Download miễn phí Tiểu luận Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
MỤC LỤC
Trang
A./LỜI MỞ ĐẦU.1
B.NỘI DUNG.1
I./ Khái quát chung về hợp đồng dân sự.1
1./ Khái niệm.1
2/.Bản chất của hợp đồng.2
II./ Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dân sự theo quy định
của pháp luật Việt Nan hiện hành.4
1/.Lý luận chung về hiệu lực hợp đồng dân sự.4
2./Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp
luật Việt Nam hiện hành.6
III./Một số vấn đề bất cập trong quy định về hình thức hợp đồng
dân sự, thực tiễn áp dụng và một số kiến nghị hoàn thiện.16
1./Một số vấn đề bất cập trong quy định về hình thức hợp đồng dân
sự và thực tiễn áp dụng.16
2./ Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện quy định hiện hành về hình
thức hợp đồng.18
C.KẾT LUẬN.20
/tai-lieu/de-tai-ung-dung-tren-liketly-39625/
Để tải bản DOC Đầy Đủ thì Trả lời bài viết này, mình sẽ gửi Link download choTóm tắt nội dung:
g được thiết lập hợp pháp có hiệu lực như pháp luật cho các bên giao kết ước”.
Hiệu lực hợp đồng, còn được gọi là hiệu lực pháp luật của hợp đồng, là để chỉ sự cưỡng chế của pháp luật đối với các bên đương sự tham gia hợp đồng và thậm chí cả bên thứ ba, theo quy định của pháp luật về vấn đề này có một số điểm cần lưu ý sau:
- Hiệu lực hợp đồng nhìn từ góc độ nguồn luật, là do pháp luật hợp đồng trao cho hợp đồng, đồng thời cũng là sự bảo đảm khả năng cưỡng chế của Nhà nước. Khi người vay nợ vi phạm hợp đồng, pháp luật căn cứ vào đơn yêu cầu của bên không vi phạm, cưỡng chế bên vi phạm hợp đồng thực hiện hợp đồng, hay phải chịu những hậu quả bất lợi khác. Như vậy có thể thấy rằng, hiệu lực hợp đồng không giống như sự ràng buộc của tình hữu nghị, hay ràng buộc của đạo đức.
- Hiệu lực hợp đồng nhìn từ góc độ thể hiện của ý chí, đó là biểu hiện của sự thừa nhận của pháp luật đối với sự thống nhất về ý chí của các bên đương sự. Đồng thời cũng là căn cứ và ủng hộ các bên đương sự nhằm thỏa mãn yêu cầu muốn “ tìm kiếm” pháp luật. Nó cũng là kết quả của việc đưa ý chí của bản thân phù hợp với ý chí Nhà nước. Khi ý chí của các bên đương sự thống nhất hữu cơ với ý chí của Nhà nước, thì sự thể hiện cao nhất đó chính là thể hiện của đương sự. VD: Cho phép đương sự căn cứ theo ý muốn của bản thân hạn chế phạm vi hiệu lực của hợp đồng, cho phép đương sự tự do lựa chọn cách giao hàng, cho phép đương sụ sửa đổi hợp đồng hay chuyển nhượng nghĩa vụ quyền lợi... Tất cả những điều này thể hiện rõ hiệu lực hợp đồng chỉ là sự cụ thể hóa hiệu lực pháp luật, chứ không phải bản thân hiệu lực pháp luật
-Hiệu lực hợp đồng với tư cách là biểu hiện của pháp luật, đánh giá sự nhất trí của các bên đương sự , là một vấn đề hết sức phức tạp: Khi pháp luật khẳng định sự đánh giá vừa ý đối với các bên đương sự thì sẽ phát sinh hiệu quả pháp luật như đương sự mong muốn, các bên đương sự sẽ được hưởng quyền lợi, quyền lợi mà điều khoản hợp đồng ràng buộc, còn khi pháp luật phủ định sự vừa ý đối với các bên đương sự thì sẽ nảy sinh hậu quả không có hiệu lực của hợp đồng.
-Hiệu lực hợp đồng, tức là khả năng cưỡng chế của pháp luật đối với các đương sự có sự ràng buộc, thậm chí là bên thứ ba trong hợp đồng. Có thể chia thành sự ràng buộc giữa các bên đương sự và sự ràng buộc đối với bên thứ ba.
Sự ràng buộc của hợp đồng đối với các bên đương sự bao gồm:
+Nghĩa vụ thực hiện hợp đồng của các đương sự
+Bên vi phạm hợp đồng phải chịu trách nhiệm vi phạm theo hợp đồng
+Các bên đương sự không được tự ý thay đổi hay hủy hợp đồng, không thể tự ý chuyển nhượng quyền và nghĩa vụ của hợp đồng
+Đương sự có quyền lợi yêu cầu, trao đổi, quyền xử lý nợ
Hợp đông có hiệu lực đối với bên thứ ba, trong những trường hợp thông thường nó được thể hiện là bất kỳ một bên thứ ba nào cũng không được xâm hại quyền trong hợp đồng. Khi người có quyền trong hợp đồng tự hủy bỏ quyền hay ủy quyền cho bên thứ ba khi đó mới xác lập hiệu lực thực hiện hợp đồng cho bên thứ ba hay do bên thứ ba thực hiện.
2./Các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành
Hợp đồng dân sự là một loại giao dịch dân sự nên muốn có hiệu lực, hợp đồng dân sự phải đáp ứng được các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự đã được quy định tại điều 122 BLDS năm 2005. Theo quy định trên, thì các hợp đồng dân sự được coi là có hiệu lực khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây:
-Điều kiện về chủ thể
-Điều kiện về mục đích và nội dung
-Điều kiện về ý chí của chủ thể
-Điều kiện về hình thức
a./Người tham gia giao dịch trong hợp đồng dân sự có năng lực hành vi dân sự
Chủ thể của hợp đồng là những người tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, có quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng và phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng đó. Để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng, các hệ thống pháp luật đều quy định chủ thể phải có năng lực chủ thể nhất định. Theo đó, yêu cầu chủ thể tham gia hợp đồng “có năng lực hành vi dân sự” là một trong những điều kiện tiên quyết để hợp đồng có hiệu lực. Chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng bao gồm các cá nhân, pháp nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác, mặt khác năng lực hành vi dân sự để tham gia xác lập, thực hiện hợp đồng của các chủ thể khác nhau là không giống nhau
*Đối với cá nhân: Tư cách chủ thể của cá nhân khi tham gia hợp đồng phụ thuộc vào mức độ năng lực hành vi dân sự của họ
-Đối với người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ: Đó là những người từ đủ 18 tuổi trở lên, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, không bị mất năng lực hành vi dân sự. Người có năng lực hành vi dân sự dầy đủ có toàn quyền trong việc xác lập, thực hiện các hợp đồng dân sự.
-Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi: Khoản 2 điều 20 BLDS năm 2005 quy định: “Trong trường hợp người từ đủ 18 tuổi có tài sản riêng bảo đảm thực hiện nghĩa vụ thì có thể tự mình xác lâp, thực hiện hợp đồng dân sự mà không cần có sự đồng ý của người thay mặt theo pháp luật, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác ’’. Như vậy, nếu pháp luật có quy định khác thì giao dịch dân sự của người đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi ( mặc dù người này có tài sản riêng đủ để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ ) phải được sự đồng ý của người thay mặt theo pháp luật.
Ngoài ra, nếu phjaps luật quy định với các giao dịch dân sự liên quan đến người chưa thành niên từ đủ 15 tuổi đến dưới 18 tuổi (mặc dù có người đại diện) buộc phải được sự đồng ý bằng văn bản của người này thì hợp đồng cũng phải đáp ứng quy định này. Chẳng hạn, khoản 2 điều 109 BLDS năm 2005 quy định: “Việc định đoạt tài sản là tư liệu sản xuất, tài sản chung có giá trị lớn của hộ gia đình phải được các thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng ý; đối với các loại tài sản chung khác phải được đa số thành viên từ đủ 15 tuổi trở lên đồng”.
-Đối với người có năng lực hành vi dân sự một phần từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi, người bị tòa án ra quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự: Người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi được xác định là những người mà sự nhận thức và làm chủ hành vi của mình chưa được đầy đủ, do đó họ có thể có những hạn chế nhất định. Vì lẽ đó, trên cơ sở quy định tại điều 20 BLDS, chúng ta thấy rằng người từ đủ 6 tuổi đến dưới 15 tuổi khi xác lập, thực hiện hợp đồng dân sự phải được người thay mặt theo pháp luật đồng ý, trừ các giao dịch nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt hàng ngày phù hợp với lứa tuổi.
-Đối với người dưới 6 tu