TRƯỜNG ĐẠI HỌC CẦN THƠ
KHOA LUẬT
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
Đề tài:
BẠO LỰC GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI PHỤ NỮ Ở VIỆT NAM
THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP
Giảng viên hướng dẫn
Huỳnh Thị Trúc Giang
Sinh viên thực hiện
Phan Văn Hậu
MSSV: 5062395
Lớp Tư pháp 3-k32
Cần Thơ, tháng 04 năm 2010
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
LỜI MỞ ĐẦU
Bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình không phải là vấn đề mới mẻ mà là
hiện tượng có tính lịch sử và tương đối phổ biến trên thế giới. Điều đó đã và đang
xảy ra ở mọi dân tộc, quốc gia, và trong các gia đình thuộc mọi tầng lớp xã hội khác
nhau. Trong quá khứ và thậm chí hiện tại ở một số quốc gia trên thế giới, hành vi
ngược đãi như đánh đập, mắng chửi và trừng phạt hà khắc về tinh thần hay thể xác
lực gia đình đối với phụ nữ hiện nay. Liệu tình trạng bạo hành gia đình có thực sự
1
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
phổ biến hay chỉ là một số trường hợp cá biệt được truyền bá qua các phương tiện
thông tin đại chúng hay thu thập từ những nghiên cứu định tính.
- Tìm hiểu về cơ chế phòng chống bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay. Đánh
giá vai trò của chính quyền, đoàn thể và cộng đồng đối với việc ngăn chặn và giải
quyết nạn bạo lực chống lại người phụ nữ trong gia đình.
Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài này, tác giả xin trình bày một phần nhỏ
trong vấn đề “bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam” trong phạm vi
lãnh thổ đất nước Việt Nam nhằm tìm hiểu một cách khái quát tình hình bạo lực gia
đình ở nước ta hiện nay và đưa ra những kiến nghị và giải pháp cho các cơ quan
chức năng giải quyết đồng thời thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Luận văn được phân tích và nghiên cứu dựa trên phương pháp sau:
Phương pháp luận và khung lý thuyết.
Phương pháp chọn mẫu và thu thập số liệu.
Phương pháp phân tích luật viết.
Phương pháp so sánh và thống kê.
Kết hợp giữa lý luận và thực tiễn để giải quyết vấn đề bạo lực trong gia đình
ở nước ta hiện nay.
Cơ cấu đề tài gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về bạo lực gia đình.
- Chương 2: Quy chế pháp lý về bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt
Nam
như những nghiên cứu khác có liên quan. Theo khái niệm của Liên hiệp quốc trong
tuyên ngôn về chống bạo lực đối với phụ nữ năm 19932 thì các hành vi bạo lực
chống lại phụ nữ là “bất kỳ hành động bạo lực trên cơ sở nào dẫn đến hoặc có thể
dẫn đến những tổn thất về thân thể, tâm lý hay tình dục hay những đau khổ của phụ
nữ, bao gồm cả sự đe dọa có những hành vi như vậy, việc cưỡng bức hay tước đoạt
sự tự do, dù ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư” (Unitednations, 1995).
Khái niệm trên của Liên hiệp quốc được các tổ chức cũng như các nhà khoa học
trên thế giới chấp nhận rộng rãi, tuy nhiên hiếm có công trình nghiên cứu nào có thể
tìm hiểu đầy đủ mọi hình thức của bạo lực được bao hàm trong khái niệm này.
Không rộng và bao quát như quy định của Liên hiệp quốc, Luật Việt Nam quy
định về vấn nạn bạo lực gia đình một cách rõ ràng và cụ thể hơn, nhưng khái niệm
bạo lực gia đình vẫn còn mới so với cách hiểu thông thường của người dân. Theo
1
kết quả nghiên cứu tại Thái Bình, Lạng Sơn và Tiền Giang của Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, Trung tâm
nghiên cứu thị trường và phát triển
2
Tuyên bố chống bạo lực đối với phụ nữ được Đại Hội Đồng Liên hiệp quốc (LHQ) thông qua tháng
12/1993. http://www.vjol.info.vn/index.php/fgs/article/view/745 (8 giờ 2/3/2010)
3
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình quy định: “Bạo lực gia đình là
b. Cha mẹ bạo hành đối với con cái và ngược lại.
3
Điều 151 - Tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng
mình
“Người nào ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu hoặc người có công nuôi dưỡng
mình gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt
cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm”.
4
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
c. Giữa các thành viên trong gia đình.
d. Nếu các hành vi bạo hành gây ra những hậu quả nghiêm trọng về thể chất
hoặc tinh thần thì có thể là hành vi vi phạm pháp luật hình sự.
Nạn nhân của bạo lực gia đình có thể là phụ nữ hoặc trẻ em ở mọi lứa tuổi.
Đồng thời, đối tượng thực hiện hành vi bạo lực có thể là bất cứ thành viên trưởng
thành nào của gia đình như chồng, cha mẹ hay anh chị em. Tuy nhiên đối tượng
nghiên cứu chủ yếu của cuộc nghiên cứu này chỉ là những phụ nữ đã từng kết hôn
hoặc chưa kết hôn nhưng chung sống với nhau như vợ chồng trước thời điểm Luật
hôn nhân và gia đình 2000 có hiệu lực.
1.1.3. Các hình thức của bạo lực gia đình
Bạo lực về thể chất
Phụ nữ là một nửa của bầu trời, nhưng trên thực tế, một nửa bầu trời của thế
giới đã và đang tồn tại không phẳng lặng do những ám ảnh và nỗi đau mà bạo lực
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Có lần chị bị chồng đánh một trận dã man vì tự ý đem cho người em 100.000 đồng
khi em bị tai nạn4.
Trường hợp của chị M chỉ là một trong những vô vàn cảnh phụ nữ phải cam
chịu bị lạo lực trong gia đình. Cho đến hiện nay nhiều người còn nhận thức lệch lạc
sai lầm về bạo lực gia đình, họ cho rằng chỉ những hành vi đánh đập đến mức
không thể chất nhận được thì mới gọi là bạo lực. “Tôi đã hỏi nhiều ông chồng rằng
trong gia đình anh ta có xảy ra bạo lực không Anh ta nói không, Tôi hỏi anh ta có
tát vợ không, Anh ta nói cũng thi thoảng”- bà Hòa nói (Bà Nguyễn Thị Thanh Hoà Phó Chủ tịch Hội Liên hiệp phụ nữ VN). Trên thực tế, còn quá nhiều người mơ hồ
về khái niệm “bạo lực gia đình”. Trong xã hội đã từng một thời gian dài bị ảnh
hưởng bởi tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, việc chồng “dạy” vợ là lẽ thường tình
khiến nạn bạo lực càng có cơ hội để hoành hành. Thêm vào đó, nhiều khi người bị
bạo lực không ý thức được quyền lợi của mình nên cứ tiếp tục cam chịu. Còn người
gây ra bạo lực thì không nhận thức được hành vi sai trái của mình, nên cứ “hồn
nhiên” vi phạm pháp luật.
Đi song song với bạo lực thể chất là bạo lực về tình dục đây là một khái niệm
mới trong xã hội và trong cách hiểu của người dân. Trong quan niệm của nhiều
người, chỉ những trường hợp bị thương tích nặng, bị đánh đập, bị ép quan hệ cho
đến khi kiệt sức mà chết... mới được xem là hành vi bạo lực. Thực tế là có nhiều
phụ nữ khi được hỏi cho biết mình không hề có khoái cảm khi quan hệ mà việc ân
ái chỉ là "phục vụ" chồng. Họ không hề biết rằng đây cũng được xem là hành vi bạo
lực tình dục. Về vấn đề này, bà Nguyễn Vân Anh, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu
ứng dụng khoa học về giới, gia đình, phụ nữ và trẻ em cũng cho biết, việc nhiều chị
em chấp nhận hành vi bạo lực còn là do quan niệm phong kiến vẫn còn ăn sâu trong
tâm trí. Đó là quan niệm chồng là chủ gia đình, có quyền trong chuyện tình dục và
phụ nữ thường bị động. Vì thế nam giới thường cho mình cái quyền được đòi hỏi
quan hệ với vợ theo nhu cầu của mình, không quan tâm đến cảm xúc, sức khỏe của
vợ.
Ví dụ: trường hợp của chị Hà (26 tuổi, Hà Nội) là một điển hình. Chồng chị
vốn bị bệnh tim và hen, quanh năm phải uống thuốc nên rất yếu, vì thế việc quan hệ
các chuẩn mực xã hội về giới và tình dục, và từ đó thay đổi nhận thức, thái độ, hành
vi của người dân. Nâng cao kiến thức và hiểu biết của người dân về các vấn đề giới,
tình dục và bạo lực gia đình. Với quan niệm của người Á Đông, nhất là người Việt
Nam không ai mang chuyện "phòng the" ra trước ánh sang nhưng từ ví dự trên
chúng ta cũng phải nhìn nhận lại vấn đề bạo lực tình dục đối với phụ nữ hiện nay.
Cũng có trường hợp bạo lực thể chất gián tiếp: Cha mẹ không trực tiếp gây ra
tổn thương thể xác cho con nhưng họ là những người gián tiếp khi bắt con cái (chưa
thành niên) phải bán sức lao động để phụ giúp kinh tế gia đình (trường hợp này
thường xảy ra trong các gia đình hiện nay nhất là những gia đình có nền kinh tế khó
khăn).
Bạo lực về tinh thần
Không một cái tát, không một cú đấm... nhưng rất nhiều người vợ đã bị những
vết thương lòng sâu hoắm, mãi mãi không lành. Với phụ nữ, bạo hành tinh thần do
người chồng thương yêu gây ra còn dữ dội hơn cả nỗi đau thể xác.
Có thể định nhĩa bạo lực về tinh thần như sau: “là những hành vi gây tổn
thương về mặt tinh thần cho những người trong gia đình”. Bạo lực tinh thần không
chỉ là chửi mắng, sử dụng ngôn ngữ để xúc phạm nhân phẩm người khác mà nó còn
bộc lộ ở nhiều hành vi khác như: cấm đoán, cô lập không cho tiếp xúc với người
khác; quấy rối và gây áp lực một cách thường xuyên về tâm lý... Dạng bạo lực này
khá phổ biến nhưng thường những người gây ra không ý thức được những thương
tổn mà họ đã gây ra cho những ngày thân.
Ví dụ: Tú Lam là giám đốc một công ty Hàn Quốc xinh đẹp, khéo léo. Chồng
cô cũng là giám đốc một công ty liên doanh, thu nhập ngất trời. Cứ tưởng hạnh
phúc tràn ngập trong ngôi biệt thự của hai vợ chồng và hai cậu con trai. Thế nhưng
gần tám năm chung sống, điều Lam đau khổ nhất là mối quan hệ với chồng. Bình
thường chồng Lam rất thương vợ, thương con. Nhưng mỗi khi không vừa lòng vợ
7
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
Bạo lực về kinh tế
Bạo lực về kinh tế đang diễn ra khá phổ biến ở các thành phố lớn do hình thức
này thường ít bị phát hiện và ít được công luận biết đến. Hầu hết phụ nữ bị ngược
đãi đều âm thầm chịu đựng bởi xấu hổ với bà con lối phố và vẫn muốn giữ sĩ diện
cho chồng.
Bạo lực về kinh tế gồm các hành động hoặc quyết tâm thực hiện các hành
động để phụ nữ thuộc về tài chính, bao gồm các hành vi sau: ngừng hỗ trợ về tài
chính và ngăn cản nạn nhân có một nghề nghiệp, công việc hợp pháp; tước đoạt hay
6
http://vietbao.vn/Doi-song-Gia-dinh/Vet-bam-trong-tim/40232044/246/ (3/3/2010)
8
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
đe doạ tước đoạt các nguồn tài chính về quyền sử dụng, thừa hưởng của vợ, chồng,
cộng đồng và quyền sở hữu tài sản nói chung; phá huỷ tài sản trong gia đình…
Ví dụ: Ngày 22/12, VKS TP Buôn Ma Thuột (Đắk Lắk) đã phê chuẩn quyết
định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và lệnh bắt tạm giam đối với Võ Văn Cương (33
tuổi, trú tại phường Tự An, TP Buôn Ma Thuột, Đắk Lắk) về tội "Cố ý gây thương
tích". Theo đơn tố cáo của chị Phan My Thoại Vy (vợ Cương), Cương thường
xuyên đối xử thô bạo với chị. Cuối tháng 10/2009, Cương đã hành hung gây thương
tích cho chị Vy ở mặt, lưng, đùi… Vì muốn giữ cho gia đình yên ấm nên chị Vy đã
im lặng. Ngày 20/11, chị Vy xin Cương ít tiền để mua quà cho con tặng thầy cô.
9
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Điều này đặt họ vào nguy cơ bị bạo lực. Ngoài ra sự hạn chế quyền kiểm soát
các nguồn lực kinh tế của phụ nữ, như thu nhập của gia đình, có thể gây ra bạo lực
gia đình với phụ nữ. Sự độc lập về kinh tế không bảo vệ phụ nữ khỏi bị bạo lực,
nhưng sự tiếp cận với các nguồn lực kinh tế có thể tăng cường khả năng có được
những lựa chọn đúng đắn của phụ nữ, bao gồm sự thoát khỏi tình trạng bị bạo lực
và tiếp cận với các cơ chế bảo vệ, bồi thường và tranh giành quyền lợi của phụ nữ.
Kinh tế của phụ nữ trong gia đình và khả năng xảy ra bạo lực
Vị thế của các cá nhân trong gia đình phụ thuộc nhiều vào vai trò kinh tế của
họ. Đối với phụ nữ, việc đóng góp vào thu nhập chung có lẽ lại càng quan trọng bởi
đó là cơ hội để người vợ quyết định vai trò và nâng cao địa vị của họ trong gia đình.
Khi là người đem lại thu nhập chính cho gia đình, phụ nữ thường có quyền tự chủ
hơn trong hoạt động kinh tế, trong hoạt động xã hội cũng như những quyết định
quan trọng khác trong gia đình và do đó, theo suy luận logic thông thường họ phải
được chồng tôn trọng hơn và bạo lực gia đình sẽ ít có khả năng xảy ra hơn.
Bảng 01. Tình trạng bất đồng ý kiến và sự khác biệt về sự thu nhập của vợ chồng (%)
Nữ
Ngang
nhau
Vợ hơn
Nam và Nữ
46.0
23.6
32.4
50.1
29.9
Hiếm khi
16.6
13.9
20.0
13.8
18.8
16.4
Không bao giờ
50.7
38.5
66.4
69.9
60.2
Nuôi dạy con cái
37.1
21.9
33.6
38.9
36.7
35.0
Đối xử với bố mẹ họ hàng
1.9
.0
2.7
2.0
19.2
(Số liệu từ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trung tâm nghiên cứu và phát triển
2000).
Tuy nhiên, số liệu thu được từ cuộc khảo sát lại cho thấy: vợ có vai trò kinh tế
cao hơn chồng lại có nhiều khả năng làm nảy sinh bất đồng – một trong những điều
kiện có thể dẫn đến bạo lực trong gia đình (Bảng 01) .Tỷ lệ gia đình có bất đồng ý
kiến khi vợ có thu nhập cao hơn chồng khoảng 72% lớn hơn hẳn so với những gia
đình có chồng có thu nhập cao hơn (47%) hay ngang nhau (49%).
Phải chăng khi người phụ nữ đã hoặc đang có đóng góp kinh tế lớn hơn thì
cũng là lúc sự phân công về vai trò, trách nhiệm trong gia đình theo kiểu truyền
10
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
thống đã bắt đầu bị phá vỡ. Trong quá khứ người phụ nữ có thể đóng gớp nhiều
công sức lao động cho hoạt động kinh tế gia đình nhưng thường là dưới sự quản lý
của người chồng hoặc phụ thuộc nhiều vào gia đình nhà chồng. Trong thời gian đất
nước trải qua 30 năm chiến tranh liên miên từ 1945 đến 1975, không ít phụ nữ đã
từng làm chủ gia đình cũng như mọi hoạt động kinh tế khi người chồng vắng nhà do
tham gia quân đội. Sau khi đất nước thống nhất cho đến khi nhà nước ta tiến hành
chính sách đổi mới, thu nhập của vợ và chồng thường không nhiều sự khác biệt và
không ảnh hưởng nhiều đến địa vị của người chồng trong gia đình mà hầu hết mọi
công việc, mức lương đã được bao cấp (trong cơ quan, xí nghiệp) hoặc bình quân
LV
Nông
nghiệp
Phi
NN
Không
LV
Nông
nghiệp
Phi
NN
Không
LV
44.6
40.9
64.0
45.9
39.7
.0
.4
.0
2.2
.0
.0
1.0
.2
.0
Ném bằng bất cứ vật
gì
.6
.3
.0
.9
.6
4.0
1.7
.0
2.6
4.3
.0
3.3
2.9
3.2
Cấm đoán quan hệ với
mọi người
4.6
2.5
4.1
5.6
Tát
7.5
6.4
15.8
7.0
7.5
19.7
7.3
6.9
17.6
con trai
Số liệu từ Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, trung tâm nghiên cứu và phát triển 2000.
11
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
trong luật pháp và cơ chế chính trị. Nó cũng ngấm vào các hệ tư tưởng và các bài
thuyết trình trước công chúng. Chế độ gia trưởng hạn chế sự lựa chọn của phụ nữ
nhưng không bù đắp lại những thiệt thòi này của họ, như được chứng minh bằng sự
tồn tại của các phong trào của phụ nữ và những thành công trong việc đòi quyền của
phụ nữ do chính phụ nữ tự thực hiện. Do sự nhận thức lệch lạc về quan niệm gia
đình, phần lớn cũng do ảnh hưởng của nền văn hóa giáo dục Á Đông nên những
người đàn ông luôn coi mình là gia trưởng - người trụ cột của gia đình, họ luôn cho
mình là người có những quyền hạn đối với vợ con, những người phụ thuộc họ. Họ
12
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
luôn quên rằng họ đang sống trong một xã hội công nhận sự bình đẳng giữa nam và
nữ.
Phong tục tập quán
Trong khi một vài phong tục, tập quán văn hoá trao quyền cho phụ nữ và tăng
cường các quyền con người của phụ nữ thì có những phong tục, giá trị tôn giáo và
các truyền thống lại được sử dụng để bào chữa cho các hành vi bạo lực đối với phụ
nữ. Các phong tục được xem là yếu tố gây ra bạo lực với phụ nữ, bao gồm các tín
ngưỡng liên quan đến các hủ tục truyền thống có hại (như tảo hôn, thích con trai).
Tuy nhiên, những yếu tố văn hoá gây ra các hình thức bạo lực khác với phụ nữ
không được xem xét một cách tương xứng, bởi vì những quan niệm hẹp về những
yếu tố tạo nên văn hoá dẫn đến bạo lực đối với phụ nữ. Văn hoá được hình thành từ
các giá trị, các tập quán và những mối quan hệ quyền lực đan xen lẫn nhau trong
cuộc sống hàng ngày của các cá nhân và trong cộng đồng của họ. Trong mọi xã hội,
Bảng 03. Hành vi chấp nhận được trong gia đình/học vấn người trả lời (%).
Nữ
Nam
TH
THCS
THPT
Mắng chửi
40.9
45.9
Xỉ vả
7.6
3.0
Tát
4.6
Đấm, đá
Chung
8.3
1.5
9.2
5.6
2.7
10.6
6.4
4.1
11.9
6.1
4.4
12.2
6.3
.0
.9
.5
.2
Ném bằng bất cứ vật gì
1.6
.0
.4
2.9
.5
.0
2.1
.0
.2
Bỏ lửng
18.7
8.5
4.9
1.8
2.6
Cấm đoán quan hệ với
5.3
1.9
5.3
9.0
3.6
3.0
6.9
2.7
4.2
3.
1.1
nước ta hiện nay mà nguyên nhân do môi trường sống xung quanh tác động nên.
Khi nói về vấn nạn đánh vợ ở làng ở phố Kim Liên, phường Hoà Hiệp Bắc, quận
Liên Chiểu, Đà Nẵng. Phó Công an phường Hoà Hiệp Bắc, Trung tá Nguyễn Thanh
Mạnh “tỉnh bơ” khi nói về chuyện kinh động vừa xảy ra tại phường sở tại: “Thật
tình anh em công an phường hơi chủ quan trong phương án giải cứu con tin. Không
ai dự lường những diễn biến bất ngờ, phức tạp của vụ việc. Bởi chuyện đánh vợ,
gây rối an ninh trật tự tại phường này xảy ra như cơm bữa thường ngày. Trung
bình mỗi ngày vài ba vụ”. Ví dụ trên chỉ là một trong những ví dụ điển hình của sự
ảnh hưởng môi trường sống đên bạo lực trong gia đình ở nước ta hiện nay
Tuy nhiên yếu tố môi trường sống chỉ là một trong những nguyên nhân dẫn
đến bạo lực gia đình. Có thể kết luận rằng không có một nguyên nhân đơn lẻ nào
chịu trách nhiệm hoàn toàn cho việc xảy ra bạo lực với phụ nữ. Loại bạo lực này
14
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
sinh ra từ sự hội tụ của nhiều yếu tố cụ thể trong một bối cảnh rộng lớn của sự bất
bình đẳng về quyền lực ở cấp độ cá nhân, nhóm, quốc gia và toàn cầu.
Phương tiện thông tin
Các phương tiện truyền thông kỹ thuật số hôm nay mở ra nhiều loại hoạt động
hấp dẫn, cuốn hút mọi người nói chung và giới trẻ nói riêng hơn bao giờ hết, và tạo
ra nơi họ hàng loạt những nhu cầu mới mà các thế hệ trước đây không tưởng tượng
nổi. Bên cạnh những tiện ích của công nghệ thông tin là sự du nhập của các loại
hình văn hóa khác. Tạo điều kiện cho tự do ngôn luận, những cảnh phim bạo lực tạo
tiền đề cho mọi người làm theo cảnh trong phim. Sự ảnh hưởng của cộng nghệ
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
đề thúc đẩy mâu thuẫn gia đình ngày càng nghiêm trọng hơn. Khi mâu thuẫn lên
đến cao trào, những lời nói trở nên vô nghĩa thì người ta lại dùng đến biện pháp tay
chân và bạo lực gia đình lại xẩy ra. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến mâu thuẫn trong
gia đình như: bất đồng ý kiến giữa các thành viên trong gia đình, trong việc nuôi
dạy con cái, thói quen trong gia đình, sự phân công công việc … Mâu thuẫn trong
gia đình là một trong những nguyên nhân chính gây ra bạo lực gia đình.
Bất bình đẳng trong công việc
Một nguyên nhân dẫn đến nạn bạo lực gia đình là hiện nay vẫn còn tồn tại sự
bất bình đẳng trong phân công công việc, người phụ nữ phải đảm đương, quán
xuyến quá nhiều việc, họ vừa phải làm tròn công việc xã hội trong khi vẫn phải
hoàn thành tốt thiên chức của người vợ, người mẹ trong gia đình. Áp lực công việc
làm cho người vợ cảm thấy mệt mỏi trong cuộc sống.
Bạo lực gia đình hiện nay không đơn thuần là bạo lực về thể xác, người phụ nữ
phải chịu những trận đòn roi oan nghiệt của chồng, để lại những vết thương trên da
thịt. Đó là cách của kẻ “phàm phu tục tử”. Đối với những ông chồng “học rộng tài
cao” thì lại có cách “dạy vợ” văn minh hơn, kín tiếng nhưng đem lại nổi đau vô
cùng cho những người vợ. Như là bạo hành về tinh thần, chửi bới, lăng mạ, xỉ nhục,
gây ức chế…nó không để lại vết thương trên cơ thể, nhưng lại làm cho người phụ
nữ tê liệt về tinh thần, bị trầm cảm kéo dài, tổn hại nghiêm trọng đến thần kinh và
thể xác.
Trong gia đình truyền thống phụ nữ luôn mang gánh nặng gia đình từ việc
ruộng đồng, nội trợ trong gia đình, làm vợ và thiên chức làm vợ áp lực công việc
làm cho những bà vợ cảm thấy mệt mỏi trong cuộc sống, gánh nặng đó không phải
người đàn ông nào cũng sẵn sàng chia sẻ với vợ. Sự mệt mỏi trong cuộc sống dẫn
hội mà nhiều khi lại được ngộ nhận là sự xuất phát từ sự khác biệt về mặt sinh học
giữa nam và nữ. Vì vậy, chương trình hành động của hội phụ nữ Bắc Kinh đã nhấn
mạnh rằng “bạo lực chống lại phụ nữ là biểu hiện của các quan hệ quyền lực không
bình đẳng mang tính lịch sử về giới, điều đó đã dẫn đến sự thống trị và phân biệt đối
xử của nam giới đối với phụ nữ và ngăn cản sự tiến bộ về mọi mặt của phụ nữ” (UN
1995). Sự ngăn chặn và tiến tới đẩy lùi nạn bạo hành chống lại phụ nữ là mối quan
tâm của tất cả của các quốc gia.
1.2.2. Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam
Có vẻ như mỗi khi nói về thân phận của người phụ nữ trong gia đình, chúng ta
mặc nhiên ngầm định thân phận của họ là thấp, là phụ thuộc vào nam giới và nói
chung, họ là phái yếu. Thực tế cho thấy cách tiếp cận đó rất đúng với khối Nam Á
cũng như Đông Á, còn đối với Đông Nam Á thì đó là câu hỏi còn bỏ ngỏ.
Là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam không chỉ có màu
sắc của khối Đông Á mà còn ảnh hưởng rất mạnh văn hoá của khối Đông Á. Mạnh
đến mức khá nhiều người Việt Nam có học trong quá khứ điều mặc nhiên coi địa vị
phụ nữ trong gia đình Việt Nam là theo mô hình Khổng giáo Trung hoa với than
phận phụ nữ là tam tòng tứ đức.
Cũng theo phân tích của một số nhà nghiên cứu, gia đình truyền thống ở Việt
Nam chịu ảnh hưởng nhiều của Nho giáo. Trải qua hơn một nghìn năm Bắc thuộc
và nhiều thế kỷ sau đó nhất là từ thế kỷ 15 đến thế kỷ 19, “Nho giáo được truyền bá
liên tục, ngày càng thấm sâu vào cuộc sống, càng ảnh hưởng nhiều đến tổ chức gia
đình ở Việt Nam”8. Một trong những đặc trưng của Nho giáo là nó chủ trương
thống nhất khuôn mẫu tổ chức nhà nước, xã hội và gia đình. Tức là trong gia đình
phải có sự phân chia thứ bậc rõ ràng: người đàn ông là chủ gia đình và người vợ là
bề dưới, phải phục tùng người chồng. Tư tưởng trọng nam khinh nữ tồn tại trong
mọi mặt của đời sống gia đình và mang tính nguyên tắc. Người đàn ông dù có là trụ
8
Trần Đinh Hượu 1991, Gia đình truyền thống Việt Nam với ảnh hưởng Nho giáo
thời gian gần đây, người chồng vẫn coi người vợ gần như là vật sở hữu, có khi
không hơn một nô lệ là bao, thì ở Việt Nam vai trò của người vợ trong một số hoạt
động như kinh tế, quản lý ngân quỹ gia đình, giáo dục con cái, thờ cúng tổ tiên…
luôn luôn được ghi nhận.
Thứ ba, gia đình Việt Nam truyền thống cũng liên quan chặt chẽ với cộng
đồng, làng xã và dòng họ. Những chuyện lớn trong mỗi gia đình, chẳng hạn những
chuyện chồng ngược đãi vợ, rất khó có thể tránh khỏi sự giám sát, can thiệp của
hàng xóm hay họ hàng, nhất là người chồng sử dụng bạo lực vô cớ hoặc quá mức
cần thiết. Hơn nữa, bản thân hệ thống pháp lý thời phong kiến Việt Nam, luật nhà
nước hay lệ làng (hương ước), cũng không cho phép người chồng thoải mái đánh
đập vợ. Trong khi người chủ gia đình ở một số xã hội có luật lệ hà khắc có thể tự ý
trừng phạt người phụ nữ mắc “trọng tội” (như ngoại tình chẳng hạn) rất nặng, thậm
chí hành quyết thì ở xã hội Việt Nam truyền thống, thay cho người chủ gia đình,
9
Đỗ Thái Đồng 1991, Gia đình truyền thống và những biến thái ở Nam Bộ Việt Nam
18
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
trường hợp này sẽ được chính quyền hoặc hàng xóm đứng ra xử lý. Cuối cùng,
chính vì bạo lực trong gia đình được cho phép trong trường hợp “cần thiết” và được
gán cho chức năng nghe có vẻ rất hợp lý là “giáo duc” nên không những được xã
hội truyền thống chấp nhận mà bản thân người phụ nữ cũng thường cam chịu hoặc
chấp thuận những hình thức bất bình đẳng khác một cách có hệ thống trước khi
đã khẳng định quyền bình đẳng giữa nam và nữ. Luật Hôn nhân và gia đình năm
1959 đã công nhận sự bình đẳng giữa vợ và chồng, không chấp nhận đa thê. Nhà
19
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
nước ta đã cố gắng tạo điều kiện tối đa để người phụ nữ có địa vị bình đẳng hơn với
nam giới trong gia đình cũng như nầòi xã hội. Trong thời gian này, vai trò của tập
thể được đề cao và có khả năng can thiệp tương đối sâu vào các đời sống các gia
đình. Hành vi ngược đãi với phụ nữ trong gia đình không những bị pháp luật
nghiêm cấm mà còn bị các tổ chức xã hội tích cực lên án nên hiếm khi xảy ra một
cách công khai hoặc có hệ thống như trước. Mặc dù vậy, điều đó không có nghĩa là
bạo lực gia đình có xu hướng bị xóa bỏ bởi “sự bất bình đẳng nam nữ - sản phẩm
lịch sử của các thế độ cũ vẫn âm ỉ và dai dẳng tồn tại. vẵn được bầu không khí bao
quanh che chở và ngầm ủng hộ”.10
10
Vũ Mạnh Lợi 1991, Những nghiên cứu xã hội về gia đình Việt Nam
20
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
2.2. Những quy định về bạo lực gia đình ở Việt Nam
2.2.1. Hiến pháp năm 1992 sửa đổi bổ sung một số điều theo Nghị quyết
51/2001/QH10, ngày 25/12/2001
Hiến pháp là luật mẹ của quốc gia và tất cả các văn bản luật trong nước đều
phải phù hợp với các quy định trong đó. Vì thế khi áp dụng Luật hình sự và Luật
phòng, chống bạo lực gia đình, điều quan trọng là phải mạng tinh thần của những
quy định cơ bản trong Hiến pháp, đặc biệt là các nguyên tắc bình đẳng giới.
21
GVHD: Huỳnh Thị Trúc Giang
SVTH: Phan Văn Hậu
Bạo lực gia đình đối với phụ nữ ở Việt Nam, thực trạng và giải pháp
Trong khi Hiến pháp thừa nhận gia đình là tế bào của xã hội, nó cũng quy định
rằng Chính phủ phải bảo vệ những vấn đề này và có sự bình đẳng giữa vợ và chồng.
Hiến pháp quy định rằng mọi công dân có quyền khiếu nại liên quan đến sự vi phạm
pháp luật của bất kỳ cá nhân nào và cấm sự trả thù đối với người khiếu nại. Những
quy định của hiến pháp đã mang lại sự bình đẳng của mọi công dân, mọi người điều
bình đẳng với nhau. Hiến pháp đã mở ra một bước ngoặc mới cho người phụ nữ
mang lại sự bình đẳng cho người phụ nữ trong gia đình cũng như người xã hội
2.2.2. Luật bình đẳng giới 2006
Sự ra đời Luật Bình đẳng giới đánh giá một bước phát triển mới trong quá
trình đấu tranh thực hiện nam nữ bình quyền. Luật cung cấp một cơ sở pháp lý quan
trong cho cuộc đấu tranh xó bỏ phân biệt đối xử chống lại phụ nữ và mang lại sự
bình đẳng cho người phụ nữ.
Luật này quy định rằng phụ nữ và nam giới bình đẳng với nhau về mọi
phương diện và không ai bị phân biệt đối xử trên cơ sở giới. Việc đối xử không bình
Những hành vi xâm phạm bí mật đời tư của người khác, kể cả vợ chồng, con,
những người trong gia đình điều bị xử lý theo quy định của Điều 38 Bộ Luật Dân
Sự, 2005:
Ðiều 38 - Quyền bí mật đời tư
1. Quyền bí mật đời tư của cá nhân được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ.
2. Việc thu thập, công bố thông tin, tư liệu về đời tư của cá nhân phải được
người đó đồng ý; trong trường hợp người đó đã chết, mất năng lực hành vi
dân sự chưa đủ mười lăm tuổi thì phải được cha, mẹ, vợ, chồng, con đã
thành niên hoặc người đại diện của người đó đồng ý, trừ trường hợp thu
thập, công bố thông tin, tư liệu theo quyết định của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền.
3. Thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử khác của cá
nhân được bảo đảm an toàn và bí mật.
Việc kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các hình thức thông tin điện tử
khác của cá quan nhà nước có thẩm quyền.
Quyền được bảo vệ danh dự và nhân phẩm quy định tại Điều 37 Bộ luật Dân
sự 2005: “Danh dự, nhân phẩm, uy tín của cá nhân được tôn trọng và được
pháp luật bảo vệ”.
2.2.5. Bộ Luật hình sự 1999
Bộ luật hình sự quy định một số hành vi phạm tội liên quan đến bạo lực đối
với phụ nữ. Các hành vi cố ý gây thương tích nói chung hoặc hành vi hành hung có
thể bị áp dụng đối với trường hợp bạo lực với người lạ hoặc người thân trong gia
đình.
Hai hành vi phạm tội phổ biến nhất có thể cơ quan chức năng áp dụng xử lý về
bạo lực đối với phụ nữ là:
Điều 104: Tội cố ý gây thương tích hoặc
gây tổn hại cho sức khỏe của người
khác.
Có 4 mức độ thương tích được coi là tội
phạm:
Tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên
hoặc dẫn đến chết người hoặc từ 31% đến
60%, nhưng thuộc một trong các trường
hợp quy định ở trên.
hành vi vi phạm nghĩa vụ cung cấp thức ăn,
quần áo, nơi ở hằng ngày đối với người
trong gia đình, “Gây hậu quả nghiêm trọng”
là gây đau khổ về tinh thần, tổn thương
danh dự, gây thương tích tổn hại cho sức
khỏe.
Lưu ý:
Khi khởi tố vụ án hình sự phải có yêu Lưu ý:
cầu của nạn nhân đối với trường hợp Không cần sự đồng ý của nạn nhân.
thương tích dưới 31%.
Khi tỷ lệ thương tích bằng hoặc trên
31% cảnh sát và kiểm sát viên có thể khởi
tố vụ án mà không cần sự đồng ý của nạn
Không cần chứng nhận tỷ lệ thương tật.
Thường bao hàm 1 hành vi độc lập của
sự hành hạ gây nên hậu quả nghiêm trọng.
Thường bao gồm 1 loạt hành động lập
nhân.
Cảnh sát và kiểm sát viên không cần
cân nhắc đến lý do của bạo lực đối với
người vợ như: nói nhiều; lười hoặc ghen
tuông như là tình tiết gây nên trạng thái