Báo cáo " Bạo lực gia đình đối với phụ nữ - nhìn từ góc độ pháp lý " - Pdf 11



nghiên cứu - trao đổi
Đặc san về bình đẳng giới 3

ThS. Nguyễn thị thanh hải *
o lc gia ỡnh l mt hỡnh thc phõn
bit i x vi ph n din ra hu
khp cỏc khu vc, quc gia, nn vn hoỏ
v cỏc tụn giỏo khỏc nhau trờn th gii.
Theo thng kờ ca T chc y t th
gii thỡ cú ti 52% ph n trờn th gii ó
tng l nn nhõn ca bo lc th cht t
phớa ngi chng hoc bn trai ca mỡnh.
(1)

chõu , do nhng c im v tụn giỏo
v s tn ti ca tp tc truyn thng v
ch gia trng nờn tỡnh trng bo lc
gia ỡnh c coi l khỏ nghiờm trng.
Theo bỏo cỏo ca UNFPA nm 1999, 40%
ph n ti mt s quc gia trong khu vc
chõu ó tng b nam gii ỏnh p ớt
nht mt ln, cha k n cỏc hỡnh thc
bo lc v tinh thn, tỡnh cm v tỡnh
dc.
(2)
Nht Bn cú ti 59% trong s 796

y v khỏi nim bo lc i vi ph
n. Tuyờn b nờu rừ: Bo lc i vi ph
n cú ngha l mi hnh vi bo lc trờn c
s gii tớnh dn n hoc cú th dn n
s xõm hi v th cht, tỡnh dc hoc tõm
lý hoc s au kh cho ph n, k c vic
e do cú nhng hnh vi nh vy, vic
cng ot hoc tc ot vụ c t do ca
ph n, cho dự din ra trong i sng cụng
cng hoc i sng riờng t.
(6)
Theo nh
ngha ny thỡ bo lc gia ỡnh cú ni hm
hp hn khỏi nim bo lc i vi ph
n" hay bo lc trờn c s gii vỡ nú ch
bao gm cỏc hnh vi xõm hi ph n din
ra trong khuụn kh gia ỡnh.
Bo lc gia ỡnh hiu theo ngha rng
l bt k hnh vi bo lc hay e do cú
hnh vi bo lc no xy ra gia cỏc thnh
viờn trong mt gia ỡnh (bao gm c cha
m, con cỏi, ụng b v nhiu khi c ngi
B

* Trung tõm nghiờn cu quyn con ngi
H
c vin chớnh tr quc gia H Chớ Minh

xem xét từ phạm vi rộng như vậy nhưng
thông thường khái niệm này được sử dụng
nhiều hơn trong các trường hợp bạo lực
gây ra giữa phụ nữ với người có quan hệ
gắn gó, gần gũi như chồng hoặc bạn trai.
Ở Việt Nam, thuật ngữ “bạo lực gia
đình” hay “bạo hành trong gia đình” mới
được sử dụng trên các báo, tạp chí và các
công trình nghiên cứu trong những năm
gần đây. Tuy nhiên, thuật ngữ này chủ yếu
mới chỉ áp dụng đối với các hành vi
ngược đãi về thể chất có tính nghiêm trọng
mà chưa quan tâm nhiều đến các hành vi
bạo lực tình dục và bạo lực tinh thần trong
gia đình.
2. Bạo lực gia đình - vấn đề quan tâm
của luật quốc tế về quyền con người
Trong lịch sử phong trào nữ quyền, các
làn sóng đấu tranh nhằm đảm bảo quyền
bình đẳng cho phụ nữ trước đây chủ yếu
hướng tới mục tiêu ghi nhận các quyền về
chính trị, xã hội cho phụ nữ mà chưa có sự
quan tâm thích đáng đến địa vị bình đẳng
của họ trong quan hệ hôn nhân gia đình.
Thuật ngữ “bạo lực gia đình” lần đầu
tiên được sử dụng trong Báo cáo của Hội
nghị phụ nữ quốc tế năm 1980 tại
Copenhagen. Báo cáo này kêu gọi: “Cần
phải ban hành và thực hiện luật pháp về
ngăn ngừa bạo lực trong gia đình và bạo

Kể từ sau Hội nghị Nairobi, nhiều hoạt
động thúc đẩy bình đẳng giới đã được tiến
hành, đáng kể là chiến dịch toàn cầu về
quyền con người và chống nạn bạo lực đối
với phụ nữ. Năm 1993, Hội nghị quốc tế về
quyền con người tại Viene đã thông qua
khẩu hiệu “quyền phụ nữ là quyền con
người” và nhấn mạnh “tầm quan trọng của
việc phấn đấu loại trừ bạo lực đối với phụ
nữ trong đời sống riêng cũng như công”.
(11)

Nhờ những nỗ lực tích cực của nhiều tổ
chức, cơ quan quốc tế, của chính phủ và
phi chính phủ mà Tuyên bố về xoá bỏ nạn
bạo lực đối với phụ nữ đã được Liên hợp
quốc thông qua bằng Nghị quyết số 48/104
ngày 20/12/1993. Tuyên bố này ghi nhận
bạo lực đối với phụ nữ (bao gồm bạo lực
diễn ra trong cộng đồng, trong gia đình và
từ phía nhà nước) là biểu hiện của mối
quan hệ bất bình đẳng về quyền lực mang
tính lịch sử giữa phụ nữ và nam giới, là sự
vi phạm các quyền và tự do cơ bản của phụ
nữ và là một trở ngại đối với sự phát triển
đầy đủ của phụ nữ nên các quốc gia cần có
những biện pháp thích hợp, trong đó có
việc nghiên cứu, thống kê, thu thập thông
tin, số liệu về thực trạng bạo lực ở quốc gia
mình để tiến tới xoá bỏ nạn bạo lực này.

Nhờ những nỗ lực tích cực trên mà nạn
bạo lực đối với phụ nữ, trong đó có bạo lực
gia đình không chỉ là vấn đề của tư pháp
hình sự trong mỗi quốc gia mà còn liên
quan đến các chuẩn mực quốc tế về quyền
con người. Mặc dù chưa được đề cập trực
tiếp trong các công ước quốc tế về quyền
con người nhưng hầu hết các văn kiện này
đều có thể áp dụng đối với hành vi bạo lực
gia đình vì rằng nạn bạo lực này là sự vi
phạm, lạm dụng rất nhiều các quyền con
người và tự do cơ bản của phụ nữ. Chẳng
hạn, bạo lực gia đình có thể coi là hình
thức tra tấn đối với phụ nữ, bởi vì cũng
giống như tra tấn, bạo lực gia đình thường
gây nên sự đau đớn về thể chất và tâm lý,
thậm chí đôi khi còn dẫn đến cái chết cho
nạn nhân. Bạo lực gia đình và tra tấn đều
là những hành vi phạm tội có chủ tâm bằng
cách trừng phạt, đe doạ, hay hạ thấp nhân nghiªn cøu - trao ®æi
6 §Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi

cách của người phụ nữ.
(14)
Tương tự như
vậy, các hình thức của nạn bạo lực này
cũng vi phạm các quyền con người khác

biệt là tư tưởng trọng nam khinh nữ, coi
phụ nữ chỉ có địa vị phụ thuộc trong gia
đình. Điều này dẫn đến hậu quả là trong
gia đình, phụ nữ vừa là người lo toan công
việc gia đình, vừa phải lao động kiếm sống
và chăm sóc con cái. Không những thế,
nhiều người trong số họ còn chịu sự đối xử
tệ bạc của chồng và các thành viên khác
trong gia đình nhà chồng cả về mặt thể
chất lẫn tinh thần. Những tư tưởng định
kiến về giới này vẫn tiếp tục tồn tại cho
đến tận ngày nay.
Mặc dù chưa có một nghiên cứu định
lượng cấp quốc gia nhưng các nghiên cứu
định tính đều cho thấy rằng cũng giống
như nhiều quốc gia khác trên thế giới bạo
lực gia đình là hiện tượng khá phổ biến ở
Việt Nam kể cả khu vực nông thôn và
thành thị, trong các gia đình với các cấp độ
thu nhập và trình độ học vấn khác nhau.
(15)

Có một thực tế là, do ảnh hưởng của
một số quan niệm truyền thống tiêu cực
nên ở Việt Nam, trong một chừng mực
nhất định, bạo lực gia đình được gia đình
và cộng đồng chấp nhận, chỉ có những
trường hợp bạo hành gây hậu quả nghiêm
trọng về mặt thể chất thì mới bị coi là bạo
lực. Theo một nghiên cứu nhỏ do Hội liên

kiến, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn
coi việc thúc đẩy địa vị bình đẳng cho phụ
nữ là mục tiêu quan trọng và cơ bản trong
chính sách, pháp luật và các chương trình
phát triển kinh tế, xã hội. Trong hệ thống
pháp luật Việt Nam đã có những quy định
có thể áp dụng để bạo vệ nạn nhân cũng
như trừng phạt kẻ phạm tội. Tính đến nay,
các quyền của phụ nữ đã được bảo vệ
thông qua nhiều văn bản pháp luật khác
nhau trong đó đáng kể là Hiến pháp, Bộ
luật dân sự, Bộ luật hình sự và Luật hôn
nhân gia đình.
Ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên của
Việt Nam năm 1946, phụ nữ đã được coi là
ngang quyền với nam giới trên tất cả mọi
lĩnh vực. Nguyên tắc này tiếp tục được bổ
sung và phát triển trong các hiến pháp sau
này. Hiến pháp năm 1959 quy định “phụ
nữ bình đẳng với nam giới về các mặt sinh
hoạt chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và
gia đình” (Điều 24). Trong Hiến pháp năm
1980 vấn đề phụ nữ và gia đình được ghi
nhận ở cấp độ rộng rãi hơn. Bản Hiến pháp
này dành riêng các điều 63 và 64 để quy
định về các vấn đề liên quan đến phụ nữ và
gia đình. Hiến pháp năm 1992 tiếp tục
khẳng định các quy định trong Hiến pháp
năm 1980 đồng thời nghiêm cấm mọi hành
vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm

luật thì mọi hành vi bạo lực đều bị nghiêm
cấm và xử phạt, tuy nhiên các điều khoản
này là để áp dụng chung cho tất cả các loại
tội phạm và chủ yếu là đối với các tội nghiªn cøu - trao ®æi
8 §Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi

phạm nghiêm trọng và gây tổn hại về thể
chất. Trong khi đó, nạn bạo lực gia đình
đối với phụ nữ còn bao gồm cả những hành
vi bạo lực về tình dục và tinh thần. Việc xử
phạt các loại tội phạm này chủ yếu mới chỉ
chủ yếu mang tính giáo dục và răn đe.
Việt Nam đã có nhiều nỗ lực tích cực
để thực hiện bình đẳng giới và xoá bỏ nạn
bạo hành trong gia đình với phụ nữ. Những
nỗ lực này chứng tỏ Việt Nam đã có cam
kết thực hiện mạnh mẽ hơn các nghĩa vụ
quốc tế được quy định trong Công ước quốc
tế về xoá bỏ nạn phân biệt đối xử với phụ
nữ và nhiều công ước quốc tế về quyền con
người khác mà Việt Nam là thành viên. Để
hưởng ứng sáng kiến của Liên hợp quốc
trong Tuyên bố thiên niên kỷ năm 2000,
Việt Nam đã coi việc giảm sự tổn thương
của phụ nữ đối với nạn bạo lực gia đình là
một trong 4 mục tiêu cơ bản.
(18)

Cuộc đấu tranh để xoá bỏ nạn bạo lực
trong gia đình không phải là công việc dễ
dàng và có thể thực hiện được ngay vì
nhiều hình thức bạo lực gắn với hành vi xã
hội và các tập tục truyền thống. Việc thay
đổi nhận thức và tập quán đòi hỏi phải có
thời gian, vì vậy cần phải xem đây là
nhiệm vụ lâu dài. Để đạt được mục tiêu
bình đẳng giới và xoá bỏ mọi hình thức
phân biệt đối xử với phụ nữ, trong đó có
bạo lực gia đình thì bên cạnh các biện pháp
khác cần phải có sự hỗ trợ của pháp luật.
Việc ban hành luật pháp với những quy
định rõ ràng và chặt chẽ về các khung hình
phạt đối với kẻ phạm tội và phương thức
đền bù đối với người bị hại sẽ là công cụ
hữu hiệu đề ngăn chặn mọi hành vi xâm
hại đến nhân phẩm của người phụ nữ. Hiện
nay, nhiều quốc gia trên thế giới đã có đạo
luật riêng về chống bạo lực gia đình. Chỉ
tính riêng ở các quốc gia Đông Á và Đông
Nam Á, đến nay đã có tới 7 quốc gia thông
qua luật về bạo lực gia đình (Hồng Kông,
Nhật Bản, Malaysia, Hàn Quốc, Singapore,
Đài Loan, Philippine), 5 quốc gia đã hoàn nghiªn cøu - trao ®æi
§Æc san vÒ b×nh ®¼ng giíi 9


tài liệu internet tại: http://www.unhchr.ch/
(8).Xem: Report of the World Conference of the UN
Decade for Women: Equality, Development and
peace, Copenhagen, July 1980, U.N.DOC.
A/CONF.94/35(80.IV.3), khổ .65.
(9). Hilary Charlesworth & Christine Chinkin,
Violence Against Women: A Global Issue, trong sách
của Julie Stubbs (Chủ biên), Women, Male Violence
and The Law, The Institute of Criminology
Monograph Series NO. 6, Sydney 1994, tr.18.

(10).Xem: Report of the World Conference to Review
and Appraise the Achievements of the United Nations
Decade for Women: Equality, Development and
Peace, Nairobi, 15-26 tháng 7, 1985, tài liệu internet
tại:http://www.earthsummit2002.org/toolkits/women/
un-doku/un-conf/narirobi.htm
(11). Tuyên bố Viene và Chương trình hành động,
trong sách “Các văn kiện quốc tế về quyền con người”
Nxb. Chính trị quốc gia, H.1998, tr.119.
(12) . Donna Sullivan, The public/private Distinction
in international human rights law, trong sách của
Julie Peters & Andrea Woldrea Wolper (chủ biên),
Women’s Rights Human Rights 126, 131. Trích theo
Kelly Askin, Dorean M. Koenig (ed), Women and
international human rights law, tập1, Nxb. Ardsley,
N.Y: Transnational, 1998, tr. 250.
(13).Xem: UNHCHR, Reports of the Special
Rapporteur on violence against women to the
Commission on Human Rights and the General


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status