Tiểu luận Hình thức di chúc theo quy định của bộ luật dân sư 2005 - pdf 13

Download miễn phí Tiểu luận Hình thức di chúc theo quy định của bộ luật dân sư 2005



A. LỜI MỞ ĐẦU 1
B. NỘI DUNG 1
I. LÝ LUẬN CHUNG VỀ DI CHÚC VÀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 1
1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại di chúc 1
2.Hình thức của di chúc theo pháp luật Việt nam qua các thời kỳ 3
2.1.Hình thức của di chúc trong luật Hồng Đức 3
2.2.Hình thức của di chúc trong luật Gia Long 4
2.3.Hình thức của di chúc dưới thời Pháp thuộc 5
2.4.Giai đoạn từ 1945 đến nay 5
2.4.1 Hình thức của di chúc quy định trong thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/7/1981. 6
2.4.2 Hình thức di chức được quy định trong pháp luật thừa kế ngày 30/08/1990 7
2.4.3 Hình thức di chúc được quy định tronng BLDS 1995 8
2.4.4 Hình thức của di chúc theo quy định BLDS năm 2005 9
II. HÌNH THỨC DI CHÚC THEO QUY ĐỊNH CỦA BLDS 2005 9
1. Di chúc bằng văn bản (điều 653 BLDS năm 2005) 9
2. Di chúc miệng (Điều 651, khoản 5 điều 652) 16
III.THỰC TRẠNG ÁP DỤNG LUẬT PHÂN CHIA DI SẢN THEO DI CHÚC VÀ PHƯƠNG HƯỚNG HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ HÌNH THỨC CỦA DI CHÚC 17
1. Thực trạng áp dụng luật phân chia di sản theo di chúc 17
2.Phương hướng hoàn thiện quy định pháp luật về hình thức di chúc 18
C.KẾT LUẬN 20
 
 
 
 
 


/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39620/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download cho

Tóm tắt nội dung:

h của người có tài sản. Theo điều 390 Quốc triều hình luật thì cha mẹ nhiều tuổi về già phải có trách nhiệm lo làm chúc thư để lại tài sản cho con cái, quy định này nhằm tránh sự tranh chấp tài sản về sau
Di chúc được lập dưới dạng văn bản gọi là chúc thư, trong trường hợp không biết chữ thì chúc thư có thể nhờ xã trưởng viết thay và chứng thực (điều 366 QTHL) trong trường hợp chúc thư không tuân thủ hình thức do pháp luật quy định thì sẽ không có giá trị pháp lý lúc đó di sản thừa kế được chia theo pháp luật. Trường hợp di chúc không qua xã trưởng xác nhận thì cần có chức sắc trong làng làm chứng. Theo đoạn 273 Hồng Đức Thiện Chính thì quy định chúc thư chỉ được coi là hợp pháp nếu có Hương trưởng, quan viên trong bản từ 30 tuổi trở lên là người viết thay hay chứng kiến. Như vậy, chúc thư phải có người làm chứng là người có chức sắc xã hội, là người đứng đầu họ tộc hay hương chủ làm chứng. Quy định này nhằm đảm bảo tính khách quan của di chúc, tránh những tranh chấp về chữ viết, nội dung trong di chúc
2.2.Hình thức của di chúc trong luật Gia Long
So với thời Lê, thời Nguyễn mà cụ thheer là trong luật Hoàng Việt Luật Lệ có rất ít chế định liên quan đến thừa kế. Tuy nhiên, những nguyên tắc về quan hệ tài sản và thừa kế cơ bản vẫn tương tự như luật thời nhà Lê nhưng đối với hình thức thừa kế theo di chúc thì trong Hoàng Việt Luật Lệ lại không quy định về hình thức của di chúc mà chỉ có quy định về người thừa kế theo di chúc có quyền nhận di sản sau khi cha mẹ chết
2.3.Hình thức của di chúc dưới thời Pháp thuộc
So với pháp luật triều Lê và Nguyễn thì pháp luật thừa kế thời Pháp thuộc theo khuôn mẫu của Bộ luật Dân sự Napoleon đã quy định một cách chi tiết hơn trong bộ luật Dân dân luật Bắc Kỳ (DLBK) và Hoàng việt trung kỳ hộ luật (HVTKHL). Pháp luật thời kỳ này cũng thừa nhận hai hình thức chia thừa kế là: chia theo di chúc và chia theo pháp luật. Về hình thức di chúc được quy định như sau
Pháp luật quy định người thành niên hay đã thoát quyền nếu có đủ chuyên môn đều có thể làm di chúc để xử lý tất cả tài sản của mình (điều 321 DLBK và điều 313 HVTKHL), người cha có thể lập chúc thư để định đoạt tài sản của mình tùy theo ý chí của mình nhưng phải giữ quyền lợi cho người vợ chính (điều 320 DLBK và điều 312 HVTKHL). Người lập chúc thư có thể truất quyền thừa kế của một hay nhiều người có trong những người được thưa kế, việc truất quyền phải được lập thành văn bản viên quản lý văn khế lập hay do lý trưởng nơi cư trú của người lập chúc thư.
Chúc thư phải làm thành văn bản hay do viên quản lý văn khế làm ra hay có công chứng thị thực, chúc thư không có viên chức thị thực phải do người lập chúc thư viết lấy và ký tên. Nếu người lập chúc thư đọc để người khác viết thay thì phải có ít nhất hai người đã thành niên làm chứng, người làm chứng thường là lý trưởng tại nơi cư trú của người lập chúc thư nếu ở xa không về nơi trú quán được thì chúc thư ấy phải có sự chứng kiến của lý trưởng nơi ở hiện cuaqr người lập chúc thư (điều 326 DLBK và điều 316 HVTKHL).
Chúc thư phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập chúc thư, họ, tên, tuổi, nơi trú quán của người làm chứng. Chúc thư khi đã làm xong thì lý trưởng đọc to cho mọi người cùng nghe rồi lý trưởng người lập chúc thư, người viết hộ (nếu có) và những người làm chứng cùng ký tên vào văn bản, có bao nhiêu người được thừa kế thì chúc thư được làm thành bấy nhiêu bản gốc để gửi cho mỗi người một bản
2.4.Giai đoạn từ 1945 đến nay
Sau cách mạng tháng Tám nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa ra đời. một Nhà nước non trẻ phải đối mặt với những vấn đề phức tạp về chính trị, văn hóa, xã hội,...Nhiệm vụ lúc này là bảo vệ củng cố thành quả Cách mạng kể cả những vấn đề liên quan kể cả những vấn đề liên quan đến lĩnh vực dân sự. Để đảm bảo cho quan hệ pháp luật dân sự phát triển bình thường Nhà nước cần có hệ thống pháp luật. Tuy nhiên do thời kỳ từ năm 1945 đến năm 1986 là chế độ bao cấp nên các quan hệ dân sự được hành chính hóa. Do vậy, hệ thống pháp luật dân sự không có văn bản pháp quy đơn hành điều chỉnh các quan hệ dân sự và các vấn đề dan sự được quy định trên trong các văn bản hành chính. Mặc dù, các quy định thừa kế chiếm số lượng nhiều hơn so với các quy định dân sự nhưng các quy định thừa kế giai đoạn từ 1945 đến 1986 vẫn chỉ là những quy định chung cho vấn đề hình thức của di chúc cũng chưa được đề cập nhiều.
Để làm rõ thay đổi và phát triển về hình thức của di chúc trong giai đoạn này chúng ta đi vào so sánh 4 văn bản điển hình quy định về thừa kế sau:
2.4.1 Hình thức của di chúc quy định trong thông tư số 81 hướng dẫn giải quyết các tranh chấp về thừa kế ban hành ngày 24/7/1981.
Theo quy định tại khoản A mục IV của thông tư số 81 ta thấy hình thức di chúc cũng được chia làm hai loại, là di chúc viết và di chúc miệng, trong đó:
Di chúc viết phải do người có năng lực hành vi đân sự tự nguyện lập ra, được chính quyền địa phương xác nhận. Trong trường hợp đặc biệt, di chúc có thể do cơ quan, đơn vị nơi đương sự làm việc xác nhận. Nếu người có tài sản đang đi trên phương tiện giao thông hay đang ở một cơ sở chữa bệnh mà gặp tình huống phải cấp bách lập di chúc thì sự chứng nhận của người phụ trách phương tiện giao thông hay cỏ sở chữa bệnh cũng được coi là hợp lệ. Di chúc của người cpos năng lực hành vi dân sự hay di chúc là ra vì đe dạo, ép buộc hay di chúc miệng không có người làm chứng đều không có giá trị.
Di chúc miệng pháp luật yêu cầu phải có người làm chứng bảo đảm
2.4.2 Hình thức di chức được quy định trong pháp luật thừa kế ngày 30/08/1990
Hình thức di chúc theo quy định trong pháp lệnh được thể hiện dưới hai hình thức là di chúc viết và di chúc miệng, tuy nhiên nó được quy định cụ thể và rõ ràng hơn về tính hợp pháp, nội dung và loại di chúc bằng văn bản cũng như các yêu cầu đối với di chúc miệng.
Di chíc viết phải đáp ứng được các diều kiện về nội dung theo điều 13 của pháp lệnh thừa kế năm 1990 là phải ghi rõ ngày, tháng, năm lập di chúc, họ, tên và nơi thường trú của người lập di chúc; họ, tên người được hưởng di sản, tên cơ quan, tổ chưc được hưởng di sản; tài sản, quyền để lại tài sản cho người khác, cơ quan, tổ chức được hưởng; nơi có tài sản đó, nếu trong di chúc có giao nghĩa vụ thì phải nêu rõ giao cho ai và nghĩa vụ gì. Trong bản di chúc phải có chữ kí hay điểm chỉ của người lập di chúc.
Trong quy định tại pháp lệnh 1990 đã có sự phân loại các loại di chúc viết như sau:
Di chúc viêt được cơ quan công chứng hay UBND chứng thực
Di chúc viết được cơ quan thay mặt ngoại giao hay lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài chứng thực
Di chúc viết có giá trị như di chúc được chứng thực bao gồm có: Di chúc của quan nhân có xác nhận của thủ trưởng đơn vị từ cấp đại đội hay tương đương trở lên. Trong trường hợp không thể yêu cầu cơ quan cô...
Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status