TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======
NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TỈNH VĨNH PHÚC
TỪ 2008 ĐẾN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội
HÀ NỘI, 2015
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
=======***=======
NGUYỄN THỊ KIỀU TRANG
VẤN ĐỀ BẠO LỰC GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI PHỤ NỮ TỈNH VĨNH PHÚC
TỪ 2008 ĐẾN NAY
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Chủ nghĩa xã hội
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học
ThS. Chu Thị Diệp
HÀ NỘI, 2015
công bố trong bất kì một công trình nào khác.
Hà Nội ngày
tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Nguyễn Thị Kiều Trang
DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT
CLB:
Câu lạc bộ
CNH - HĐH:
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
PCBLGĐ:
Phòng chống bạo lực gia đình
TƢ:
Trung ƣơng
UBND:
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO................................................................ 52
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
Quyền con ngƣời đã từng là vấn đề xuyên suốt của các cuộc đấu tranh
giai cấp, đấu tranh dân tộc trong lịch sử. Đến nay nó vẫn là một trong những
vấn đề nổi bật của thời đại.
Vấn đề quyền con ngƣời, trƣớc hết là quyền của mỗi cá nhân, quyền
đƣợc khẳng định mình là một chủ thể với những quyền lợi, nghĩa vụ nhƣ mọi
ngƣời khác. Trong lịch sử loài ngƣời đã từng tồn tại chế độ phụ quyền, trong
đó phụ nữ đã từng bị hạn chế hoặc bị tƣớc đoạt quyền con ngƣời cơ bản. Hiện
nay, phụ nữ chiếm một nửa dân số thế giới, là một lực lƣợng lao động lớn góp
phần rất quan trọng vào việc xây dựng gia đình và phát triển đất nƣớc, thúc
đẩy sự tiến bộ và phồn vinh trên trái đất. Nhƣng trên thực tế, chƣa có một
nƣớc nào mà ở đó phụ nữ thực sự đƣợc hoàn toàn bình đẳng, chị em phụ nữ
luôn luôn phải chịu nhiều thiệt thòi hơn so với nam giới.
Trong điều 24, Hiến pháp nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
năm 1959 có ghi: “Phụ nữ nƣớc Việt Nam dân chủ cộng hòa có quyền bình
đẳng với nam giới về mặt sinh hoạt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia
đình”. Quyền của phụ nữ tiếp tục đƣợc khẳng định trong Hiến Pháp năm
1980, 1992 và tại các kì Đại hội đại biểu toàn quốc.
Trên thực tế, Ngân hàng thế giới tại Việt Nam (1999) khi nghiên cứu về
vấn đề này đã đƣa ra 1 con số đáng lo ngại: Tỷ lệ phụ nữ là nạn nhân của bạo
lực trong gia đình dƣới nhiều hình thức khác nhau chiếm từ 40% đến 80%.
Nó tác động tới khoảng 20% - 50% phụ nữ trên thế giới. Bạo lực trong gia
đình còn để lại những thiệt hại nặng nề về vật chất, tinh thần cho nạn nhân,
những ngƣời xung quanh và cho toàn xã hội.
Cùng với sự tăng trƣởng kinh tế, cuộc sống tinh thần của con ngƣời cũng
ngày càng đƣợc cải thiện, đặc biệt sự bình đẳng về giới, quan hệ vợ chồng
của Đảng có rất nhiều quy định liên quan đến vấn đề này.
2
Gần đây, nhiều cuộc hội thảo đã đi vào khía cạnh khác nhau về vai trò
của phụ nữ, điển hình nhƣ. Trong hai ngày 3 - 4/12/2012, tại TP Đà Nẵng,
Trung ƣơng Hội Nông dân Việt Nam phối hợp với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt
Nam tổ chức Hội thảo “Giải quyết mất cân bằng giới tính khi sinh, chăm sóc
phát triển vai trò ngƣời cao tuổi và phòng, chống bạo lực gia đình”. Hội
thảođã tập trung thảo luận, tìm giải pháp giảm tỷ lệ mất cân bằng giới tính khi
sinh đối với các xã vùng ven biển và đầm phá; hỗ trợ vốn, giải quyết việc làm,
dạy nghề cho phụ nữ.....; chế độ an sinh xã hội cho ngƣời cao tuổi; tăng cƣờng
công tác kiểm tra, giám sát đối với các cơ sở y tế tƣ nhân...
Bên cạnh đó còn có những công trình là sách; những công trình ở các
trung tâm nghiên cứu về phụ nữ và các công trình là báo, tạp chí nhƣ:
Nhóm công trình là sách:
-
Cuốn “Bạo lực gia đình - một sự sai lệch giá trị” của Lê Thị Quý -
Đặng Vũ Cảnh Linh, NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2007. Tác phẩm là
những bài học kinh nghiệm của Việt Nam trình bày về phòng chống bạo
lực gia đình từ ý tƣởng khoa học đến mô hình thử nghiệm, các mô hình
hoạt động ngăn chặn bạo lực gia đình tại địa phƣơng.
- Cuốn “Bình đẳng giới ở Việt Nam” của Trần Thị Vân Anh Nguyễn Hữu Minh (chủ biên), NXB khoa học xã hội, Hà Nội, 2008: Tác
phẩm nghiên cứu cơ bản về giới, gia đình và phụ nữ của Việt Nam; kết hợp
nghiên cứu với đào tạo trong lĩnh vực giới, gia đình và phụ nữ…
- Cuốn “Bình đằng giới trong pháp luật Việt Nam” của Đại sứ quán
Phần Lan Hà Nội và các tác giả khác, NXB Văn hoá thông tin, Hà Nội, 2008:
trong dƣ luận là tình trạng bạo lực gia đình đối với phụ nữ. Đây là một vấn đề
có tính chất phức tạp và đƣợc biểu hiện ở từng vùng miền, địa phƣơng trong cả
nƣớc. Những nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này ở từng địa phƣơng còn ít,
những giải pháp đƣa ra còn chung chung chƣa mang tính khả thi. Vì vậy, việc
tiếp tục có những nghiên cứu về lĩnh vực này là vẫn cần thiết và có ý nghĩa.
3. Phạm vi và đối tƣợng nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu vấn đề: Bạo lực gia đình đối với phụ nữ
trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc từ 2008 đến nay.
4
4. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở những quan điểm lí luận về giải phóng phụ nữ, khóa luận đã
làm rõ thực trạng và đƣa ra giải pháp khắc phục tình trạng bạo lực gia đình đối
với phụ nữ trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình
đẳng nam nữ đáp ứng nhu cầu xây dựng Vĩnh Phúc giàu đẹp, văn minh.
* Nhiệm vụ
Để đạt đƣợc mục tiêu trên, khóa luận tập trung giải quyết những
nhiệm vụ:
- Trình bày hệ thống cơ sở lí luận về vấn đề bình đẳng giới, giải phóng
phụ nữ.
- Làm rõ thực trạng vấn đề bạo lực đối với phụ nữ trong gia đình trên địa
bàn tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đƣa ra những giải pháp chủ yếu nhằm xóa bỏ tình trạng bạo lực đối với
phụ nữ trong gia đình ở tỉnh Vĩnh Phúc.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phƣơng pháp: Lôgic - lịch sử, phân tích - tổng hợp, điều
tra, so sánh... trên cơ sở sử dụng phƣơng pháp luận duy vật biện chứng và
phƣơng pháp luận duy vật lịch sử.
tìm hiểu một số khái niệm cơ bản liên quan đến bạo lực gia đình và bất bình
đẳng giới:
1.1.1. Bình đẳng và bình đẳng giới
* Bình đẳng
- Theo các từ điển
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bình đẳng là sự ngang nhau về quyền lợi và
địa vị” [19;65].
6
Theo từ điển Chủ nghĩa Xã hội khoa học: “Bình đẳng là những điều kiện
và những khả năng ngang nhau đối với việc tự do phát triển năng lực và thoả
mãn các nhu cầu của tất cả các thành viên trong xã hội, địa vị như nhau của
mọi người trong xã hội. Bình đẳng được hiểu khác nhau trong các thời đại
khác nhau” [22;10].
Theo từ điển Triết Học cho rằng: “Bình đẳng là khái niệm nói lên vị trí
như nhau của con người trong xã hội, nhưng lại có một nội dung khác nhau
trong những thời đại lịch sử khác nhau và ở những giai cấp khác nhau…Sự
bình đẳng hoàn toàn chỉ được tạo ra dưới chủ nghĩa cộng sản. Nhưng sự bình
đẳng của cộng sản chủ nghĩa không có nghĩa là một sự san bằng nào đó đối
với tất cả mọi người, mà ngược lại, nó mở ra những khả năng vô hạn cho mỗi
người tự do phát triển những năng lực và nhu cầu của mình, tương xứng với
những phẩm chất và năng khiếu cá nhân”.[2]
Nhƣ vậy, Bình đẳng là sự ngang bằng nhau về các cơ hội hoặc lợi ích đối
với những cá nhân khác nhau trong một nhóm hoặc nhiều nhóm xã hội.
- Bình đẳng giới
Bình đẳng giới hay nói cách khác chính là bình đẳng nam nữ. Đó là ƣớc
mơ, cũng chính là mục tiêu của nhiều quốc gia trong quá trình phát triển. Mỗi
chúng ta đều biết, phụ nữ chiếm gần nửa dân số thế giới. Trong lịch sử đấu
Theo Giáo sƣ Lê Thi: “Những khác biệt về giới (sex) giữa người đàn
ông và người đàn bà là những đặc điểm tự nhiên của cơ thể con người và
chức năng của nó là bẩm sinh và không thay đổi” [24;83]. “Giới mà chúng ta
xem xét ở đây là khái niệm khoa học ra đời từ môn nhân loại học, chỉ sự khác
biệt gữa nam và nữ về mặt xã hội”.
Từ đó, ta có thể hiểu về bình đẳng giới và đi đến kết luận: "Bình đẳng có
nghĩa là các em gái đƣợc đến trƣờng học nhƣ các em trai, là các cơ hội đƣợc
mở ra đối với phụ nữ, là các gia đình nghèo đƣợc hƣởng lợi từ các hỗ trợ
chăm sóc sức khỏe cho các bà mẹ... Bình đẳng cũng có nghĩa là phụ nữ hoàn
8
toàn có quyền tham gia vào các hoạt động chính trị và ra quyết định... Binh
fđẳng là một quyền con ngƣời đối với phụ nữ mà có thể cải thiện cuộc sống
cho tất cả mọi ngƣời... Bình đẳng góp phần chấm dứt nghèo nàn. Bình đẳng là
một ƣu tiên của công cuộc phát triển... là nền tảng của phát triển" (Liên Hợp
Quốc 2005) [4;20]. Những quan điểm về vấn đề bình đẳng giới đó, trƣớc sự
biến đổi hàng ngày, hàng giờ của nền kinh tế thị trƣờng mang tính toàn cầu
hóa, Nó đƣợc thể hiện khác nhau ở từng quốc gia, dân tộc, khu vực và cũng
có sự khác nhau giữa các tỉnh, thành trong cả nƣớc Việt Nam.
1.1.2. Bạo lực và bạo lực gia đình
*Bạo lực
Theo từ điển Tiếng Việt: “Bạo lực là một giai cấp (một nhóm chính trị
xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức và tước đoạt” [19;41].
Theo từ điển Chủ nghĩa Xã hội khoa học: “Bạo lực là một giai cấp (các
nhóm chính trị xã hội) nào đó áp dụng những hình thức cưỡng bức khác
nhau, kể cả sự tác động vũ trang đối với các giai cấp (các nhóm chính trị xã
hội) khác nhau nhằm mục đích giành lấy hoặc duy trì sự thống trị về kinh tế,
chính trị, những quyền hay đặc quyền khác nhau, đặc lợi” [22; 41].
đề này. Một bộ phận ngƣời dân vẫn thừa nhận bạo lực gia đình là cần thiết để
duy trì trật tự, ổn định trên dƣới. Họ cho rằng nhƣ thế mới giữ đƣợc nề nếp,
gia phong. Chính nhận thức đó đã tạo điều kiện cho bạo lực trong gia đình có
xu hƣớng gia tăng.
* Bạo lực gia đình
- Khái niệm: Có nhiều định nghĩa khác nhau về bạo lực gia đình:
Luật gia đình định nghĩa “Bạo lực trong gia đình” bao gồm những hành
vi hay các mối đe dọa của một ngƣời nhắm vào một thành viên khác trong gia
đình hoặc tài sản của họ.
Bạo lực gia đình là ngƣợc đãi bằng tình cảm, thể xác hay tình dục của
thành viên gia đình bằng một thành viên khác (J. hon J, Macionis, 2004).
10
Bạo lực gia đình là hành vi tấn công của một ngƣời (thƣờng là ngƣời đàn
ông) đối với ngƣời khác có quan hệ tình cảm với họ bằng cách dùng vũ lực
hoặc đe dọa dùng vũ lực để kiểm soát ngƣời khác (Domestic ViolenceMagazinen Violence in the family, Australia, 1996).
Bạo lực gia đình là những hành vi gây nên những tổn thƣơng về vật chất
hoặc tinh thần hoặc các thiệt hại về tài sản giữa các thành viên trong gia đình
(Luật đặc biệt về trừng phạt hành vi bạo lực gia đình của Hàn Quốc).
Bạo lực gia đình là hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc
có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác
trong gia đình (Luật phòng, chống bạo lực gia đình của Việt Nam).
Nhƣ vậy, bạo lực gia đình đối với phụ nữ: là bạo lực giữa nam giới và
phụ nữ, trong đó nạn nhân thƣờng là phụ nữ và nó bắt nguồn từ các mối quan
hệ bất bình đẳng giữa nam giới và phụ nữ.
- Đặc điểm
Tính xã hội của bạo lực gia đình không chỉ thể hiện ở sự phổ biến và bản
chất bất bình đẳng giữa phụ nữ và nam giới trong quan hệ gia đình và xã hội,
- Thứ tƣ, bạo lực kinh tế: là các hành động hoặc quyết tâm thực hiện các
hành động để phụ nữ phụ thuộc về tài chính, bao gồm: chiếm đoạt, hủy hoại,
đập phá hoặc có hành vi khác cố ý làm hƣ hỏng tài sản riêng của các thành
viên khác trong gia đình hoặc tài sản chung của các thành viên,…
- Thứ năm, Bạo lực thế hệ: là một hình thức bạo lực bao gồm nhiều thế
hệ nhƣ: chồng - vợ, bố - con, ông - cháu, cháu - bà,…bao gồm các hành vi
đánh đập, đe dọa, khiêu khích…hoặc hành hạ về mặt tinh thần…
- Thứ sáu, Bạo lực giới: đƣợc dùng để chỉ các hành vi chống lại phụ nữ
vì giới tính của họ. Sở dĩ chúng ta sử dụng từ “bạo lực giới” vì đa số nạn nhân
là phụ nữ và đa số ngƣời sử dụng bạo lực là nam giớigần gũi, thân thiết với
nạn nhân.
12
1.2 Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh và quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam
về bình đẳng giới
Nền tảng lí luận của quan niệm về bình đẳng giới xuất phát từ các nghiên
cứu của Mác và Ph.Ăngghen về gia đình và chế độ tƣ hữu trong thời kì tƣ bản
chủ nghĩa. Quan điểm của các ông không chỉ đánh giá một cách khác quan và
khoa học về những nguyên nhân dẫn đến sự lệ thuộc của ngƣời phụ nữ trong
gia đình và ngoài xã hội mà còn gợi ra những hƣớng đi căn bản để giải phóng
phụ nữ.
Trên cơ sở lí luận của các nhà kinh điển của chủ nghĩa Mác - Lênin, vấn
đề bình đẳng giới đã đƣợc Đảng ta coi trọng ngay từ những ngày đầu thành
lập. Luận cƣơng chính trị của Đảng Cộng sản Đông Dƣơng đƣợc thông qua
tại Hội nghị Trung ƣơng lần thứ nhất (tháng 10 năm 1930) đã nêu: nam nữ
bình quyền là một trong những nhiệm vụ của cách mạng Đông Dƣơng. Đảng
và nhà nƣớc ta cụ thể hoá đề ra nhiều chủ trƣơng, chính sách, chƣơng trình
tạo điều kiện để phụ nữ tham gia vào công tác xã hội. Nghị quyết số: 04NQ/TW, ngày 12/7/1993 của Bộ chính trị ban hành về “Đổi mới và tăng
lao động rất đông” [27;64].
Tƣ tƣởng Hồ Chí Minh về vấn đề bình đẳng giới không chỉ là những nội
dung lí luận quan trọng mà còn là những gợi ý cụ thể về các biện pháp nhằm
xây dựng các mối quan hệ bình đẳng giữa giới trong gia đình và xã hội. Các ý
kiến của Bác đặc biệt còn giữ nguyên giá trị đối với các vấn đề hôm nay về
quan niệm bình đẳng và con đƣờng đi tới bình đẳng. Bác cho rằng: “Nhiều
người lầm tưởng đó là một việc dễ, chỉ hôm nay anh nấu cơm, rửa bát, quét
nhà, hôm sau em quét nhà, nấu cơm, rửa bát thế là bình đẳng, bình quyền.
Lầm to! Đó là một cuộc cách mạng to và khó. Vì trọng trai, khinh gái là một
thói quen mấy nghìn năm để lại. Vì nó ăn sâu vào óc của mọi người, mọi gia
đình, mọi tầng lớp xã hội. Vì không dùng vũ lực mà đấu tranh được” [27;31].
Vậy đối tƣợng của cuộc đấu tranh này là gì? Bác nhấn mạnh: “...Giải
14
phóng người đàn bà đồng thời phải tiêu diệt tư tưởng phong kiến, tư tưởng tư
sản trong người đàn ông” [11;499]. Rõ ràng là, nếu các biện pháp tiến tới
bình đẳng nam nữ chỉ dừng lại hoặc chỉ tập trung vào việc giáo dục và động
viên giới nữ nói chung và từng nhóm phụ nữ nói riêng thì chƣa đủ. Mục tiêu
không kém phần quan trọng trọng cuộc đấu tranh này là thay đổi nhận thức,
khắc phục định kiến và tƣ tƣởng coi thƣờng phụ nữ ở nam giới.
Về phƣơng pháp đấu tranh nhằm giải phóng phụ nữ, thực hiện bình đẳng
giới, Bác chỉ rõ là không thể dùng vũ lực và lĩnh vực khó khăn nhất của sự
nghiệp này là phấn đấu đạt bình quyền, bình đẳng trong gia đình....
Nhƣ vậy, quan điểm của chủ tịch Hồ Chí Minh về bình đẳng giới thể
hiện một cách rõ ràng mục tiêu cần đạt cũng nhƣ phƣơng thức và biện pháp
cần có để thực hiện bình quyền và bình đẳng. Đây là một trong những nội
dung tƣ tƣởng Hồ Chí Minh cần đƣợc cán bộ Đảng viên và các cấp các ngành
nhận thức một cách đầy đủ và vận dụng một cách linh hoạt và sâu sắc hơn
2.1. Khái quát về tình hình tỉnh Vĩnh Phúc
Vĩnh Phúc - cửa ngõ Tây Bắc của Thủ đô Hà Nội, thuộc vùng Châu thổ
sông Hồng là một trong 8 tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm phía Bắc.
Phía Tây Bắc giáp tỉnh Tuyên Quang;
Phía Đông Bắc giáp tỉnh Thái Nguyên;
Phía Đông Nam giáp Thủ đô Hà Nội;
Phía Nam giáp tỉnh Hà Tây;
Phía Tây giáp tỉnh Phú Thọ.
Vĩnh Phúc nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung bình hàng
năm 24,20C, diện tích tự nhiên khoảng 1.371 km2, dân số gần 1, 2 triệu ngƣời.
Tỉnh có 152 xã, phƣờng, thị trấn thuộc 9 đơn vị hành chính gồm: thành phố
Vĩnh Yên (là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của tỉnh), thị xã Phúc Yên
và 7 huyện là Mê Linh, Bình Xuyên, Yên Lạc, Vĩnh Tƣờng, Tam Dƣơng,
Tam Đảo, Lập Thạch.
Trong những năm qua, thực hiện công cuộc đổi mới do Đảng và Nhà
nƣớc lãnh đạo, toàn tỉnh đã đạt đƣợc nhiều thành tựu quan trọng trên nhiều
lĩnh vực: kinh tế tăng trƣởng cao, các lĩnh vực văn hóa xã hội có nhiều
chuyển biến tích cực, an ninh chính trị đƣợc giữ vững, đời sống của nhân dân
nói chung, phụ nữ nói riêng đƣợc cải thiện và ngày càng đƣợc nâng cao cả về
vật chất lẫn tinh thần với những kết quả cụ thể (Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh
Phúc: Báo cáo: Tình hình kinh tế - xã hội năm 2013 và Kế hoạch phát triển
kinh tế - xã hội năm 2014):
Tình hình kinh tế:
Sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản năm 2013 vƣợt qua khó
khăn, tăng trƣởng khá so với năm 2012.
17
- Trong nông nghiệp: Vƣợt qua khó khăn tiếp tục phát triển và đạt nhiều
kết quả khá. Cơ cấu cây trồng, vật nuôi đƣợc chuyển đổi phù hợp với quy
Tình hình văn hóa - xã hội:
- Sự nghiệp giáo dục, khoa học công nghệ, văn hóa xã hội, y tế có bƣớc
chuyển biến đáng kể về quy mô và chất lƣợng đào tạo. Đầu tƣ cho giáo dục
đào tạo đƣợc chú trọng, quy mô giáo dục ngày càng đƣợc mở rộng, chất
lƣợng giáo dục ngày càng ổn định ở mức cao.
- Khoa học công nghệ - tài nguyên và môi trƣờng tiếp tục đƣợc quan
tâm, góp phần thiết thực phục vụ sản xuất và đời sống:
+ Các đề tài, dự án bƣớc đầu đã đổi mới theo hƣớng tập trung, lấy hiệu
quả thực tế làm tiêu chí đánh giá và tuyển chọn.
+Tiềm lực khoa học công nghệ bƣớc đầu đƣợc tập trung đầu tƣ vào các
lĩnh vực y tế, giáo dục, đào tạo nghề để nâng cao hiệu quả đầu tƣ.
+ UBND tỉnh chỉ đạo các cấp, các ngành tăng cƣờng quản lí nhà nƣớc về
đất đai trên địa bàn.
+ Công tác quản lý khai thác khoáng sản có nhiều chuyển biến tích cực.
+ Quản lí nhà nƣớc về bảo vệ môi trƣờng tiếp tục đƣợc chú trọng, việc
triển khai các chƣơng trình, dự án về môi trƣờng đƣợc đẩy mạnh ở cả khu vực
đô thị và gắn với việc xây dựng nông thôn mới.
- Hoạt động văn hóa - thể thao,phát thanh và truyền hình đƣợc duy trì, ổn
định và phát triển. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân và phòng chống
dịch bệnh đƣợc quan tâm thƣờng xuyên.
- Tuy nhiên, bên cạnh đó còn những vấn đề bức xúc mà xã hội chƣa ngăn
chặn kịp thời: giáo dục đào tạo còn hạn chế, đời sống một bộ phận nhân dân còn
khó khăn, kết quả giảm nghèo chƣa thật bền vững và có nguy cơ tái nghèo...
Vĩnh Phúc là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ, đang trên
đà chuyển dịch cơ cấu kinh tế và phấn đấu để trở thành tỉnh công nghiệp.
Chính vì vậy, đời sống vật chất và tinh thần của ngƣời dân Vĩnh Phúc ngày
càng đƣợc nâng cao. Tuy nhiên, Vĩnh Phúc vốn là một tỉnh thuần nông, chịu
ảnh hƣởng của tƣ tƣởng văn hóa Nho giáo, Phật giáo. Nên những tàn dƣ của
hệ tƣ tƣởng phong kiến vẫn còn tồn tại ở nhiều địa phƣơng, trong nhiều gia
19