèo tỉnh Lào Cai trong giai đoạn
tiếp theo
3.2.1 Thúc đẩy tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế
Sự tăng trưởng kinh tế là nền tảng hết sức quan trọng. Sự tăng trưởng đó
không chỉ có những tác động tích cực đến đời sống văn hóa xã hội, an ninh quốc
biển tới các tỉnh miền Tây Nam Trung Quốc. Sớm xác định lợi thế của Khu kinh
tế cửa khẩu trong chiến lược phát triển kinh tế của địa phương, Lào Cai luôn đặt
mục tiêu "Khai thác tốt nhất những lợi thế về cửa khẩu, đưa kinh tế cửa khẩu
thực sự là mũi nhọn, là động lực để phát triển kinh tế địa phương".
Để đạt được mục tiêu đề ra thì tỉnh Lào Cai cần phải tích cực thực hiện các
hội chợ thương mại Quốc tế Việt – Trung và xây dựng thêm các khu kinh tế
thương mại. Tại các hội chợ thương mại thì có những cơ chế chính sách ưu đãi
đối với những mặt hàng được trưng bày, bày bán tại đó và tăng cường xúc tiến
thương mại vào thị trường Trung Quốc. Tạo điều kiện để các địa phương giới
thiệu tiềm năng, lợi thế và các dự án nhằm kêu gọi khuyến khích đầu tư đồng
thời cũng là dịp để các địa phương, doanh nghiệp khảo sát thị trường tiêu thụ
sản phẩm; giúp các doanh nghiệp, hộ kinh doanh cung cấp sản phẩm dịch vụ của
mình để tăng doanh thu, tạo việc làm và thu nhập cho nhân dân, góp phần vào sự
phát triển kinh tế xã hội của tỉnh Lào Cai đặc biệt là trong công tác giảm nghèo
bền vững của tỉnh.
3.2.4 Bên cạnh đó tỉnh Lào Cai cần cho tiến hành thực hiện một số chiến
lược để phối hợp và hỗ trợ cho công tác xoá đói, giảm nghèo trên địa bàn
toàn tỉnh, ví dụ như
17
Tiếp tục rà soát và hoàn thiện thêm một bước hệ thống chính sách về xóa
đói giảm nghèo và cơ chế thực hiện thuộc thẩm quyền phân cấp của tỉnh cho phù
hợp với yêu cầu trong tình hình mới. Tiếp tục kiện toàn, nâng cao trách nhiệm
các cơ quan quản lý trong triển khai, chỉ đạo, hướng dẫn tổ chức thực hiện các
chính sách, chương trình, dự án hỗ trợ người nghèo, hộ nghèo, xã nghèo;
Tăng cường nguồn lực đầu tư gắn với nâng cao chất lượng thực hiện các
chính sách, chương trình, dự án giảm nghèo, trong đó ưu tiên chính sách đầu tư
hỗ trợ điều kiện cho hộ nghèo phát triển sản xuất, tăng thu nhập, đặc biệt đối với
các hộ nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn, vùng có tỷ lệ nghèo
đói cao, đó là: chính sách tín dụng ưu đãi; khuyến nông, lâm, ngư và hỗ trợ phát
triển sản xuất, phát triển ngành nghề cho người nghèo; hỗ trợ con em người
hạ tầng cho các xã nghèo,vùng nghèo như: Điện nước sinh hoạt, trạm y tế xã,
trường học từng bước cải thiện đời sống vật chất và tinh thần cho người nghèo
và hộ nghèo. Tạo việc làm cho người nghèo, hộ nghèo, hướng dẫn họ cách làm
ăn, khuyến nông, lâm, ngư, cho vay vốn ưu đãi giúp người nghèo tự vươn lên
trong cuộc sống.
Tuy nhiên xóa đói giảm nghèo là một công việc khó phức tạp, có tính tổng
hợp cho nên trong quá trình thực hiện xóa đói giảm nghèo tỉnh Lào Cai còn một
số hạn chế như: hiệu quả của các dự án thuộc chương trình xóa đói giảm nghèo
còn chưa cao, việc lồng ghép các dự án còn gặp nhiều lúng túng, tính bền vững
của chương trình xóa đói giảm nghèo chưa cao Do vậy phải có những giải
pháp khắc phục những tồn tại này và đẩy mạnh thực hiện chương trình xóa đói
giảm nghèo bền vững trong thời gian tới. Từ những thực trạng trên em xin có
một số kiến nghị đối với Đảng ủy và UBND tỉnh Lào Cai về công tác xóa đói
giảm nghèo trong giai đoạn tới như là các huyện, thành phố cần nghiên cứu, cụ
thể hóa đề án giảm nghèo của tỉnh để gắn với các chương trình phát triển kinh
tế-xã hội tại địa phương, tập trung vào những nhiệm vụ trọng tâm. Công tác đào
tạo nghề cho người nghèo còn chồng chéo, hiệu quả thấp, các ngành, các địa
19
phương cần xác định chính xác nhu cầu tại địa phương, cập nhật nhu cầu mới
phát sinh để có hướng đào tạo phù hợp. Về nguồn tín dụng, học sinh, sinh viên
vay, cần xem xét lại khả năng tiếp cận của người nghèo để có hướng giải quyết
kịp thời những khó khăn, vướng mắc. Chủ động rà soát lại các vướng mắc đối
với những cơ chế, chính sách dành cho người nghèo, tích cực vận động sự vào
cuộc của các doanh nghiệp đầu tư lĩnh vực nông nghiệp, hình thành các tổ hợp
tác, các mô hình sản xuất nông nghiệp đạt giá trị kinh tế cao.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. TS. PHẠM NGỌC LINH, TS. NGUYỄN THỊ KIM DUNG, Giáo trình Kinh
tế phát triển, Nhà xuất bản Đại học Kinh Tế Quốc Dân, Hà Nội.
2. TS. ĐỖ VĂN ĐỨC (2011), Kinh tế phát triển, NXB Đại học quốc gia, Hà
Nội.